Hiển thị các bài đăng có nhãn lang thang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lang thang. Hiển thị tất cả bài đăng

HỘI AN - TỪ TIẾP CẬN KCH ĐÔ THỊ (trích một báo cáo HTKH 2021)

Từ năm 1995, tại Hội thảo khoa học “Văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An” tôi có tham luận “Về những yếu tố Sa Huỳnh trong văn hóa Giồng Phệt”. “Dù mọi so sánh đều là khập khiễng nhưng không thể không nhận thấy trong giai đoạn tiền – sơ sử, vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Cần Giờ trong bối cảnh miền Đông Nam bộ đã có những nét tương đồng với Hội An trong bối cảnh vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, ít nhất ở ba điểm sau:

- Là hai khu vực có dấu tích văn hóa khảo cổ trên những vùng đất cao giữa một phức hệ sông chằng chịt vùng cửa biển: Hội An với sắc thái văn hóa cồn – bầu còn Cần Giờ là sắc thái văn hóa giồng trên vùng ngập mặn.
- Những di tích văn hóa khảo cổ ở Cần Giờ và Hội An phần nào thể hiện sự chuyển tiếp từ thời kỳ tiền – sơ sử lên thời kỳ lịch sử của vùng đất phía Nam của tổ quốc: Văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa và nước Champa; Văn hóa Giồng Phệt lên văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam. tất nhiên không chỉ/không phải đơn tuyến và đơn giản như vậy!
- Là những cảng thị cổ cho thấy mối quan hệ giao lưu rộng rãi và mạnh mẽ của hai khu vực này với nhiều nơi ở ĐNA và xa hơn... Đây là những yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển rực rỡ của văn hóa giồng Phệt và văn hóa Sa Huỳnh thời tiền sử, văn minh Óc Eo, văn minh Champa trong những thế kỷ về sau”.
Có thể coi đó là những đặc trưng của Hội An thời tiền – sơ sử, cách nay trên dưới hai ngàn năm. Từ đó và trên cơ sở đó, trong quá trình lịch sử về sau Hội An đã tạo dựng được bản sắc riêng mà không làm thay đổi những đặc trưng vốn có, phát triển nó trong bối cảnh xã hội mới, phản ánh toàn diện những mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa của Hội An – Xứ Quảng – Đàng trong với nhiều quốc gia.
Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII và suy giảm từ thế kỷ XIX. Mặc dù thời gian tồn tại không dài, quy mô của đô thị Hội An trong thời thịnh vượng không lớn, nhưng Hội An có vị trí và vai trò quan trọng, có đặc trưng lịch sử - văn hóa độc đáo. Cho đến nay, trong khi hầu hết các đô thị cổ khác trải qua những biến thiên của lịch sử và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên đã bị hư hỏng biến dạng, hoặc bị cải tạo xây mới theo kiểu hiện đại, chỉ sót lại vài di tích rời rạc, thì Hội An lại được bảo tồn khá nguyên vẹn. Chính vì vậy mà đô thị cổ Hội An được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới căn cứ vào hai tiêu chí:
*Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
*Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo .
Cùng với đó, Hội An còn như “bảo tàng sống” của một đô thị truyền thống, một không gian văn hóa phi vật thể hết sức phong phú và giá trị. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những lối sống nếp sống, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nghệ thuật dân gian, lễ hội truyền thống, tri thức dân gian phong phú và đa dạng. Tất cả sinh hoạt văn hóa cộng đồng được “Người Phố Hội” gìn giữ và lưu truyền tạo nên sức hấp dẫn lớn.
Như vậy từ điều kiện tự nhiên và quá trình lịch sử, Hội An đã phát triển các đặc trưng thời tiền - sơ sử thành ba đặc trưng cho Hội An ngày nay:
1/Đô thị - thương cảng cổ
2/Đô thị dung hợp nhiều nền văn hóa
3/Bảo tàng sống của đô thị truyền thống
Đó là ba “ADN văn hóa” cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau và là điều kiện cho nhau tồn tại. Nếu các ADN này biến mất hay biến dạng thì Hội An sẽ không còn là Hội An nữa, thành phố không còn những “tài nguyên văn hóa” là “lợi thế cạnh tranh” trong khu vực và quốc tế, đảm bảo cho phát triển bền vững.
Mỗi đô thị đều sở hữu những tài nguyên văn hóa riêng biệt, độc đáo, bao gồm di sản lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc địa danh. Chúng cũng bao gồm truyền thống địa phương và bản địa về cuộc sống cộng đồng, lễ hội, nghi thức, ngôn ngữ, ẩm thực, các hoạt động giải trí... hợp thành tài nguyên văn hóa của đô thị. Một trong những phương thức khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa và thúc đẩy chúng phát triển, đồng thời duy trì và “bảo tồn” những tài nguyên ấy là sáng tạo “sản phẩm văn hóa mới” từ “tài nguyên, nguyên liệu” vốn có của địa phương. Khi yếu tố sáng tạo được chú trọng trong việc sử dụng và phát huy tài nguyên văn hóa, nó sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn.
Hình: Thăm nhà văn Nguyên Ngọc. Hội An 7.1.2022





Vụn vặt đời thường

 @ "NGÀY DI SẢN"

Sáng có việc mới nhớ ra hôm nay là Ngày Di sản văn hóa VN (vì sao là ngày này thì hỏi bác Guc).

Bữa trước khi công bố thành lập Hội đồng di sản quốc gia, mình chúc mừng một người bạn có tên trong HĐ ấy và "nhờ vả": mong rằng HĐDSQG quan tâm nhiều hơn, thực chất hơn đến di sản đô thị, nhất là phía Nam vì trong HĐ ấy chỉ có 1 người ở Huế và 1 người ở TPHCM, khó có thể nắm hết tình hình bảo tồn di sản phía Nam, nơi đang phát triển đô thị hóa rất nhanh, quỹ di sản lâu nay đã hư hao nhiều.

Ngẫm ra, các cơ quan, ban ngành, hội đoàn... liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa không ít, trong đó nhiều người từng là quan chức, là nhà nghiên cứu... Nhưng những tiếng nói bảo vệ di sản trên công luận và với chính quyền vẫn còn ít ỏi.

Với mình, cứ cái gì hay nghề nào có một "ngày" là cái ấy nghề ấy... rất có vấn đề! Đặc biệt từ 10 năm nay mình "xông vào" lĩnh vực bảo tồn di sản đô thị thì ngày nào cũng phải nói đến chuyện di sản!

 Vài năm rồi, cứ vào dịp này hân là có mấy bạn nhà báo muốn phỏng vấn hay làm talkshow, mình từ chối, vì "nói mãi vẫn là thực trạng ấy, đề xuất giải pháp ấy, vẫn những mong muốn hy vọng như thế. Nói mãi, không khéo người ta bảo mình ham hố lên TV, rằng về hưu rồi nói ai nghe!"

Thôi cứ làm được gì thì làm, thỉnh thoảng có một ngày không phải để cờ quạt họp hành kỷ niệm mà để nhìn lại công việc và tâm huyết của mình, cũng hay 🙂

23.11.2020

@ HỌC TRÒ CŨ
Mỗi lần lên dạy ở đại học Đà Lạt lại gặp nhiều học trò cũ bây giờ là giảng viên của trường, có cậu còn làm chức gì to lắm, có xe hơi riêng (điều mà cô đang mơ nhưng chưa có 🙂 . Học trò hay mời cô đi ăn hút, à quên, ăn hát (đi ăn nhà hàng xong đi hát karaoke), nhưng cô thì dạy cả ngày hết cả hơi, vả lại cũng ko muốn học trò cứ vất vả vì tiếp đón mình nên thi thoảng mới cùng đi. Học trò cứ trách, còn cô rất hiểu tình cảm trò nên cũng thân tình "mắng mỏ": cứ lo đón tiếp các thầy cô thỉnh giảng thì có mà quanh năm suốt tháng... (nói vậy chứ cô biết, học trò nào mời mình thật tình, học trò nào… mời lơi thế thôi...)
Có lần đi ăn cơm bụi với một cậu học trò mà cô làm giáo viên chủ nhiệm từ cách đây... lâu lắm rồi. Nhớ lại hồi xưa cậu này là lớp trưởng, rất nhanh nhẹn. Học môn khảo cổ xong cô đưa cả lớp đi thực tập, lớp trưởng giúp cô được bao nhiêu việc. Từ việc lo nơi ăn ở đến việc phân công từng nhóm người nào việc nấy. Lúc ấy cô mới ra trường còn trẻ măng tre nứa luôn... hay bị mấy sinh viên già trong lớp (là cán bộ, bộ đội đi học) suốt ngày hát trêu: cô giáo em tre trẻ... cô ơi cô chúng cháu yêu cô lắm... Cậu lớp trưởng này oai phết, lừ mắt là mấy sinh viên già im phắt, hehe...
Cái lớp này có nhiều kỷ niệm với cô. Có một chuyện vui miệng kể với mẹ cu Măng mà lần nào gặp nhau bạn í cũng nhắc lại “…Tớ nhớ đến đám học trò của chị Hậu. Chúng nó cắc cớ hỏi cô là sao Trọng Thuỷ không chọn cách chết nào khác mà lại đâm đầu xuống giếng. Cô Hậu rất chi là đứng đắn và khoa học mới bẩu rằng thế nó mới là Trọng Thuỷ, chứ nhảy vào lửa mà chết thì đã tên là Trọng Hoả, hay đâm đầu vào tường mà chết thì thành Trọng Thổ rồi còn đâu!" 😃
Còn chưa kể cho bạn Măng nghe hết, ngày ấy cô Hậu còn bảo: Nếu nó đâm đầu vào đường xe lửa (bây giờ chạy qua Cổ Loa) thì nó sẽ tên là Trọng Kim, sau này hóa kiếp thành Kim Trọng trong truyện Kiều 😃 Tất nhiên là đùa thôi nhưng chuyện này học trò cứ nhớ mãi, gặp cô lần nào cũng nhắc, vui ghê...
Năm nay lên Đà Lạt vào cuối năm, học trò tổ chức sinh nhật cho cô bằng một bữa karaoke hoành tráng có hoa có nến và có cả một chiếc bánh kem to đùng với hình chó Đốm (Hi, đúng ra là phải chó Mực thì mới đúng vía cô!!!). Cô làm “người mẫu tạo dáng” đủ kiểu, chụp hình lia lịa. Sau đó cô ra HN họp thì nhận được tin nhắn: Em đi nhậu về xỉn quá làm mất máy ảnh rồi cô ơi, mất cả hình “tư liệu” sinh nhật cô nữa, huhuhu...
Huhuhu thật, may là máy chụp hình bằng thẻ chứ máy chụp bằng phim không khéo cô lại nghĩ: cậu này xạo, hay là nó chụp cho mình bằng máy không có phim 🙂
Nhớ mãi dãy nhà khách cho giảng viên thỉnh giảng ở bên trái ngay cổng vào. Mỗi khi lên dạy mình hay ở đây. Có khi cả khu nhà chỉ có mỗi mình. Đêm vắng, lạnh, trùm chăn ngủ mà vẫn sợ vì xung quanh... im lặng quá 😃

(20.11)
Trên thành cổ BUDA - thủ đô BUDAPEST - HUNGARY, 2010 - mười năm trước!


 

QUÁ KHỨ HIỆN HỮU MỖI NGÀY TA ĐANG SỐNG




 Câu chuyện về thành phố từ bảo tàng

Bảo tàng –  thiết chế văn hóa phổ biến và quen thuộc trên khắp thế giới có nhiều loại hình, nhiều quy mô và chủ đề, phong cách khác nhau. Trong thời đại mà du lịch là ngành kinh tế - văn hóa đang và sẽ rất phát triển thì bảo tàng tại các thành phố là những điểm đến quan trọng, không thể thiếu trong đời sống văn hóa đô thị.
Tham gia chương trình nghiên cứu về bảo tồn di sản văn hóa đô thị tôi có dịp đến một số thành phố “di sản thế giới” ở châu Âu. Tại đây cảnh quan đô thị và những công trình kiến trúc thời trung cổ còn được bảo tồn rất tốt, trở thành “sản phẩm văn hóa” chủ yếu, cùng với dịch vụ du lịch tạo nên ngành kinh tế chính của những thành phố này. Đồng thời hệ thống bảo tàng theo nhiều chủ đề cũng tạo nên sự khác biệt, trong đó Bảo tàng lịch sử của các thành phố luôn giữ vai trò chính yếu.
Bruges là thành phố lớn của Vương quốc Bỉ. Khu vực trung tâm thành phố từ lâu đã được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Thành phố có rất nhiều bảo tàng nằm trên những đường phố cổ. Tại quảng trường trung tâm là Bảo tàng lịch sử (Historium Brugge – theo tiếng Hà Lan). Tòa nhà bảo tàng là công trình cổ còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc và cả những cấu kiện bằng gỗ bên trong. Nhờ việc bảo tồn và đầu tư trưng bày hiện đại nên bảo tàng rất hấp dẫn và để lại nhiều ấn tượng khó quên cho du khách.
Từ thế kỷ thứ 9 thành phố Bruges là một phần của hệ thống phòng thủ chống lại sự xâm lược của người Bắc Âu. Vì vị trí gần biển Bắc, Bruges dần dần trở thành một thương cảng quan trọng và giao lưu với nhiều nơi khác ở châu Âu. Với tiềm năng tài chính hùng mạnh Bruges phát triển mạnh nhất từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 15 và chính trong thời kỳ này đã xuất hiện những công trình kiến trúc đồ sộ và đẹp nhất. Trong vòng vài trăm năm thời Trung cổ và Phục hưng, Bruges là một trong những trung tâm kinh tế và nghệ thuật lớn nhất châu Âu.
Tại bảo tàng, lịch sử thành phố đã được lồng vào câu chuyện tình yêu của một phụ nữ quyền quý với chàng họa sĩ nghèo. Hình ảnh  người phụ nữ rất đẹp với chiếc áo choàng đỏ trở thành một biểu tượng của thành phố. Có thể nói sự hấp dẫn của bảo tàng là ở đây bởi nó tạo ra sự khác biệt của lịch sử Bruges với những thành phố thời trung cổ hiện diện khắp Châu Âu và nhiều nơi khác.
Du khách tham quan từng tốp nhỏ tối đa 15 người và đi theo sự hướng dẫn qua hệ thống audio (có thể lựa chọn nhiều ngôn ngữ khác nhau) để lần lượt xem hết các phần trưng bày trong khoảng 60 phút. Dựa vào cấu trúc ngôi nhà bảo tàng, mỗi phần trưng bày là một gian khép kín tạo nên sự chú ý cao của du khách, đồng thời mỗi người được  “tương tác” thông qua phương tiện visual studio: phim ảnh, âm nhạc, tiếng động và cả mùi vị… Bằng các giác quan du khách “trải nghiệm” lịch sử cũng như những sinh hoạt hàng ngày của Bruges ở thế kỷ 15 – thời kỳ thịnh trị của Bruges, tham gia chứng kiến câu chuyện của các nhân vật.. . Đây là sự chọn lựa khôn khéo và chính xác của bảo tàng về “thời điểm, sự kiện” điển hình để xây dựng kịch bản trưng bày câu chuyện về thành phố.
Vị trí của bảo tàng lịch sử Bruges cũng là một sự hấp dẫn đối với du khách, bởi vì cuối phần trưng bày tuyến tham quan sẽ dẫn  du khách ra sân thượng của bảo tàng. Từ đây toàn bộ quảng trường trung tâm và các khu phố cổ liền kề hiện ra dưới tầm mắt. Lịch sử “trong bảo tàng” và hiện thực đan xen vào nhau tạo nên những ấn tượng rất sâu sắc.
Cũng như nhiều bảo tàng khác, tại đây có nơi bán đồ lưu niệm mà phần lớn là sách vở, tranh ảnh về bảo tàng. Những sản phẩm lưu niệm khác cũng mang dấu ấn riêng của thành phố Bruges mà không nơi nào có nên du khách ai cũng muốn mua một món đồ lưu niệm. Phòng cà phê và ăn nhẹ cũng trang trí những bức họa nổi tiếng, tạo không khí thư giãn mà vẫn có thể hấp dẫn bởi sự mới lạ. Nguồn thu từ những dịch vụ này rất đáng kể bên cạnh tiền vé vào xem bảo tàng.
Mỗi thành phố đều để lại những dấu ấn lịch sử của mình bằng những di tích lịch sử văn hóa, trong lòng đất và trên mặt đất. Tuy nhiên cộng đồng cư dân và du khách không phải lúc nào cũng có điều kiện và đủ thời gian để có thể tham quan tìm hiểu tất cả những di tích đó, chưa kể nhiều dấu ấn cổ xưa đã biến mất theo thời gian và do những biến cố xã hội. Vì vậy bảo tàng lịch sử thành phố là “giải pháp tối ưu” để mọi người có thể tìm hiểu về lịch sử và văn hóa và những nét độc đáo của thành phố một cách đầy đủ nhất trong thời gian ngắn nhất.
Tiếc rằng khi tìm kiếm trên Google thì những website và tour du lịch giới thiệu về Bruges bằng tiếng Việt không giới thiệu Historical Museum mà thường chỉ có các bảo tàng Sôcôla,  bảo tàng Khoai tây và bảo tàng Kim cương (trong số hàng chục bảo tàng ở đây). Có lẽ vì những bảo tàng này có thể kết hợp shopping – một thói quen và nhu cầu phổ biến của nhiều du khách Việt. Trong khi đó việc tham quan  bảo tàng lịch sử để hiểu biết về nơi mình đến thì hầu như các tour đều bỏ qua. Tôi đã đến khá nhiều bảo tàng lịch sử của những thành phố du lịch nổi tiếng nhưng hầu như rất ít gặp du khách Việt, nếu có chỉ là vài sinh viên du học hoặc người nghiên cứu.  Có lẽ nào người Việt đi du lịch chỉ mang về quà cáp hàng hóa mà không quan tâm đến những câu chuyện về lịch sử - văn hóa của các di sản thế giới để bổi bổ cho sự hiểu biết và tri thức, ngoài những tấm hình selfie chụp vội tại di tích (và do mải chụp hình nên hầu như cũng chẳng nghe được những gì hướng dẫn viên đang thuyết minh).
Ở Việt Nam nếu chỉ đầu tư bảo tồn các khu phố cổ, di tích cổ nhưng không có hệ thống bảo tàng hỗ trợ thì không tạo được đặc trưng riêng biệt. Những bảo tàng khảo cổ hay lịch sử, ẩm thực hay trang phục… của từng thành phố sẽ tạo nên sự khác biệt, đa dạng và sức hấp dẫn lâu dài. Với thời gian bảo tàng trở thành di sản văn hóa do nhiều thế hệ xây dựng và phát triển.
2.    Một nửa sự thật
 “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Cứ mỗi chuyến đi lại càng thấm thía sự đúc kết của ông bà mình.
Do thói quen nghề nghiệp (trước đây)  nên đi đâu tôi cũng chú ý đến bảo tàng. Nhiều lần  tham quan các bảo tàng  lịch sử,  văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì  vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó  lịch sử được phản ánh toàn diện hơn.

Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…),  tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí  hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu;  các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch… Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động  của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc chống chiến tranh đồng nghĩa với việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình.

Ở thủ đô Budapest của Hungaria có một bảo tàng về “Thời vừa qua” mang tên “Nhà khủng bố”, tọa lạc ngay trên đại lộ chính của thành phố. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”…
Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này chỉ mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất. Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” chỉ mang lại sự hận thù quá khứ thì nguy cơ sẽ đưa đến sự thù hận trong tương lai.

3.    Những thành phố vì con người

Mùa hè vài năm gần đây tôi thường tham dự những cuộc hội thảo thú vị, được tổ chức ở một số thành phố lớn như Toulouse “thành phố hồng”, Berlin, qua Prague “thành phố tình yêu” Budapest “Hòn ngọc bên sông Danube”, rồi đến Warsaw – thành phố hồi sinh từ đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ hai. Và trong những chuyến đi ấy điểm dừng lâu nhất của tôi bao giờ cũng là Paris – thành phố tôi yêu từ thời thơ ấu và ở đó tôi có những người bạn thân quý.
Mỗi nơi tôi chỉ lưu lại có vài ngày để tham quan một cách vội vã nhưng những “thành phố di sản văn hóa” đã để lại cho tôi ấn tượng khó quên, bởi sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống “cổ tích” từ di tích và bảo tàng hiện diện mỗi ngày.

Những thành phố này là thủ đô hoặc đô thị lớn từ thời trung cổ, vì vậy hệ thống thành cổ, cung điện lâu đài, công trình công cộng được xây dựng trong thời gian dài vài thế kỷ đã được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ (hay những lâu đài lớn của một dòng họ quý tộc) thường xây dựng trên đồi hay sườn núi để bao quát toàn bộ khu vực và phòng vệ quân sự. Cấu trúc gồm tường thành cao, dày, xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm… xung quanh là khu phố buôn bán và những dịch vụ cho sinh hoạt. Bên ngoài thành có một dòng sông, là đường giao thông và “tuyến phòng ngự” khi có sự cố, nhưng nhờ vậy mà phong cảnh bốn mùa đều nên thơ.

Trải qua hàng trăm năm nên trong nhiều tòa thành cổ có di tích đã hoặc đang được khảo cổ học khai quật. Thành cổ Buda ở Budapest khu vực khai quật liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất… Công trường đang khai quật thì có mái che bên trên bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong hầu hết được bảo tồn tất cả các lớp kiến trúc làm bằng chứng cho từng giai đoạn xây dựng vào những niên đại khác nhau. Bảo tồn được như vậy vì vật liệu xây dựng hầu hết bằng gạch, đá, trải qua vài trăm năm trong điều kiện khí hậu không ẩm ướt nên vẫn còn chắc chắn. Hiện vật tìm thấy trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài. Khu di tích nào cũng có một mô hình đúc bằng đồng đặt gần lối ra vào, thể hiện toàn bộ khu lâu đài, thành cổ, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể qua các công trình kiến trúc còn nguyên và phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, mặc dù có thể làm được điều đó vì tài liệu, hình ảnh và tư liệu khoa học còn lưu lại đầy đủ. Riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt: chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến cả thành phố thành đống đổ nát hoang tàn trong đó có tòa thành cổ xây dựng từ thế kỷ 12 và tồn tại đến thế kỷ 20. Sau năm 1945 Ba Lan đã phục dựng lại thành phố Warsaw – khu phố cổ và tòa thành cổ - như tình trạng trước chiến tranh. Các công trình đều xây bằng gạch – vật liệu đặc trưng của kiến trúc cổ của ba Lan, gạch mới được nghiên cứu phục chế gần như không khác biệt với gạch cũ, có lẽ nhờ thời tiết không nóng ẩm nên ít bị rêu mốc và các loài thực vật gây hại.

Trong các thành phố, tại khu phố cổ hay ở trung tâm, trên đường phố hẹp hay quảng trường rộng lớn, cả những “rãnh thoát nước” hình lòng máng xưa cũ vẫn giữ nguyên vật liệu lát đường là những viên đá nhỏ, đan xen thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc… vừa đẹp vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Nếu làm lại những con đường quảng trường này bằng vật liệu mới thì ngoài chuyện rất tốn kém, nó còn làm giảm giá trị của cảnh quan cổ xưa – chính là giá trị cần gìn giữ và được du khách tìm đến chiêm ngưỡng.

Mùa hè là mùa du lịch cao điểm ở châu Âu, những thành phố tôi đến lúc nào cũng đông đúc nhưng không lộn xộn hay gây cảm giác bất an. Cũng là quần thể di tích thành cổ, phố cổ nhưng mỗi nơi có những hình thức tham quan khác nhau nhằm đáp ứng nhiều nhu cầu, điều kiện của du khách: Tham quan tòan bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần, tham quan hầm mộ trong lâu đài hay nơi có liên quan đến một nhân vật nổi tiếng, hay tổ chức sinh hoạt đặc biệt như Nhà thờ “con gà” quảng trường trung tâm thủ đô Prague chẳng hạn, cứ mỗi giờ là du khách tập trung rất đông, ngước nhìn lên tháp đồng hồ để ngắm chú Gà bằng vàng và những vị Thánh xuất hiện lần lượt sau ô cửa nhỏ, rồi tiếng kèn báo hiệu thời khắc vang lên…

Thú vị nhất là Dinh Tổng thống trong các tòa thành cổ cũng là điểm tham quan của du khách. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của Tổng thống Hungary, có Đội danh dự duyệt binh. Du khách vẫn đứng trong sân của Dinh Tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự. Dinh Tổng thống Cộng hòa Sec cũng vậy, ngày vài lần du khách tụ tập vào thời điểm đổi phiên gác để chiêm ngưỡng đội danh dự bước đi trong trang phục rất đẹp mắt. Hay Tòa thị chính Paris trở thành “bảo tàng” đón du khách vào một số ngày trong mùa hè... Có rất nhiều di tích được tham quan miễn phí, nhất là nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động.

Không chỉ di tích thời trung cổ được trân trọng gìn giữ mà cả những tượng đài và di tích chiến tranh thế giới thứ hai, một số bảo tàng về “thời kỳ quốc xã” hay “thời kỳ cộng sản” được xây dựng. Tại Berlin có khu tưởng niệm người Do Thái, trên nhiều đường phố có những tấm biển đồng nho nhỏ đóng ở vỉa hè trước những ngôi nhà đã có người bị bắt và chết trong trại tập trung thời Hitler... Tại Warsaw có Bảo tàng về người Do Thái, Bảo tàng sự kiện Katyn... Budapest có bảo tàng “Nhà khủng bố”... Con người được “can dự” vào lịch sử bằng sự thật chứ không phải là những huyền thoại, vì thế nhận thức và hiểu biết quá khứ không chỉ là những ý nghĩa to lớn mà còn là những câu chuyện đời thường, đau thương và mất mát của từng số phận. Tất cả, dù ghi dấu ấn chiến thắng hay gợi nhớ tội ác của một chính thể đều thuộc về Lịch sử.

Quan sát “cuộc sống” của hệ thống di sản văn hóa tại các thành phố này, có thể nhận thấy giữa bảo tồn và bảo tàng không hề tách rời: bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, những “bảo tàng mở’ mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú hấp dẫn nhất. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị.

Cũng cần nói thêm, việc trùng tu di tích thường xuyên được tiến hành nhất là vào mùa hè thời tiết thuận lợi. Nơi nào cũng có di tích đang được trùng tu một cách khoa học, cẩn trọng nhưng vẫn có thể phục vụ du khách. Có những di tích trùng tu kéo dài nhiều năm do quy mô lớn và thực hiện nhiều công đoạn rất tỉ mỉ.
Tôi đã nhận được nhiều kinh nghiệm từ việc bảo tồn và “phát huy giá trị” di sản văn hóa của những thành phố này. Họ cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của “đô thị hóa, hiện đại hóa” sau chiến tranh và trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng họ gìn giữ trân trọng di sản văn hóa trước hết là cho đất nước mình, và sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”, di sản trở thành của thế giới. Họ đã thành công từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Bạn bè hỏi tôi có cảm nhận thế nào khi ngắm nhìn những công trình di sản văn hóa hiện hữu trong thành phố đang phát triển? Và tôi, không tránh khỏi tâm trạng ngậm ngùi khi luôn phải đặt ra một câu hỏi day dứt: vì sao người ta gìn giữ và làm giàu được từ di sản văn hóa, còn chúng ta thì để tình trạng phá hoại di sản diễn ra triền miên và ngày một trầm trọng? Vì sao?

 Tùy bút. Nguyễn Thị Hậu







LANG THANG NHỮNG HÈ ĐÃ QUA


Những ngôi nhà thờ nước Nga

Trong những tác phẩm văn học Nga làm tôi say mê từ khi còn nhỏ xíu hầu như ít có những trang miêu tả nhà thờ. Ấn tượng của tôi về nhà thờ Nga là cảnh chàng sinh viên Nekhliudop gặp cô hầu Cachiusa ngây thơ xinh xắn trong nhà thờ vào ngày Lễ Phục sinh. Nụ hôn “Chúa sống lại rồi” mở đầu cho chuyện tình của họ. Thời gian trôi qua, chàng NêKhliuđốp đã bỏ rơi Cachiusa tội nghiệp, đẩy cô vào kiếp sống long đong, vất vả và tù tội. Một lần, vô tình gặp lại người yêu cũ, trước tình cảnh của Cachiusa, chàng đã dằn vặt, đấu tranh tư tưởng và quyết định sẽ thay đổi cách sống. Chàng quan tâm giúp đỡ đến mọi người, hết lòng bù đắp cho Cachiusa. Và cuối cùng, tình yêu của họ đã được phục sinh. Nhà thờ là nơi mở ra hy vọng, cũng là nơi đền đáp những mất mát, tôi đã cảm nhận Phục Sinh của Lep Tonxtoi như thế.

Nhưng với tôi ấn tượng về nhà thờ Nga mạnh mẽ hơn là từ những bức tranh của những danh họa Nga, phần nhiều là nhà thờ ở thôn quê với tháp chuông và mái vòm tròn nổi bật trên nền trời xanh đắm đuối mùa thu hay trên nền tuyết trắng mênh mông của mùa đông nước Nga. Mái vòm nhà thờ như dấu ấn cuối cùng của quê hương khi người ta từ giã để ra đi, cũng như cái đích để người ta tìm về sau những hành trình gian nan mỏi mệt. Cũng giống làng quê Việt, đi xa về chỉ cần nhìn thấy mái đình, cây đa hay cổng làng rêu phong thì lòng người đã lắng lại, bình yên.
Mười ngày ở nước Nga tôi đã đi qua và thăm thú biết bao ngôi nhà thờ, từ những nhà thờ nổi tiếng về lịch sử và vĩ đại về kiến trúc và trang trí ở hai thành phố lớn Saint Peterburg và Moskva đến những ngôi nhà thờ nhỏ nhắn bình dị bằng gỗ ở làng quê, nơi đâu tôi cũng nhìn thấy người dân Nga đến thăm viếng và làm lễ với thái độ thành kính, từ già đến trẻ, nam và nữ. Những chiếc khăn san choàng lên mái tóc các cô gái, những người đàn bà Nga như dấu hiệu của sự “phục sinh” niềm tin vào Chúa – niềm tin tưởng như đã không còn tồn tại qua hơn 70 năm chế độ Xô viết chủ trương vô thần.

Từ góc độ nghề nghiệp đi đến đâu tôi cũng nhìn thấy những nhà thờ, tu viện đang trùng tu, sửa chữa và cả xây mới. Nhiều nhà thờ có niên đại khoảng thế kỷ 11,12 đã được xây dựng lại theo hình thức cũ, không quá to lớn nhưng tinh tế và duyên dáng với hai màu xanh trắng. Một số nhà thờ từng là những trung tâm của Chính thống giáo Nga ở các thành phố lớn cũng được phục dựng lại theo nguyên bản, trong đó công trình vĩ đại nhất có thể kể đến là Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ (tiếng Nga: Хра́м Христа́ Спаси́теля).
Đây là nhà thờ được coi là trung tâm của Giáo Hội Chính Thống Nga, quy mô cao nhất và lớn nhất trên thế giới, tọa lạc ở thủ đô Moskva bên bờ sông Moskva. Nhà thờ ban đầu được xây dựng vào năm 1883, bị phá hủy năm 1931 dưới thời Stalin và xây dựng lại một cách trung thực theo bản mẫu cũ trong giai đoạn 1994 - 2000. Những ngày ở đây nhiều lần đi qua nhà thờ này, nhưng chỉ khi được cô em thân thiết đưa đến tận nơi tôi mới cảm nhận hết sự giá trị của nó. Không chỉ vì nhà thờ được xây dựng lại theo đúng thiết kế ban đầu vào thế kỷ 19, không chỉ vì sự vĩ đại càng được tôn lên bởi màu trắng của hàng trăm khối đá cẩm thạch lấp lánh trong ánh đèn đêm hay sáng rực trong ánh mặt trời, mà vì, như tôi đọc từ những bản thuyết minh trong nhà thờ, nó được phục dựng chỉ trong sáu năm sau khi vào năm 1990 Giáo hội Chính thống Nga nhận được sự cho phép để xây dựng lại Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ. Một quỹ xây dựng được thành lập trong năm 1992 , việc xây dựng nhà thờ bắt đầu vào năm 1994 và hoàn tất năm 2000. Chỉ có sáu năm và từ nguồn quỹ của xã hội! Và ở khắp nước Nga không chỉ có một ngôi nhà thờ, một tu viện được phục hồi bằng phương thức này.

Những ngôi nhà thờ cổ xưa hoặc nhà thờ trung tâm đều là những điểm du lịch thu hút rất đông khách tham quan, tìm hiểu. Nhiều nhà thờ trong quá trình trùng tu đã tìm thấy di tích khảo cổ và tiến hành bảo tồn ngay tại chỗ, trở thành một bộ phận di sản và làm tăng giá trị văn hóa – lịch sử của nhà thờ. Có thể nhận thấy nhà thờ ở nước Nga không chỉ là trung tâm tôn giáo, nó còn tiêu biểu cho kiến trúc và kỹ thuật xây dựng nhà thờ Chính thống giáo, là những bảo tàng nghệ thuật tranh tượng, là dấu ấn lịch sử lâu dài cùng những biến động có ảnh hưởng không nhỏ đến thế giới hiện đại. Vậy nên chỉ sau vài năm bắt đầu thể chế mới, chính quyền Nga đã cho phục hồi Chính thống giáo và xây dựng lại nhiều nhà thờ bị phá hủy trước đó. Có thể đây là một hành xử chính trị khôn ngoan nhằm tạo dựng lại cho dân chúng một niềm tin, nhưng trên hết người ta đã hành xử đúng với một bộ phận quan trọng, độc đáo và vĩ đại của của nền văn hóa Nga.
Niềm tin được khởi đầu và duy trì từ những giá trị văn hóa bao giờ cũng bền chặt hơn từ những thần tượng chính trị nhất thời.

2. Sức sống của cát
Sa mạc gợi cho người ta hình ảnh của một thế giới không có sự sống. Chỉ còn sự im lặng ngàn đời của cát và những cơn cuồng phong của gió trước sự im lặng chết chóc ấy.
Trên chuyến bay từ Hồng Kông đến Dubai, khi màn hình chuyển từ màu xanh bất tận của mặt đất, của đại dương sang màu nâu vàng bợt bạt cũng bất tận như thế, tôi biết mình đang đi vào thế giới sa mạc, thế giới của ánh nắng chói chang, của cái nóng bỏng da rát thịt, của những bóng áo choàng trắng và đen dài phủ gót chân, thế giới của những khăn trùm đầu và những đôi mắt đẹp tuyệt trần, đôi mắt từ nghìn lẻ một đêm xa xưa sống lại.

Dubai là một thành phố đồng thời cũng là một trong bảy tiểu quốc của Các tiểu Vương quốc ARập thống nhất . Cùng với tiểu quốc – thủ đô Abu Dhabi, Dubai là một trong hai nước thịnh vượng và phát triển nhất. Khởi đầu một cách khiêm tốn và lặng lẽ từ nửa sau thế kỷ 20, thành phố đã trải qua một sự biến đổi đáng kinh ngạc để có những kỳ quan ngày hôm nay. Một đất nước nổi tiếng với nhiều kỷ lục như đảo nhân tạo lớn nhất, trung tâm thương mại lớn nhất, khách sạn 7 sao sang trọng nhất hay tòa nhà cao nhất thế giới. Có thể nói Dubai là thành phố của những điều kỳ diệu nhất mà con người có thể xây dựng nên từ cát.

Cuối tháng tám không còn là thời gian cao điểm của nắng nóng nhưng nhiệt độ ngoài trời thường vào khoảng 40 độ C, bước chân ra đường không thể không choàng  khăn hay đội mũ, vậy mà mặt vẫn rát lên vì hơi nóng phả vào.  Có khăn choàng che kín mặt thật là lợi hại,  nhưng nếu không mang kiếng mát thì bị chói mắt vì ánh nắng gay gắt của mặt trời và sự phản chiếu từ cát. Vậy mà những người phụ nữ ở đây ít khi mang kiếng mát, phải chăng vì luôn chống chọi với cái nắng như vậy mà họ có cặp mắt sâu và hàng mi dài rợp hút hồn người ta như thế. Thực ra  đàn ông ở đây cũng có đôi mắt rất đẹp. Nhưng có lẽ vì không bịt mặt nên người ta thường có ấn tượng hơn với bộ râu quai nón rất “đàn ông” của họ.

Dubai có đến vài trăm ngôi nhà cao tầng giữa mênh mông cát và một phần  sát bờ biển. Tuy nhiên ta không thấy thành phố nặng nề thô kệch hay chật chội là nhờ hầu hết những tòa nhà đều có màu xanh biển, xanh lá cây của những tấm kính  hoặc màu cát (vàng nâu nhạt  hay trắng  xám), điểm những đường viền trang trí  màu trắng (màu của thánh đường Hồi giáo) làm cho tất cả các công trình trở nên nhẹ nhõm và duyên dáng. Hơn nữa không có tòa nhà nào kiến trúc  giống nhau, từ những khách sạn hay công sở cao vài chục đến vài trăm tầng hình thức rất hiện đại; đến những khu chung cư cho dân nghèo hay villa của người giàu có chỉ  một trệt một lầu kiến trúc truyền thống  với tháp cao đón gió và những đường trang trí kiểu mái vòm…
Cả Dubai như một công trường xây dựng khổng lồ, nơi nào cũng có những công trình đang xây, đang hoàn thiện. Giữa những toà nhà là cát, khu đất sắp xây dựng cũng là cát, rồi cát đổ ra lấn biển làm đảo nhân tạo… Vậy mà thành phố chỉ có nắng nóng chứ không bụi bặm. Và đây đó vẫn có những mảng xanh dù nho nhỏ nhưng cũng làm dịu đôi mắt trong chốc lát.

Trên những con đường  trong thành phố thậm chí cả trên xa lộ từ Dubai đến Abu Dhabi người ta trồng cọ hoặc chà là như cây xanh đô thị.  Người ta trồng chúng trong khuôn viên nhà, khách sạn… như là cây kiểng sân vườn, dù hai loại cây sống được ở xứ cát này lá của chúng không xanh  mà gần như màu của cát. Những thảm cỏ nho nhỏ, những bụi cây thấp là màu xanh hiếm hoi còn lại của thành phố, tuy ít ỏi nhưng nó làm nên sự sống của cát. Thật ra sự sống của màu xanh nằm ở phía dưới, trên nền cát dưới lớp đất mỏng là những đường ống nước nhỏ như ngón tay, tưới nhỏ giọt làm cho đất luôn ẩm đủ cho cây cỏ sống giữa nắng sa mạc. Nhìn màu xanh ở đây mới thấy quý từng giọt nước.

Dubai có cả một con sông đào nhân tạo chảy giữa thành phố, nước xanh trong nhưng lờ lợ mặn. Hai bên nhà xây sát bờ sông. Cũng có tàu du lịch đưa khách đi từng đoạn ngắm hai bên bờ, rồi ghé vào khu chợ Gia Vị không chỉ có gia vị mà còn bánh kẹo, chà là, đồ lưu niệm… Kế đó là Chợ Vàng nổi tiếng với bốn dãy phố quanh một Trung tâm cao bảy tầng lầu rực rỡ chói lòa những đồ trang sức bằng vàng y và đá quý cho những người khách như tôi thỏa sức… ngắm nhìn.
Khách sạn độc đáo hình Cánh Buồm được xây trên một hòn đảo nhân tạo cách xa bờ biển, nhưng rồi cát lại lấn biển để mọc thêm nhiều công trình khác nên bây giờ trông khách sạn như ngay trên bãi biển. Nói đến công trình lấn biển thì phải kể đến quần đảo Cây Cọ nổi tiếng.  Đi trên con đường chính hay những đường nhánh không ai nghĩ đây là quần đảo nhân tạo càng không nghĩ diện tích nhỏ, bởi chen giữa những công trình to lớn “hoành tráng” là sự thoáng đãng của màu xanh cây cỏ trên nền xanh của biển. Tại đây nhiều công trình cũng đang tiếp tục xây dựng nhưng cả quần đảo được quy hoạch rất đẹp.

Nhiều người đã nhập cư đến đây lao động trên những công trường xây dựng hay trong các khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại nhiều như sao trên trời. Các công ty lớn của thế giới đặt tại đây cũng thu hút nhiều nhân tài. Bên cạnh những bóng áo choàng đen trắng cũng còn rất nhiều trang phục phổ biến khác, chưa kể khách du lịch lúc nào cũng nườm nượp. Người ta đến đây không chỉ để vui chơi, hưởng thụ những dịch vụ cao cấp nhất, mà còn để tận mắt chứng kiến con người có thể làm sa mạc thay đổi thế nào.
Sức sống của cát ở đây là do con người mang lại, không chỉ từ sức lực mà quan trọng hơn là từ trí tuệ hoạch định tầm nhìn và từng bước thực hiện, tuy chỉ mới khoảng hai chục năm. Dường như giữa sa mạc mênh mông không đầu không cuối con người buộc phải “nhìn thấy” những ốc đảo từ rất xa, người ta phải biết tính toán đường đi và sức lực của mình để có thể đến nơi có nước ngọt và bóng mát trước khi bị lạc đường rồi chết khô trên sa mạc.
Cuộc sống giữa sa mạc của Dubai và Abu Dhabi cũng bắt đầu như thế.

3. Thị trấn nhỏ bên vịnh biển
Một ngày hè tháng bảy tôi đến một thị trấn nhỏ vốn là một làng chài ở Baie de Somme (vịnh sông Somme) trên bờ biển vùng Picardie nước Pháp. Bên kia vịnh là cũng là một thị trấn nhỏ nhưng ngày cuối tuần tấp nập hơn vì có họp chợ… Mỗi khi thủy triều rút xuống có thể từ hai thị trấn đi bộ qua vịnh đến bờ bên kia, trên lớp cát ẩm màu nâu đen và giữa những cánh chim hải âu táo tác kiếm ăn trên vùng nước lợ.

Thị trấn nhỏ bé có ba con đường chính gần song song với nhau, một ven bờ biển và hai chạy xuyên qua, từ đó có những đường xương cá nhỏ hơn cắt ngang. Nhà cửa cũng nhỏ nhắn xinh xắn, hầu hết một trệt một lầu, còn giữ được nhiều nét xưa cũ. Nơi ngã ba ngã tư có vài ngôi nhà cao hơn thường là tiệm bán buôn. Khu vực mới mở rộng có nhiều khu nhà mới, phần lớn người từ Paris về mua làm nhà nghỉ. Trong thị trấn có vài tòa lâu đài, dinh thự cổ, trong đó có tòa lâu đài từng là nơi nữ anh hùng Jeanne D'arc bị bắt giamvào năm 1430 trong cuộc chiến chống quân Anh , trước khi bị đưa về Rouen xử tử trên dàn thiêu. Tượng nàng được đựng ngay con đường chính bên bờ biển, bồn hoa dưới chân nàng những nhánh oải hương dịu dàng màu tím luôn tươi tắn trong ánh nắng ngày hè đến tận gần 10g tối.
Trên con đường ven biển nhìn ra một cảng nhỏ, tàu đánh cá tải trọng nhỏ, tàu du lịch đậu san sát… trên bờ là nhà hàng, khách sạn cũng nhỏ nhắn xinh xinh, mấy cửa hàng hải sản mang thương hiệu của những tàu cá lâu đời trong làng. Ngày cuối tuần khách đông đủ để ngồi kín những nhà hàng, thưởng thức đồ ăn tươi ngon trong cái gió se se ẩm ướt của cơn bão rớt nơi xa…

Trong thị trấn có một ngôi nhà thờ - chưa có nhà thờ thì chưa thành một cái làng, ai đó đã nói như vậy nhỉ?  Nhà thờ xây bằng đá còn nguyên lớp tường xù xì của gác chuông, chắc hẳn đây là phần kiến trúc cổ nhất từ thời hình thành làng cổ, còn gian chính trông mới hơn, có lẽ  được xây, sửa lại vào thời gian sau. Bước vào nhà thờ tôi ngạc nhiên vì so với bên ngoài có phần giản đơn, bên trong khá rộng rãi, cao ráo, có thể nhận ngay ra nhà thờ của một làng chài bởi hàng chục tấm hình những con tàu đánh cá của “người làng” với đầy đủ thông tin được treo dọc theo những cây cột và hai bên tường. Một bên “bàn thờ” thánh còn có cả mô hình bằng gỗ chiếc tàu nhỏ đầy đủ cột buồm mái chèo..
Nhà thờ có những bức tranh kính tuyệt đẹp. Ánh mặt trời cuối chiều hè xuyên qua lớp kính màu làm cho vẻ dịu dàng thánh thiện tràn ngập nơi đây… Phía cuối là bức tượng thánh  Jeanne D'arc trong dáng vẻ thiếu nữ nông dân chất phác, tóc cắt ngắn dáng người khỏe mạnh, trang phục giản dị, không khác lắm bức tượng bên bờ biển.

Thị trấn nhỏ còn là nơi Jules Verne – nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng người Pháp - sống những ngày ông viết cuốn tiểu thuyết phiêu lưu “80 ngày vòng quanh thế giới” được xuất bản lần đầu vào năm 1873. Từ làng chài nhỏ bé này nhà văn đã “nhìn thấy” những nơi chốn và phương tiện giao thông hiện đại mà các nhân vật của ông “đi qua” trong hành trình tưởng tượng của mình.
Các cửa sông ở Baie de Somme có biên độ thủy triều khá lớn, khi triều lên nếu không có hồ chứa với đê bao thì có thể sẽ ngập cả khu vực ven biển của thị trấn. Khi triều xuống, hồ chứa nước biến thành vùng “biển cạn”  cho nhiều loài chim về cư trú và là khu bảo tồn lý tưởng. Ngày mùa hè khá dài, khoảng 8,9 giờ tối bạn có thể dạo chơi trên đê bao, ngắm nhìn từng đàn hải âu bay về đậu trắng lòng hồ, những dải cỏ lau bắt nắng vàng óng ánh, bầu trời tiếp giáp mặt nước chuyển dần các sắc màu từ xanh biếc của nước đến xám đen của những dải cát… Chỉ khoảng hơn một tiếng sau hoàng hôn buông trên vịnh, những tia mặt trời cuối cùng còn làm nền trời óng ánh màu mây ngũ sắc…

Thị trấn cổ xưa nhỏ bé nay cũng đã thay đổi nhiều, nhưng những dấu tích lịch sử đều được cẩn trọng gìn giữ dù chỉ có chút liên quan đến cuộc đời của một nữ anh hùng, một nhà văn nổi tiếng, cũng như nhà thờ, những con phố nhỏ giữ lại dấu tích làng chài ngày xưa… Đường phố và những ngôi nhà mới xây hòa hợp cảnh quan cũ làm cho thị trấn càng đẹp hơn, vẻ đẹp bình lặng êm đềm thích hợp cho những người muốn về đây nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng thẳng ở các thành phố đông đúc.
Nơi đây vẫn bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan tự nhiên và di tích lịch sử - văn hóa nên vào những ngày cuối tuần – nhất là mùa hè - ở đây khá đông du khách. Tuy nhiên không vì vậy mà cuộc sống thị trấn nhỏ trên bờ vịnh sông Somme bị “thương mại hóa”. Sự niềm nở nhiệt tình và chất phác của người dân như thỏi “nam châm” giữ chân du khách và có dịp thì họ luôn quay trở lại.

Thị trấn này làm tôi nhớ đến Cần Giờ, nơi vịnh Gành Rái đổ ra biển và bên kia là thành phố Vũng Tàu. Cũng vùng cửa sông mặt nước đổi màu theo thủy triều lên xuống, cũng bờ biển ẩm ướt lớp cát nâu đen mịn màng hút lấy bàn chân, cũng những dãy phố xưa hai bên bờ vịnh, và cả khu bảo tồn rừng ngập mặn… Những kinh nghiệm, bài học về bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững đâu phải chỉ có ở những Di sản thế giới mà chúng ta có thể học được ở bất cứ nơi nào, như ở Baie de Somme, vì đó là những điều giản đơn nhưng được thực hiện từ sự hiểu biết, yêu quý và trân trọng thiên nhiên – lịch sử nơi mình đang sống.

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

 Trong hình ảnh có thể có: 1 người



CÂU CHUYỆN DI SẢN VĂN HÓA Ở ĐÀI LOAN



Tôi muốn bắt đầu câu chuyện từ một công trình dinh thự quan trọng bậc nhất của Đài Loan, Dinh Tổng thống ở thành phố Đài Bắc.
Dinh  đặt tại quận Trung Chính, nơi đây là trụ sở chính cho các cơ quan giúp việc cho Tổng thống và Phó tổng thống Đài Loan. Là một kiến trúc vào thời Minh Trị do kiến trúc sư Uheiji Nagano thiết kế vào thời kỳ Đài Loan thuộc đế quốc Nhật Bản (1895–1945), bị hư hỏng nặng do quân đồng minh ném bom trong Thế chiến thứ hai, tòa nhà đã được khôi phục sau chiến tranh và trở thành Phủ Tổng thống từ năm 1950. Hiện nay Dinh là tòa nhà hình vuông có bốn khối nhà và mặt chính có một tháp cao, mái và tường chỉ hai màu trắng và đỏ nâu trông trang trọng mà khiêm nhường. Bốn phía không có hàng rào ngăn cách với những đại lộ lớn rợp bóng cây xanh.

            Theo chương trình của mọi tour du lịch đến Đài bắc, du khách được đưa đến khu vực Dinh Tổng thống và chụp hình lưu niệm bên ngoài tòa nhà. Nhưng tiếc rằng khi tôi đến đây thì tất cả các ngả đường dẫn vào khu vực Dinh đều bị phong tỏa: cảnh sát kéo những lớp hàng rào chắn ngang và chỉ chừa một lối nhỏ vừa cho người đi bộ - chắc để cho nhân viên của Dinh vào làm việc. Anh tài xế taxi sau khi vòng vèo mấy lần quanh đó mà không tìm được đường vào và cũng không được dừng xe, nói với tôi: chắc lại có biểu tình hay gì đó, thôi bà chịu khó chụp hình từ trên xe vậy.

Thật ra tôi đến đây không chỉ để chụp hình lưu niệm như nhiều du khách mà muốn được tận mắt nhìn thấy một nơi vào năm 2000 đã diễn ra một buổi lễ nhậm chức Tổng thống rất đặc biệt. Khi buổi lễ bắt đầu, mọi quan khách trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng hoà Trung quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Nam đảo) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ lạc bản xứ khác, tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Hẹ hay Khách trú) và dân ca người Holo. Chỉ khi tổng thống Trần Thuỷ Biển và phó tổng thống bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng thống thì bài quốc ca mới được cử lên.
Buổi lễ này là một cái mốc quan trọng về văn hóa – xã hội của Đài Loan, cái mốc cho thấy sự tôn trọng văn hóa của các tộc người bản địa đã cư trú ở đây hàng ngàn năm trước khi người Hoa có mặt, sự tôn trọng không chỉ dừng lại ở chủ trương có từ trước đó mà bắt đầu được thực thi bằng nhiều chính sách cụ thể.

Chỉ sau gần hai chục năm nhiều tộc người bản địa đã có sự thay đổi đáng kể về đời sống vật chất và quan trọng hơn là văn hóa truyền thống của họ đã được bảo tồn một cách tích cực. Du khách đến Đài Nam luôn được giới thiệu đặc sản Trà Ô Long và nấm Linh chi trên núi A Lỷ Sơn. Hai sản phẩm này được chính phủ quy định chỉ dành riêng cho một số tộc người bản địa trồng trọt và khai thác, đồng thời hướng dẫn họ kết hợp lối sống và canh tác truyền thống vào phương thức “du lịch sinh thái” nhằm vừa bảo tồn vừa phát triển “tài nguyên bản địa” và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng. Không chỉ có trà và nấm được bán với giá không rẻ so với sản phẩm cùng loại ở “đại lục” mà còn nhiều nông sản khác được chế biến phục vụ du lịch, sản phẩm có uy tín vì là “nông sản sạch” không phân bón, không thuốc trừ sâu và sản xuất bằng máy móc với quy trình khép kín từ nguyên liệu đến thành phẩm.

Là thiểu số nên từ khoảng đầu thế kỷ 20 trước làn sóng ồ ạt người Hoa đến Đài Loan, văn hoá (ngôn ngữ, trang phục, ẩm thức, lối sống…) của nhiều tộc người bản địa đã bị mai một khi đa số thanh niên cố gắng hoà nhập vào xã hội hiện đại. Trước nguy cơ văn hóa bản địa biến mất, từ cuối thế kỷ 20 chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích văn hoá địa phương, các tổ chức của cộng đồng, tổ chức phi chính phủ thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hoá của mọi tộc người. Bởi vì Đài Loan là một xã hội đa văn hoá, chấp nhận sự đa dạng và cởi mở giao lưu với nhau giữa các tộc người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang là phương thức bảo tồn và phát triển hữu hiệu nhất. Nhiều ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan và Trung quốc là người bản địa Đài Loan, họ đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ văn hóa tộc người như trình diễn, sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ đồng thời mang văn hóa hiện đại đến với cộng đồng mình qua những “bản nhạc trẻ” với lời ca dân gian trình bày bằng tiếng Hoa, tiếng Anh.
***
Do hoàn cảnh lịch sử nên Đài Loan có rất ít di tích niên đại lên đến vài trăm năm, chỉ có một số công trình xây dựng từ khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nhưng cũng đã qua trùng tu nhiều lần do thiên tai, chiến tranh. Vậy nhưng du lịch văn hóa – tâm linh rất phát triển ở Đài Loan mà đối tượng hướng đến là những đền, chùa, tháp chỉ mới được xây dựng vài chục năm nay. Từ Đài Nam lên Đài Trung, Đài Bắc ta có thể nhận biết nhiều công trình như vậy.
            Ở thành phố cảng Cao Hùng có Phật Quang Sơn, ngôi chùa lớn nhất và cũng là bảo tàng Phật Giáo lớn nhất của Đài Loan, được mệnh danh là “thánh địa Phật Giáo” sáng lập và hình thành từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Long Hổ Tháp kiến trúc đầy màu sắc và mang đậm nét văn hóa Đài Loan, là công trình nổi bật nhất trong quần thể các đền, chùa trên Đầm Liên Trì.

Ở Nam Đẩu thuộc Đài Trung có Nhật Nguyệt Đàm là hồ nước thiên nhiên lớn nhất Đài Loan gồm một hồ lớn và một hồ nhỏ liền nhau, được bao bọc bởi màu xanh bạt ngàn của những dãy núi xung quanh. Hồ Nhật Nguyệt còn được truyền tụng bởi huyền thoại về việc tìm nơi cư trú của một bộ lạc cổ xưa, từng là điểm nghỉ dưỡng ưng ý nhất của Tưởng Giới Thạch và vợ là bà Tống Mỹ Linh. Cảnh quan hồ không đẹp hơn những hồ nước ở Việt Nam nhưng thiên nhiên được bảo tồn khá nguyên vẹn và dịch vụ du lịch thì rất tốt. Gần đó là Văn võ miếu thờ Quan Công và Khổng tử nổi tiếng linh thiêng. Ngôi miếu rất lớn nằm ở vị trí nhìn ra hồ Nhật Nguyệt kiến trúc đậm phong cách Trung Hoa, thu hút khá đông du khách đến thăm viếng, gieo quẻ và cầu xin những điều tốt lành.

Lên đến Đài Bắc, ngoài Tòa nhà Taipei 101 nổi tiếng, Khu tưởng niệm Tưởng Giới Thạch cùng hai Nhà hát hoành tráng, khách sạn 5 sao Grand Hotel sử dụng 250.000 hình tượng rồng để trang trí, từng được đánh giá là những công trình hàng đầu thế giới, là những nơi mà du khách ai cũng muốn đến chiêm ngưỡng không chỉ về kiến trúc độc đáo “hiện đại và truyền thống” mà còn có thể ngắm toàn cảnh từ thành phố đến cảnh quan thiên nhiên, Đài Bắc còn có nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác. Dựa vào “sản phẩm” của thiên nhiên như công viện địa chất Dã Liễu, nơi có những khối đá bị bào mòn thành những hình thù kỳ dị, nằm ngay sát bên bờ biển, được quy hoạch thành khu du lịch với hệ thống đường đi, nơi dừng chân chụp hình, rào chắn chỗ nguy hiểm, hình ảnh và đồ lưu niệm quảng bá về những khối đá đặc sắc như Công chúa nhỏ, đầu nữ vương… Nơi chỉ là làng nhỏ Thập Phần còn lưu giữ một đoạn đường xe lửa từ thời Nhật giữa hai dãy phố ngắn, nay chuyên bán đồ lưu niệm, phục vụ du khách thả đèn lồng cầu may mắn và có thể chiêm nghiệm cảm giác đi xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước một đoạn đường ngắn. Hay Chùa Long Sơn một kiến trúc hoàn toàn cổ kính, xây dựng giữa khu phố trung tâm hiện đại nhưng bên trong là không gian rộng rãi yên bình có thác nước chảy đêm ngày. Khách du lịch nườm nượp, người đến cúng bái cũng rất đông nhưng tất cả đều tỏ thái độ thành kính…

Sự “linh thiêng” hay tính chất “truyền thống” ở những địa điểm trên không chỉ do truyền thuyết mà còn do cách quản lý điều hành tôn trọng những sinh hoạt tôn giáo, sinh hoạt dân gian và không lấy yếu tố kinh doanh là chính để chi phối. Nhưng chính vì vậy mà nguồn thu từ du lịch không hề nhỏ, cho thấy giá trị văn hóa của di tích được “quy đổi” thành giá trị kinh tế một cách hợp lý như thế nào.

Cùng với những thắng cảnh thiên nhiên, công trình hiện đại nổi tiếng thế giới, những cơ sở tôn giáo phục vụ cộng đồng địa phương như đền, chùa, miếu được tăng thêm giá trị văn hóa nhờ việc xây dựng mới hoặc trùng tu đảm bảo yếu tố kiến trúc truyền thống, duy trì sinh hoạt tâm linh của dân cư để thu hút du khách, đồng thời quảng bá bằng du lịch… hiện nay tất cả được coi là di sản văn hóa của Đài Loan. Ngoài ra còn là hệ thống bảo tàng các loại hình cổ vật, lịch sử, văn hóa, tự nhiên, kỹ thuật… có thể nói “công nghệ chế tạo di sản” ở Đài Loan chỉ vài chục năm phát triển đúng hướng đã mang lại hiệu quả kinh tế và tích lũy giá trị văn hóa ngày càng cao. Không bao lâu nữa chắc chắn  sẽ trở thành những di sản văn hóa thật sự của thế hệ sau.

Đài Bắc – Sài Gòn 12/2017

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu
 Kết quả hình ảnh cho đài loan


TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...