Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Giữ hình ảnh đô thị sông nước

 https://thanhnien.vn/giu-hinh-anh-do-thi-song-nuoc-18525022222324335.htm


Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM đánh giá đề án cải tạo gần 40.000 căn nhà ven kênh mà TP.HCM sắp triển khai xét về quy mô có thể ngang bằng với đề án phát triển đường sắt đô thị khi đụng chạm đến cuộc sống 40.000 hộ gia đình, ước tính hơn 100.000 người dân. Chuyên gia nhìn nhận có 3 yếu tố quan trọng khi triển khai gồm tái định cư, phát huy di sản văn hóa sông nước và thích ứng biến đổi khí hậu.

Dưới góc độ văn hóa đô thị, TS Hậu cho biết đây là dự án rất lớn nên cần điều tra xã hội học thực sự khoa học và khách quan để nhận được tất cả ý kiến đồng thuận và đề xuất giải quyết đời sống của người dân. Bởi lẽ, các dự án tái định cư trước đây TP.HCM làm chưa tốt, và nhà ở xã hội, nhà cho người thu nhập trung bình thấp hiện vẫn là điểm nghẽn rất lớn. Điều TS Hậu lo lắng nhất là khi giải tỏa khối lượng lớn thì bố trí tái định cư ra sao, không chỉ ở góc độ vật chất mà còn các tiện ích phục vụ đời sống. Và quan trọng hơn là tạo sinh kế mới cũng như tạo thuận tiện cho người dân gắn bó với sinh kế cũ và vùng lao động cũ.

Ở góc độ cảnh quan và văn hóa sông nước, TS Nguyễn Thị Hậu cho biết TP Băng Cốc (Thái Lan) vài chục năm trước không khác gì thực trạng hiện nay mà TP.HCM đang giải quyết. Khi đó, chính quyền thành phố Băng Cốc có kế hoạch chỉnh trang với mục tiêu đầu tiên là khơi thông dòng chảy, đảm bảo môi trường để bảo vệ sức khỏe người dân, cải thiện văn hóa. Lợi nhuận từ sức khỏe và văn hóa không thể đong đếm được bằng tiền và đây là lợi ích lâu dài. “Tôi rất mong muốn TP.HCM tiếp cận theo hướng ưu tiên yếu tố dân sinh lên đầu tiên để phát triển bền vững chứ không phải là thu lợi nhuận từ đất đai”, TS Hậu chia sẻ.

Chuyên gia này cũng lo ngại nếu TP.HCM giải tỏa trắng toàn bộ, đến mức 2 bên chỉ còn đường giao thông, bờ kè và công viên thì sẽ không giữ được bản sắc thành phố sông nước của Nam bộ nữa. Bà khuyến nghị nghiên cứu mô hình của Thái Lan và Campuchia về đô thị ven sông, hỗ trợ người dân sửa nhà quay mặt tiền ra sông, giữ gìn vệ sinh chung để tạo điểm đến phát triển du lịch. “TP.HCM có thể nghiên cứu giữ lại một số cụm dân cư điển hình ở Q.8, là nơi đông dân phải giải tỏa nhất. Mình muốn phát triển đường sông thì đầu tiên phải để cho người dân hưởng, rồi mới đến phát triển du lịch”, TS Hậu nói.

Về lâu dài, TS Nguyễn Thị Hậu cho biết với tốc độ biến đổi khí hậu diễn ra rất nhanh thì TP.HCM cần quay lại với tư duy thích ứng, sống chung với nước của ông bà ta trước đây. Muốn sống với sông nước thì thích ứng theo hướng xây nhà sàn bên sông, kênh rạch nhưng sử dụng vật liệu bền vững như bê tông.




ĐÍCH ĐẾN CỦA HÀNH TRÌNH HOÀ BÌNH - THỐNG NHẤT

 https://congan.com.vn/tin-chinh/dich-den-cua-hanh-trinh-hoa-binh-thong-nhat_177423.html

Nguyễn Thị Hậu

 

Mỗi năm, vào những ngày tháng Tư ký ức của nhiều người lại một lần nữa quay về thời điểm 30.4.1975, không chỉ vậy, nghĩ suy còn dẫn chúng ta đi cùng những tháng năm sau đó đến hiện tại. Năm mươi năm đã qua, tuy ngắn ngủi so với lịch sử đất nước nhưng là gần cả một đời người. Là một trong số nhiều người được sống cả trong thời chiến và hòa bình, tôi cảm thấy mình thật may mắn khi được trải nghiệm những thời khắc quan trọng trong hành trình 50 năm đặc biệt của đất nước. Càng may mắn hơn vì tôi được sống tại Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, đích đến để kết thúc chiến tranh và khởi đầu của hòa bình – thống nhất.

***

Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù Sài Gòn là nơi chịu tác động gay gắt nhiều mặt của chiến tranh và chế độ cai trị thực dân cũ và mới, nhưng với truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, cuộc đấu tranh dưới mọi hình thức của nhân dân Sài Gòn – Gia Định không ngừng nghỉ, không gián đoạn, luôn gắn bó chặt chẽ với phong trào cách mạng cả nước. Ngay sau ngày 30.4.1975 tại thành phố Sài Gòn một Ủy ban Quân quản được thành lập để tiếp quản công việc quản lý, giữ an ninh trật tự cho thành phố. Ủy ban quân quản cũng quyết định hợp nhất Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định thành Thành phố Sài Gòn – Gia Định. Đầu năm 1976, Ủy ban Nhân dân thành phố bắt đầu hoạt động. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên thành phố "Sài Gòn – Gia Định" thành "Thành phố Hồ Chí Minh".

Sau những ngày hòa bình sôi nổi đầu tiên, thành phố đối mặt với quá nhiều khó khăn. Giờ đây bình tĩnh nhìn lại có thể nhận thấy không ít khó khăn đến từ chính chúng ta, do lần đầu tiên chưa và chưa từng có kinh nghiệm quản lý điều hành một thành phố vào loại lớn và phức tạp nhất của Đông Nam Á.

Từ năm 1975 cho đến năm 1990, thành phố có chủ trương giảm áp lực dân số đô thị bằng cách đưa hàng triệu người về nông thôn sản xuất nông nghiệp và đi kinh tế mới. Thêm vào đó, những đợt “cải tạo tư sản”, “nạn kiều” cùng với tình trạng ồ ạt vượt biên ra nước ngoài khiến cho dân số thành phố giảm đi đáng kể. Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố cực kỳ khó khăn khi các ngành sản xuất – dịch vụ của thành phố trì trệ và hiện tượng “ngăn sông cấm chợ” gay gắt giữa các địa phương.

Sau khi chính sách “Mở cửa” được tiến hành, cùng với sự “cởi trói” về kinh tế, Việt Nam chú trọng đến phát triển đô thị. Từ đó, làn sóng đô thị hóa diễn ra trên cả nước với tốc độ có khác nhau tùy từng địa phương, trong đó TP. Hồ Chí Minh được xem là đô thị có sức bật đáng kể nhất. Trải qua một thời kỳ khó khăn từ năm 1975 đến cuối thập niên 1980, từ 1990 nhờ sự năng động và những cơ chế chính sách hợp lý, TP. Hồ Chí Minh phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, tiến trình đô thị hóa tiếp tục đẩy mạnh theo đà tăng trưởng của kinh tế. Từ năm 2000 TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, mức độ đô thị hóa cao nhất nước, kéo theo sự thay đổi nhanh trong việc chuyển dịch cơ cấu, trong việc nâng cao tổng sản phẩm quốc nội. Sự tiến bộ ấy thể hiện bằng những thay đổi trong không gian đô thị qua hệ thống giao thông, không gian cư trú, các công trình kiến trúc hiện đại. 

Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất ở Việt Nam về dân số và quy mô đô thị hóa. Đây còn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục tại Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương thuộc loại đô thị đặc biệt của Việt Nam cùng với thủ đô Hà Nội.

***

Truyền thống của một vùng đất, một cộng đồng là những gì được lắng đọng và lưu truyền qua quá trình lịch sử dài lâu, hình thành từ sự thích ứng với thiên nhiên và tính cách văn hóa của cộng đồng. Truyền thống mang tính bền vững, thường được bổ sung qua từng giai đoạn, trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên” suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của cộng đồng, vùng đất đó.

Từ thế kỷ 18 khi Sài Gòn hình thành một đô thị là trung tâm của Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, đây đã là nơi dân tứ xứ thường xuyên đổ về. “Gia Định là cõi Nam nước Việt, lúc mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Đường (...), người Tây dương (...) Cao Miên, Đồ Bà (...) đến ngụ cư đông đúc xen lẫn, mà người các nước ấy thì y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ” (sách Gia Định thành thông chí). Những giai đoạn về sau cũng vậy, không chỉ là nơi tiếp nhận các cộng đồng dân cư khác nhau mà Sài Gòn còn tiếp nhận những cách thức làm ăn, những nghề nghiệp hay phương thức kinh tế mới đi cùng các cộng đồng đó. Sự giao lưu với các nền văn hóa – trong đó có các yếu tố khoa học kỹ thuật mới – giúp Sài Gòn phát triển nhanh chóng so với khu vực.

Là một trung tâm kinh tế lớn, “đất làm ăn” của nhiều cộng đồng dân cư, nơi tiếp cận và tiếp nhân những ngành nghề, phương thức kinh doanh mới, vì vậy trong hoạt động kinh tế ở Sài Gòn tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu, cùng với sự rạch ròi, linh hoạt và quyết liệt vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu cũ, nhạy bén với những mầm mống tốt đẹp, năng động sáng tạo tiếp thu khoa học kỹ thuật mới... Tất cả hướng đến hiệu quả thực sự của “công chuyện làm ăn”, không lý thuyết suông, không giáo điều. Đồng thời, sự liên kết hỗ trợ nhau “buôn có bạn, bán có phường”, đảm bảo chữ Tín trong làm ăn cũng là một truyền thống của mối quan hệ kinh tế Sài Gòn.

Người miền Nam nói chung, người Sài Gòn nói riêng luôn học hỏi những cái hay, cái tiến bộ, sớm tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa – kỹ thuật của thế giới, đồng thời phân biệt rõ ràng bạn thù để mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan. Cho đến nay, TP Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong việc tháo gỡ khó khăn, gạt bỏ những cản trở lỗi thời của tư duy và lối làm ăn bao cấp lạc hậu, thực hiện những biện pháp, phương thức kinh tế mới. Từ đó góp phần quan trọng về thực tiễn và tạo ra tiền đề lý luận cho công cuộc đổi mới của đất nước. Tính cách, lối sống năng động, sáng tạo của người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh được coi là tiêu biểu cho người Nam bộ.

***

“Lịch sử của thành phố tự nó đã giới thiệu quá trình luôn luôn chọn cái mới, luôn đổi mới. Lịch sử của thành phố đồng thời tự nó đã giới thiệu con người Thành phố là tập thể cách mạng không mệt mỏi, không khoan nhượng trước những gì trì trệ”. (Trần Bạch Đằng). Đặc trưng “quy tụ - lan tỏa” trong lịch sử phát triển của đô thị Sài Gòn được TP. Hồ Chí Minh hôm nay tiếp nối, phát triển mạnh mẽ nhưng không đánh mất bản sắc là một thành phố năng động, đổi mới, nghĩa tình.

Từ thời điểm 11g30 ngày 30 tháng Tư 1975, Sài Gòn là nơi kết thúc chiến tranh thì TP Hồ Chí Minh hôm nay phải là nơi thể hiện thành quả 50 năm hoà bình – thống nhất tiêu biểu nhất. Thành phố đã bảo toàn được khá nguyên vẹn sau những tháng ngày chiến tranh ác liệt cuối cùng, để giờ đây chúng ta có những di sản văn hoá độc đáo. Và sau năm mươi năm, di sản tinh thần quý giá nhất là thành phố cần bảo tồn và phát huy, chính là sự đồng lòng đồng tâm của người dân thành phố, người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, bắt đầu từ đoàn kết và hoà giải – hoà hợp dân tộc. Đó chính là tiềm năng, sức mạnh, là điểm tựa vững chắc để Thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên hoà bình – thống nhất!

TP. Hồ Chí Minh tháng 4.2025

 




TP Hồ Chí Minh có đủ khả năng trở thành trung tâm văn hóa lớn

 

Thưa TS Nguyễn Thị Hậu, nhìn lại hành trình 50 năm kể từ ngày thống nhất, theo bà, đâu là những biến chuyển rõ nét nhất trong bản sắc văn hóa của Sài Gòn - TP.HCM?

Sài Gòn vốn là một thành phố đa dạng về văn hóa, bắt nguồn từ đa dạng về nguồn gốc và cộng đồng dân cư. Quá trình thay đổi, biến động dân cư từ sau 1975 có tác động lớn đến đặc điểm này: văn hóa ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, tuy vẫn lưu giữ được vài đặc trưng riêng của đô thị phương Nam nhưng vẫn chưa kịp định hình một nền văn hóa của thành phố hiện đại nhất của đất nước Việt Nam thống nhất.

Làm thế nào mà bản sắc văn hóa đa dạng, với sự giao thoa của nhiều vùng miền và cả yếu tố quốc tế, đã hòa quyện vào nhịp sống hiện đại, năng động của TP.HCM ngày nay? Theo quan sát và nghiên cứu của bà thì đâu là nét đặc trưng nhất của sự hòa quyện đó?

Sự đa dạng, giao thoa văn hóa hòa quyện vào nhịp sống hiện đại của Sài Gòn có từ khi khởi lập đô thị này, bắt nguồn từ tâm thức cởi mở, khoan dung của cộng đồng lưu dân biết thích nghi và chấp nhận “vùng đất mới” như nó vốn có! Thấu hiểu đặc điểm tự nhiên và tâm tính con người, tự mình thay đổi để “tứ hải giai huynh đệ” và đạt hiệu quả cao trong “công chuyện làm ăn”. Sự hòa quyện này thể hiện rõ nét ở tính cách dễ chấp nhận những điều mới mẻ, không kỳ thị sự khác biệt. Chung sống hòa hợp nhưng không để kẻ mạnh lấn lướt, luôn nâng đỡ những gì “yếu thế”. Quá trình bảo vệ bản sắc riêng diễn ra liên tục trong xu hướng có biến đổi nhất định để phù hợp với bối cảnh xã hội mới.

"Tầm nhìn bứt phá" của TP.HCM thường được nói đến về kinh tế, hạ tầng. Vậy theo góc nhìn văn hóa, "tầm nhìn bứt phá" đó nên được hiểu như thế nào, thưa bà?

Sự “thiệt thòi” của TP. HCM là thường được nhìn nhận, đánh giá là “một trung tâm kinh tế lớn” mà ít được chú ý đến văn hóa và tiềm năng văn hóa của đô thị này. Vì vậy sự “bứt phá”, phát triển kinh tế, hạ tầng cơ sở luôn được đặt lên hàng đầu, còn văn hóa thì phát triển chưa xứng tầm với tiểm năng và di sản của vùng đất này!

Hiện nay, “tầm nhìn bứt phá” về văn hóa của thành phố là cần tạo mọi điều kiện (cởi mở về tinh thần, cơ chế chính sách phù hợp, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, nhân lực chất lượng cao...) để khơi dậy và phát triển các nguồn lực và tài năng văn hóa của thành phố. TPHCM hoàn toàn có đủ khả năng trở thành trung tâm văn hóa lớn của khu vực, trong đó các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế phát triển nhanh mạnh từ sự phát triển của kinh tế và công nghệ cao, hiện đại. Đặc biệt từ truyền thống nguồn lực “xã hội hóa” – tức các nguồn lực tư nhân, cộng đồng – đầu tư vào các loại hình sản phẩm và hoạt động văn hóa từ truyền thống đến hiện đại, từ di sản vật thề đến di sản phi vật thể.

Ông/bà đánh giá thế nào về sự xuất hiện của các loại hình văn hóa, nghệ thuật, giải trí mới, hiện đại tại TP.HCM? Làm sao để sự phát triển hiện đại không làm mất đi mà còn làm giàu thêm cho bản sắc văn hóa? 

Sự xuất hiện các loại hình văn hóa nghệ thuật mới luôn diễn ra tại Sài Gòn ngay từ thời kỳ khởi lập và trong những giai đoạn phát triển: văn chương, sân khấu, báo chí, điện ảnh, bảo tàng, thư viện, nhà hát... từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, rồi nửa sau thế kỷ 20 sang thế kỷ 21 là làn sóng truyền hình, truyền thông hiện đại, internet... Tất cả thể hiện quy luật “không chối từ”, một bản sắc văn hóa đa dạng, hiện đại và xu hướng “văn hóa đại chúng” của đô thị Sài Gòn. Trên cái nền “văn hóa đại chúng” (không nên hiểu như “văn hóa quần chúng”) những di sản riêng được nâng tầm trở thành văn hóa đỉnh cao, như Đờn ca tài tử Nam bộ và nghệ thuật Cải lương Nam bộ.

Nếu hiểu rõ và tôn trọng vị thế, bản sắc văn hóa vùng đất Nam bộ mà tiêu biểu là Sài Gòn – TPHCM thì sẽ đủ bản lĩnh và tình cảm để xây dựng một thành phố hiện đại mà không phá bỏ những di sản văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn, hàng trăm năm, không làm tổn thương ký ức lịch sử của nhiều thế hệ về vùng đất và thành phố này. Đồng thời sẽ làm giàu hơn cho văn hóa thành phố từ việc bảo tồn di sản cũng như sáng tạo thêm những di sản mới (hy vọng thế!).






TRÀ SỮA CHAGEE VÀ CHỦ QUYỀN VĂN HÓA

 https://nguoidothi.net.vn/tra-sua-chagee-va-chu-quyen-van-hoa-47568.html

    Nguyễn Thị Hậu      

Đường Đồng Khởi ở trung tâm TP. Hồ Chí Minh có lịch sử hình thành & phát triển hơn 160 năm (từ năm 1861). Đây là con đường xưa nhất từng mang tên Rue Catinat -Tự do và là Đồng Khởi từ sau năm 1975. Con đường bắt đầu từ giao cắt với bến Bạch Đằng - đường Tôn Đức Thắng ở phía bờ hữu ngạn của sông Sài Gòn đến Công trường Công Xã Paris, ngay phía trước tượng Đức Mẹ Nữ vương Hoà Bình của nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn và bưu điện trung tâm Sài Gòn.

Trên con đường sầm uất này từ sáng đến khuya luôn nhộn nhịp và thời nào cũng có giá đất thuộc loại đắt đỏ nhất. Hai bên đường những địa điểm lịch sử và dấu ấn văn hóa, kiến trúc của đô thị Sài Gòn: Dinh Thượng thư, trung tâm thương mại và rạp phim tại hành lang Eden, nhà sách Xuân Thu, khách sạn lâu đời và sang trọng: khách sạn Intercontinental từ năm 1880, khách sạn Majestic từ năm 1925, khách sạn Grand từ năm 1930, khách sạn  Caravelle, Nhà hát thành phố... Bởi vậy, đây là “con đường di sản” của thành phố, vì chứa đựng những giá trị độc đáo: di sản vật thể là những công trình cổ xưa, là mặt bằng bất động sản giá cao chót vót, là cảnh quan một tuyến đường đi bộ với các công viên nhỏ làm nơi nghỉ chân cho khách bộ hành, hàng cây xanh hiền hòa, di sản phi vật thể là ký ức, nỗi nhớ của nhiều thế hệ người Sài Gòn và du khách về những địa chỉ văn hoá tại con đường trung tâm thành phố, sang trọng mà gần gũi với du khách và mọi tầng lớp cư dân đô thị.

Hiện nay một phần quá khứ của Sài Gòn trên con đường này chỉ còn trong ký ức của những người ở độ tuổi 50, 60 trở lên. Đó là sự biến đổi của cả tuyến đường do những công trình mới, sự “biến mất” của công viên Chi Lăng, khu Eden, tiệm cà phê nổi tiếng Givral... Từ nhiều năm trước người Sài Gòn đã phải ngậm ngùi “C’est fini Givral”, còn hôm nay khi tiệm Brodard (góc Đồng Khởi – Nguyễn Thiệp) tháo bảng hiệu chưa kịp làm người ta rưng rưng thì đã phải giật mình vì sự xuất hiện phông nền đỏ chói của Chagee - một thương hiệu trà sữa của Trung quốc.

Ngay lập tức một làn sóng phẫn nộ dậy lên, bởi vì ứng dụng toàn cầu của thương hiệu này chứa hình ảnh "đường lưỡi bò" phi pháp trên biển Đông! Và chỉ sau vài ngày trước sự phản ứng dữ dội của người dân Việt Nam, Chagee đã phải âm thầm gỡ bỏ cái màu đỏ ngạo nghễ tại "mặt bằng vàng" giữa trung tâm thành phố, dù còn đang sửa chữa chưa kịp khai trương.

***  

Từ tháng 4.1922, Sở Quy hoạch - kiến trúc TP.HCM tổ chức công bố quy chế quản lý kiến trúc TP.HCM. Theo đó, địa bàn TP.HCM có 6 khu vực di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo tồn, bao gồm: Đặc khu chợ Bến Thành (quận 1), Hồ Con Rùa và khu biệt thự (quận 3), khu vực đường Nguyễn Trãi - Phù Đổng Thiên Vương - Lương Nhữ Học - Hải Thượng Lãn Ông (quận 5), khu vực chợ Bình Tây (quận 6), khu vực Làng đại học (phường Bình Thọ, TP Thủ Đức). Khu trung tâm TP.HCM có 4 tuyến đường đi bộ gồm: đường Nguyễn Huệ, đường Đồng Khởi, đường Bùi Viện, đường Nguyễn Văn Bình.

              Theo Sở Quy hoạch - kiến trúc, quy chế quản lý kiến trúc này là cơ sở để cơ quan chức năng quản lý cảnh quan đô thị, kiến trúc các công trình xây dựng theo quy hoạch, kiểm soát việc xây dựng mới, cải tạo chỉnh trang đô thị, bảo vệ cảnh quan, bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một động thái tích cực để bảo tồn tính toàn vẹn những cảnh quan lịch sử của thành phố. Bởi vì "Giá trị kinh tế - văn hóa của cả khu vực di sản lớn hơn và bền vững hơn nhiều lần giá trị từng công trình đơn lẻ". Tuy nhiên, tính nguyên vẹn của di sản văn hoá phi vật thể chưa được thể hiện: đó là cần bảo toàn tính lịch sử, ký ức văn hoá, những thương hiệu có giá trị là di sản văn hoá.

Là con đường mang dấu ấn lịch sử, các cơ sở thương mại – dịch vụ và công trình kiến trúc lâu đời tại đây đã trở thành “thương hiệu văn hoá” của đô thị Sài Gòn và mang tính quốc tế. Mỗi thương hiệu mới khi xuất hiện ở đây cần mang giá trị văn hoá tiêu biểu của TP. Hồ Chí Minh, của Việt Nam và hướng đến giá trị nhân văn toàn cầu. Bảo toàn điều đó chính là bảo tồn di sản văn hoá, là bảo vệ “chủ quyền văn hoá”, đồng thời thể hiện sự hội nhập văn hoá.

Không thể tránh khỏi sự thay đổi, biến đổi trong quá trình phát triển đô thị, nhưng tại khu vực di sản cần có sự “bảo trợ”, hỗ trợ của chính quyền, thông qua luật pháp và chính sách để thực hiện bảo tồn di sản và chủ quyền văn hoá từ những thương hiệu của các cơ sở kinh tế - dịch vụ. Những chính sách nhằm bảo vệ văn hoá truyền thống tại đây, tạo điều kiện để các thương hiệu có giá trị văn hoá cao của Việt Nam và quốc tế hiện diện. Sự “đánh đổi” một thương hiệu như Eden, Givral hay Brodard dù bằng bất cứ giá nào cũng là xoá bỏ di sản văn hoá, không gì bù dắp được!

Huống hồ, nhãn hàng trà sữa Chagee từng bị người tiêu dùng phát hiện quảng bá “đường lưỡi bò” phi pháp lại được phép hiện diện ngay giữa “vùng lõi di sản đô thị” của TP. Hồ Chí Minh, thậm chí khi bị người tiêu dùng Việt Nam tẩy chay Chagee vẫn giữ nguyên hình ảnh quảng bá sai trái trên website của họ!

Cần nhận thức rõ đây là sự vi phạm chủ quyền quốc gia từ góc độ văn hoá, là sự thôn tính chủ quyền văn hoá! “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây”* nhưng chủ quyền quốc gia và văn hoá Việt không mất, đồng thời tiếp nhận thêm những thành tựu văn minh tiến bộ. Đó là vì cha ông ta giữ được văn hoá từ làng xóm, từ gia đình, tiếp nhận đúng những gì làm giàu thêm cho tri thức và văn hoá, không “bán rẻ” các giá trị văn hoá Việt Nam…

Hiện nay và trong tương lai, tại các thành phố lớn quá trình “hiện đại hoá” ngày càng mạnh mẽ, thể hiện bằng sự hiện diện các công trình mới, các nhãn hàng sản phẩm quốc tế ngày càng nhiều. Tuy nhiên nếu để những nhãn hàng có kiểu ứng xử sai trái tương tự Trà sữa Chagee xuất hiện và tồn tại, dần dẫn sẽ dẫn đến sự “nô lệ” văn hoá, tình trạng này còn nguy hiểm hơn sự phụ thuộc về kinh tế hay chính trị. Cảnh báo điều này không thừa, bởi vì một thành phố mất bản sắc riêng, một quốc gia mất chủ quyền văn hoá là sẽ mất tất cả!


* Lời bài hát Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn.
P/S. Sau những phản ứng của người Việt Nam, Chagee đã gỡ bảng hiệu tại đây!





 

 

 

 

 

 

SÀI GÒN 50 MÙA QUA...

 https://doanhnhansaigon.vn/ky-su-sai-gon-50-mua-tet-qua-315818.html

Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu      

Kể từ mùa hè 1975 tôi theo gia đình từ Hà Nội trở về Sài Gòn - Nam bộ, quê hương tôi được nghe ba má tôi nhắc suốt những năm dài “ngày Bắc đêm Nam”, đến nay tôi đã sống ở TP. HCM 50 năm rồi!

Năm mươi năm, thời gian đó gần hết một đời người. Nhưng với một thành phố có trên 300 năm tuổi, hay hơn 3000 năm của một vùng đất.... thì khoảng thời gian đó chưa thể gọi là dài! Nhìn lại, Sài Gòn – TP. HCM để lại những gì trong tâm tưởng của thế hệ trưởng thành vào thời hậu chiến, như tôi?

Một lần tôi ngồi quán cà phê với bạn. Hai đứa cùng được sinh ra ở Hà Nội cùng sống ở Sài Gòn từ mấy chục năm nay... qua thời đại học rồi cùng lập gia đình, cùng vượt qua thời bao cấp cực nhọc, chúng tôi vẫn gắn bó với nhau dù có khi đến vài năm không gặp mặt. Ngày cuối năm ngoài đường xe cộ như nêm, mọi người tất bật. Trong quán vắng miên man nhạc Trịnh, bạn chợt thốt lên, nhớ Sài Gòn quá... Câu nói của bạn giúp tôi hiểu rõ hơn cảm giác bồi hồi không lý giải được: đúng rồi, tôi cũng nhớ Sài Gòn dù đang ở giữa Sài Gòn, lạ không?

Không chỉ một lần như vậy, mà mỗi khi nhắc đến Sài Gòn, nhiều người luôn bắt gặp cảm giác bồi hồi như thế, dù bạn từ đâu đến thành phố này...

***

Sài Gòn là địa danh mang tính lịch sử - văn hóa, từ khoảng cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20 địa giới mở rộng dần theo chính nhu cầu phát triển của thành phố. Quá trình khai sinh Sài Gòn là sự hội tụ của những người “nhập cư” từ nhiều vùng miền, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Quá trình tụ cư cho thấy vùng đất lành Sài Gòn đã là điểm đến, nơi dừng chân, nơi sinh cơ lập nghiệp của biết bao “đàn chim” từ nhiều vùng đất và nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Chỉ kế đến những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, Sài Gòn đã dung chứa trong nó hàng triệu con người, cũng chia sẻ hàng triệu cơ hội kiếm sống trong đó có hàng ngàn cơ may thành đạt, giàu có. Hiện nay Sài Gòn là thành phố đông dân nhất nước và cũng là nơi người nhập cư nhiều nhất.

Ở Sài Gòn có rất nhiều “hội đồng hương”, gần như có đủ tất cả các tỉnh thành thậm chí có cả hội đồng hương cấp huyện. Người các tỉnh thành vào đây giữ được “cá tính văn hóa” riêng của quê hương mình, nhất là ngôn ngữ và ẩm thực là hai yếu tố được nhận biết rõ ràng nhất. Ở Sài Gòn tiếng nói các vùng miền hòa lẫn vào nhau, không phân biệt “quê” hay “thành”, không kỳ thị “Sài Gòn” hay “tỉnh”. Chỉ cần buổi sáng ngồi ở các quán cà phê bạn có thể nghe thấy giọng nói cả ba miền Nam Trung Bắc, có thể nhận ra tiếng miền Tây, tiếng Hà Nội, tiếng Quảng, tiếng Huế, chưa kể bây giờ còn có nhiều người Hàn, người Nhật, người các xứ Âu Mỹ đến làm ăn tại Sài Gòn.

Các món ăn ở Sài Gòn thì chẳng thiếu  đặc sản của nơi nào: Bánh Huế, cơm hến, mì Quảng, bùn bò Huế, phở Hà Nội, bánh đa cua, nem vuông Hải Phòng, bún đậu mắm tôm “đặc Bắc”, bún mắm, bún nước lèo miền Tây, hủ tíu Sa Đéc, Mỹ Tho, Nam Vang, bún riêu bắc, bún riêu nam, bánh xèo “Bà Mười Xiềm” Cần Thơ, bánh khọt Cô Ba Vũng Tàu, cơm lam thịt trâu gác bếp Tây Bắc… Quán ăn Tây, Nhật, Hàn, Thái, tiệm Fast Food khắp nơi…  Ẩm thực và ngôn ngữ ở Sài Gòn như một “liên hiệp quốc” chung sống hòa bình, thân ái, chẳng ai muốn loại trừ ai, mà có muốn thì cũng không được, miễn là phong cách làm ăn “như người Sài Gòn” thì sẽ tồn tại.

Trong quá trình hình thành và phát triển, Sài Gòn đã dung nạp, tiếp nhận nhiều các yếu tố văn hóa như phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, tiếng nói, ẩm thực, trang phục… của các cộng đồng dân cư khác nhau. Nhưng quan trọng là Sài Gòn không làm thay đổi những nét văn hóa riêng của từng cộng đồng nuôi dưỡng tất cả để tạo nên sự phong phú đa dạng của văn hóa Sài Gòn. Tôn trọng sự đa dạng, Sài Gòn có sự bao dung làm nên “cái nôi cho những tài năng đến đây và tỏa sáng. Như nhiều nhạc sĩ, ca sĩ người Hà Nội vào sinh sống ở Sài Gòn giữ được “chất Hà Nội” qua tác phẩm, qua giọng hát, qua phong cách sống. Có lẽ nhờ đó mà có rất nhiều bài hát hay về Hà Nội đã được sáng tác tại đây, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ thành danh từ đô thị này. Đó là còn chưa kể đến những nhân tài, trí thức của các lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật khác, các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế... bên cạnh hàng triệu con người bình dị đến đây “kiếm sống”, nhưng rồi dần đần đã trở thành “người Sài Gòn”.

Nhiều lần tôi thử lý giải về sự bao dung nâng đỡ của Sài Gòn đối với những gì còn yếu thế, mới mẻ, thậm chí còn chưa kịp định hình. Không thể không bắt đầu từ lịch sử. Là vùng đất chưa kịp có ký ức lâu dài nếu ta coi yếu tố thời gian lịch sử là quan trọng nhất trong việc hình thành ký ức và truyền thống: Sài Gòn 300 năm lại là vùng đất “làm ăn”, trung tâm kinh tế, khác tính chất trung tâm chính trị của Thăng Long hay Huế. Do không chịu sự níu kéo của truyền thống quá sâu nặng nên dễ tiếp nhận cái mới, đồng thời chấp nhận và thích nghi để không “đồng hóa” cái mới, cái khác. Người Sài Gòn có tính thực tế cao nhưng không bị chuyển thành sự tư lợi mà ngược lại tính cộng đồng cũng cao, việc xã hội, Làm “việc nghĩa” được coi là chuyện bình thường. Lấy hiệu quả việc “làm ăn” là quan trọng nhất, mọi cái khác coi là “chuyện nhỏ”, “làm ăn được” còn để mình “sống được” và có thể chia sẻ, đùm bọc người khác.

Nói chuyện với nhiều người bạn Mỹ, các bạn đều nhận xét rằng, có gì đấy khá giống nhau giữa sự hình thành, phát triển của vùng đất Sài Gòn với nước Mỹ nói chung và với những thành phố lớn như NewYork chẳng hạn. Và nếu như ở nước Mỹ có một ngày Thanksgiving thì tôi luôn mong rằng, những người đã đến Sài Gòn sinh sống làm ăn, hãy có một lần thôi, nhớ đến sự rộng rãi sẻ chia và tình nghĩa của thành phố và con người vùng đất này.

***

Mùa Giáng Sinh năm nay thời tiết Sài Gòn thật tuyệt, buổi sáng không khí se se lạnh, trưa chiều vẫn nắng nhưng không nóng, dù mọi năm thời gian này Nam bộ đã vào mùa nắng gay gắt. Sáng nay đi có việc qua khu vực trung tâm thành phố, tôi ngắm nhìn cuộc sống sôi động diễn ra trên từng con đường, đắm mình trong không khí Giáng Sinh rộn rã, chợt nhận ra Sài Gòn vừa quen vừa lạ... Những nơi chốn quá quen thuộc luôn mang lại cho sự bất ngờ, nếu một ngày nào đó mình bỗng nhiên “sống chậm”. Sài Gòn luôn là một nơi như thế.

Đặc biệt những ngày này, khu vực chợ Bến Thành đến ga Metro trung tâm luôn đông đúc. Cả tháng nay tuyến metro số 1 đã chạy thử, hôm nay là ngày vận hành chính thức nên nhiều người dân thành phố náo nức “đi cho biết”. Dù tôi từng nhiều lần đi metro ở nước ngoài nhưng chứng kiến niềm vui của bà con, cũng là chứng kiến một thành quả lớn của thành phố, tôi thật vui và xúc động...

Tuyến metro số 1 hoàn thành đánh dấu sự khởi đầu mới. TP. HCM sẽ bước tiếp những bước đi thần kỳ trong 50 năm nữa! Bởi vì sức sống Sài Gòn luôn được nuôi dưỡng từ sự cởi mở, bao dung, bởi vì dù bao nhiêu thời gian qua đi thì tôi vẫn tin rằng, Sài Gòn – TP. HCM luôn là “vùng đất lành” của biết bao con tim và khối óc ở cả trong và ngoài nước.

TP. Hồ Chí Minh, 22.12.2024



DU LỊCH TRÊN SÔNG NƯỚC MIỀN TÂY

 https://tcdulichtphcm.vn/suy-ngam/du-lich-tren-song-nuoc-mien-tay-c8a90530.html

Nguyễn thị Hậu

 

Mọi năm, tháng 11 âm lịch miền Tây Nam bộ bước vào mùa khô, trời sẽ xanh cao hơn và nắng bắt đầu gay gắt hơn. Nhưng biến đổi khí hậu đã mang lại bầu trời mây mù và những cơn mưa trái mùa… Trái đất cũng như con người, dường như tuổi tác làm tính khí thay đổi, thất thường đến khó lường, nhưng đôi khi cũng mang lại chút bất ngờ dễ thương.

Một ngày đầu tháng 12 giữa những cơn nắng cơn mưa bất chợt, chúng tôi lên một chiếc tàu du lịch nhỏ. Từ Cái Bè (Tiền Giang) theo sông Tiền rồi rạch Cái Tàu Hạ chúng tôi lên Sa Đéc. Từ Sa Đéc lại xuôi theo rạch Cái Vồn qua Vĩnh Long về sông Hậu đoạn gần Cần Thơ. Theo quy hoạch giao thông do tỉnh Đồng Tháp quản lý thì đây là trục đường thủy chữ V: rạch Cái Tàu Hạ, rạch Nha Mân Tư Tải có vai trò là cầu nối giữa sông Tiền và sông Hậu đến rạch Cái Vồn (Vĩnh Long).

Cả chuyến đi bằng tàu trên sông rạch đã mang lại cho tôi cảm xúc đặc biệt. Nhớ lại những lần ngang dọc miền Tây bằng đường bộ, hay chịu cảnh tắc đường kẹt xe, tôi tự hỏi, tai sao không sử dụng và phát triển giao thông đường thủy – một lợi thế tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long đã được cư dân tận dụng từ hàng trăm năm nay?

Sông Mê Kông chảy vào Nam bộ dài khoảng 250km theo hai nhánh lớn là Tiền Giang và Hậu Giang. Sông Tiền qua Châu Đốc, Sa Đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long rồi tỏa nhánh qua Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh đổ ra biển bằng 6 Cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Sông Hậu cũng qua Châu Đốc rồi qua Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và ra biển bằng 3 cửa Định An, Ba Thắc và Tranh Đề. Chín nhánh “Cửu Long” bồi đắp cả miền đồng bằng, tích tụ nên hàng trăm cù lao lớn và hàng ngàn cồn nhỏ. Bên cạnh đó còn hàng trăm kinh đào, hàng ngàn sông rạch tự nhiên tạo thành hệ thống đường thủy nối liền chứ không chia cắt miền đồng bằng rộng lớn. Cùng với đường biển, Nam bộ có cả một nền văn minh sông nước trong đó phương tiện đi lại và giao thông đường thủy là một nét văn hóa đặc sắc.


Nếu những tuyến đường bộ xuyên qua cánh đồng lúa mênh mông, qua vùng Đồng Tháp Mười ngập tràn mùa nước nổi, qua những xóm làng xanh mướt mát… thì đi đường sông mới cảm nhận rõ sức sống bền bỉ của vùng đồng bằng lớn nhất nước này. Đi trên sông lớn sông nhỏ thường xuyên nhìn thấy những chiếc ghe lớn chở lúa gạo ngược xuôi tấp nập, hai bên sông là những nhà máy xay sát lúa gạo rất lớn, có đoạn sông tới cả chục nhà máy liền kề, dưới sông ghe đậu chờ nối nhau cả một đoạn dài. Có những chiếc ghe phải che chắn cơi nới thêm bằng những khung lưới cao, để có thể chở nhiều lúa hơn. Bạn tôi chưa quen nhìn cảnh này nên tưởng đó là ghe chở cát, vì cũng một màu vàng đượm phù sa được đổ vun cao trên chiếc ghe đầy muốn khẳm, “lúa đâu mà chở nhiều dữ vậy”?

 Khúc sông khác trên bờ san sát những lò gốm lớn, đang sản xuất gạch và nhiều sản phẩm xuất khẩu. Có khu xưởng đã ngừng sản xuất nhưng có lò vẫn tấp nập chuyển hàng xuống ghe, lên xe đi đến nhiều nơi. Lại có đoạn sông qua làng ươm cây, làng hoa… Thời gian gần Tết là mùa chính, những chậu hoa tươi tắn tràn ra mé sông, ra bên đường, xe tải, ghe xuồng đang ghé lại chọn cây giao cây tấp nập mua bán... Chừng tháng nữa khách du lịch đổ về, làng hoa thành khu du lịch kéo dài qua tết đến hết tháng giêng.

Khi đi qua những ghe chở lúc gạo, chở hàng hóa, những ghe câu, nơi nuôi cá bè, đi qua làng xóm... khách trên tàu luôn nhận được những cái vẫy tay thân thiện, lời chào từ các em nhỏ đạp xe đi học trên đường... Bất cứ đoạn sông nào tàu cũng có thể ghé vào nếu nơi đó có một cái bến, chủ nhà luôn niềm nở nhận lời cho tàu cập bến, vui vẻ trả lời những câu hỏi “tò mò” về làng xóm, về đời sống của họ. Nếu đi đường bộ thì ít có cơ hội để cảm nhận sự hiếu khách giản dị gần gũi này.

Có thể nhận thấy trên những con sông là tuyến giao thông thuỷ quan trọng còn rất ít những dãy nhà sàn dày đặc như trước kia. Có những đoạn sông nhất là đoạn qua các thị tứ đã kè bờ chắc chắn, làng xóm lùi vào nhường cho con đường chạy ven sông đổ bê tông sạch sẽ, xe máy xe hơi chạy ào ào… Phần lớn cảnh quan làng xóm miền Tây bình yên nhưng nhà cửa khang trang hơn trước. Đặc biệt những cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng như đình, chùa, nhà thờ, thánh thất Cao Đài... như mới được xây dựng lại, quy mô lớn hơn và không gian rộng rãi hơn.



Đoạn gần đến cầu Mỹ Thuận, từ sông Tiền nhìn lên mới thấy hết tầm quan trọng lớn lao và vẻ đẹp choáng ngợp của cây cầu này. Còn nhớ năm nào khánh thành cầu Mỹ Thuận 1, hàng tháng sau dân miền Tây còn từ các nơi đi ghe xuồng, chạy xe máy xe hơi... về đây ngắm cây cầu hiện đại đầu tiên của miền đồng bằng. Lúc ấy ai cũng mơ có thêm những cây cầu như vậy, để miền Tây thực sự thông thương, thông thoáng, thực sự phát triển không chỉ về kinh tế mà còn cả về văn hóa – xã hội. Nay miền Tây đã có thêm nhiều cầu mới, hiện đại, nối liền và mở ra cơ hội phát triển. Tuy nhiên đường cao tốc còn ít nên tốc độ lưu thông chưa thể nhanh chóng trong cả vùng. Điều này làm ảnh hưởng đến mức độ phát triển kinh tế mà cụ thể là hạn chế phát triển du lịch – một ngành quan trọng đang được nhiều địa phương quan tâm đầu tư.

Ngày trước ghe thương hồ và chợ nổi là những “đầu mối” mang hàng hóa từ miệt vườn, miệt thứ, miệt u minh… đi ra nơi thị tứ, lên thành phố. Ngày nay đi dọc các con sông ta còn thấy nhiều “chành” lúa gạo, trái cây, gần đây có những chành gốm… là nơi tập kết thu mua và chuyên chở sản phẩm đi khắp nơi. Thế mạnh của miền Tây là nông sản: trái cây, lúa gạo, thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp, nay còn có thêm những khu công nghiệp, khu chế xuất… Trong khi chờ đợi có thêm những tuyến đường cao tốc như nhiều vùng miền khác đã có, chờ đợi việc phục hồi và xây mới tuyến đường sắt từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây, nên chăng ở đồng bằng sông Cửu Long cần sử dụng đường thủy nhiều hơn để giảm tải cho đường bộ, tận dụng lợi thế của địa hình sông nước trong phát triển giao thông. Tất nhiên, những phương tiện như ghe, tàu, xà lan… cần được hiện đại hóa, đáp ứng về tốc độ, an toàn, bảo quản hàng hóa, không làm ô nhiễm nước sông … Đường thủy cần được bảo đảm an toàn, an ninh, hạn chế nạo vét khai thác cát hay xả chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Trước hết, để góp phần lưu giữ nét độc đáo của văn hóa miền sông nước, du lịch đường sông cần trở thành sản phẩm chủ đạo của ngành du lịch các tỉnh miền Tây. Tốc độ thong dong của tàu du lịch trên sông là cơ hội mang lại nhịp “sống chậm” cho du khách, giúp họ nghỉ ngơi, khám phá, giao tiếp, cảm nhận, suy nghĩ về những điều mới mẻ. Đó thực sự là một chuyến du lịch được tận hưởng trọn vẹn và trải nghiệm hoàn hảo.

Trong chuyến đi của tôi, vào một buổi chiều khi ánh nắng dần tắt trên sông, mùi khói bếp thơm thơm lan từ những ngôi nhà, văng vẳng giọng ca vọng cổ chất phác từ chiếc ghe đậu sát bờ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp... tôi gối đầu mỗi đêm...”. Khoảnh khắc ấy làm lòng du khách chợt chùng lại, ngẩn ngơ...

TP. Hồ Chí Minh ngày 20.12.2024


NHỮNG ĐIỂM NHẤN VĂN HÓA ĐÔ THỊ TP. HỒ CHÍ MINH 50 NĂM QUA

 Nguyễn Thị Hậu - BÁO PHÁP LUẬT TPHCM XUÂN 2025

1.     

Đô thị ra đời và phát triển từ chức năng là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa hay kinh tế của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Văn hóa đô thị là văn hóa của các thành phố và đô thị, bao gồm một hệ thống các giá trị, niềm tin, sự tự hào, hình ảnh, uy tín, lối sống và các thói quen truyền thống, qua đó tạo nên các chuẩn mực hành vi cho mỗi người dân và cộng đồng thị dân.

Văn hóa đô thị hiện diện trong không gian đô thị, bao gồm các yếu tố không gian tự nhiên (vị trí, địa hình, thiên nhiên) không gian nhân văn (quy hoạch, hạ tầng, các công trình, cảnh quan...), yếu tố thời gian là tiến trình lịch sử, yếu tố dân cư và văn hoá của họ. Đó là môi trường mà ở đó, các nhóm dân cư trở thành một tập hợp xã hội đặc biệt có văn hóa thị dân, tái tạo và phát triển các cấu trúc văn minh đô thị, phản ánh diện mạo riêng biệt của từng đô thị. Đánh giá “văn hoá của một thành phố” không thể không xét đến các yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau là không gian, thời gian, chủ nhân của thành phố đó.

Nếu tính từ khi con người có mặt trên vùng đất Sài Gòn, theo các bằng chứng khảo cổ học trải khắp từ Củ Chi – Hốc Môn – Thủ Đức đến nội thành rồi kéo đến Bình Chánh – Cần Giờ, thì thành phố này có tuổi đời đã trên 3000 năm. Cùng với cả Nam bộ, Sài Gòn không phải là một “vùng đất mới” như như quan niệm xưa nay. Đặc biệt nếu lấy mốc 1790 thành Gia Định được xây dựng theo kiểu phương Tây thì đô thị Sài Gòn hình thành vào loại sớm đã phát triển liên tục trên 200 năm.

Từ nửa sau thế kỷ 19, Sài Gòn được quy hoạch và xây dựng hiện đại hơn. Đó chính là “không gian đô thị” mới, là cơ sở hình thành “văn hoá đô thị” mới của thành phố, cùng với sự tồn tại của không gian cư trú và các thiết chế văn hoá cổ truyền giúp duy trì văn hoá truyền thống của cộng đồng dân cư. Có thể nói ở nước ta, văn minh đô thị Sài Gòn hình thành sớm, phát triển ở mọi khu vực, mọi nhóm dân cư.

2.

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, trải qua những biến cố chính trị lớn, kinh tế - xã hội thành phố có những biến đổi sâu sắc. Thời kỳ “bao cấp” ở TP. Hồ Chí Minh chỉ khoảng 10 năm (1975 – 1985) nhưng để lại di hại nặng nề không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, mà còn ở cả văn hóa – xã hội. Từ 1986, cùng với quá trình xóa dần “thời bao cấp” là thời kỳ phát triển kinh tế. Từ đó nhiệm vụ xây dựng “môi trường văn hóa” là điều kiện quan trọng nhất để TP. Hồ Chí Minh lấy lại diện mạo “văn minh đô thị”, tạo nền tảng cho vai trò “đầu tàu kinh tế” cả nước, cải thiện và nâng cao chất lượng sống của mọi tầng lớp nhân dân thành phố. Đó cũng là tiền đề cho tương lai gần, khi TP. Hồ Chí Minh có thể đạt đến quy mô “đại đô thị” trên 15 triệu dân.

Sau năm 1975 dân cư TP. HCM có sự thay đổi lớn về số lượng và tính chất. Một phần dân cư lâu đời rời khỏi thành phố, thay thế vào đó là những lớp người nhập cư đến từ khắp các vùng miền cả nước. Văn hóa thành phố ngày càng đa dạng... Tốc độ gia tăng dân số cơ học nhanh và phức tạp làm cho việc xây dựng lối sống “thành phố văn minh hiện đại” khó khăn hơn. Kinh tế phát triển mạnh mẽ nhưng văn hóa giáo dục chưa phát triển đúng tầm đã gây ra nhiều hệ lụy về đạo đức, lối sống, làm tổn hại nhiều truyền thống tốt đẹp. Quá trình hiện đại hóa và xây dựng hạ tầng cơ sở đã làm hủy hoại, biến dạng nhiều di sản văn hóa như các di tích tôn giáo tín ngưỡng truyền thống. Đặc biệt là sự thay đổi cảnh quan và biến mất nhiều công trình di sản thuộc về “ký ức đô thị” ở khu vực trung tâm đô thị Sài Gòn.

Từ khoảng 2014 đến nay đã có sự chuyển biến rõ rệt trong ý thức và hành xử của cư dân đô thị về “nếp sống văn minh đô thị”. Nhận thức về giá trị văn hóa và ý thức gìn giữ di sản của cộng đồng ngày càng nâng cao góp phần tác động đến những chính sách bảo tồn di sản của chính quyền thành phố. Chính quyền và người dân có sự quan tâm và cải thiện các quan hệ xã hội theo hướng tích cực. Đặc biệt, nét văn hóa đặc trưng nhất của Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh là sự phóng khoáng, năng động, nghĩa tình, nhân ái vẫn được duy trì và lưu truyền như một tài sản quý giá, “làm việc nghĩa” là tính cách của “Người Sài Gòn”, bất kể họ đến thành phố này từ đâu và từ khi nào.

Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh là một đô thị có những đặc trưng tự nhiên và nhân văn độc đáo. Chứng tích của quá trình lịch sử hiện diện trong hệ thống di sản văn hóa, gồm 7 bảo tàng của thành phố và một số bảo tàng ngành, bảo tàng tư nhân, cùng hệ thống di sản lịch sử - văn hóa. Hiện thành phố có 185 di tích đã được xếp hạng, trong đó 02 di tích quốc gia đặc biệt (di tích lịch sử); 56 di tích quốc gia (02 di tích khảo cổ học, 30 di tích kiến trúc nghệ thuật, 24 di tích lịch sử); 114 di tích cấp thành phố (66 di tích kiên trúc nghệ thuật, 48 di tích - lịch sử); Cùng với đó là hơn 130 công trình, địa điểm được đưa vào Danh mục kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa. Ngoài ra còn có hàng chục ngàn công trình nghiên cứu, hàng trăm ngàn loại tư liệu báo chí tại các thư viện và trung tâm lưu trữ... hiện nay được xếp vào loại hình di sản tư liệu.

Di sản văn hóa phi vật thể hiện diện ở thành phố có 2 di sản được UNESCO ghi danh (hát ca trù, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ) và 3 di sản được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Lễ hội Nghinh Ông huyện Cần Giờ, Tết Nguyên Tiêu của người Hoa ở quận 5 và Lễ hội Khai hạ - cầu an tại Lăng Ông Tả quân Lê Văn Duyệt quận Bình Thạnh). Ngoài ra còn nhiều sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống, lễ hội hiện đại như Đường hoa Nguyễn Huệ vào dịp Tết, sinh hoạt văn hóa mới như các Đường Sách trên khắp địa bàn trong Thành phố.

Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh có 07 đơn vị nghệ thuật công lập và 01 Trung tâm Tổ chức biểu diễn và Điện ảnh, có 01 Trung tâm Văn hóa và 07 Nhà văn hóa; 24/24 quận, huyện có Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Thể dục Thể thao, 24/24 Nhà văn hóa Thiếu nhi; 17/24 quận huyện có Nhà văn hóa Lao động, toàn thành phố có 5 nhà hát đáp ứng được yêu cầu của hoạt động biểu diễn và khoảng 10 sân khấu biểu diễn các thể loại kịch, tạp kỹ. Lớp trầm tích lịch sử - văn hóa tích tụ qua hàng ngàn, hàng trăm năm đã trở thành tài nguyên cung cấp chất liệu cho sự sáng tạo các lĩnh vực của văn hóa – nghệ thuật, điện ảnh. Trực tiếp “hưởng lợi” là ngành kinh tế di sản và du lịch văn hóa.

TP. Hồ Chí Minh có nhiều loại hình sản phẩm du lịch văn hóa, bao gồm: (i) Lịch sử: Bảo tàng và di tích lịch sử; (ii) Công trình và địa điểm văn hóa: Di tích, tòa nhà và địa điểm có giá trị văn hoá/khu vực có ý nghĩa giá trị văn hoá; (iii) Biểu diễn: Chương trình văn hóa và biểu diễn văn hoá và nghệ thuật; (iv) Nghệ thuật: Phòng trưng bày, bảo tàng nghệ thuật và triển lãm mỹ thuật khác (nghệ thuật không biểu diễn); (v) Con người và văn hóa: Phong tục tập quán, văn hóa và lối sống của người dân địa phương. Khu vực trung tâm thành phố, những cảnh quan đô thị Chợ Lớn, các di sản kiến trúc độc đáo bước đầu được tổ chức kết hợp với hoạt động thương mại, ẩm thực truyền thống, đồng thời bảo tồn, dần dần phục hồi những cảnh quan văn hóa – lịch sử để phát huy tiềm năng du lịch văn hóa từ lịch sử của thành phố.

Các loại hình biểu diễn nghệ thuật như cải lương, hát bội hiện nay đang bị mai một, chưa xứng đáng với vai trò là “Tiêu biểu truyền thống nghệ thuật biểu diễn Nam bộ” mà Sài Gòn là nơi tích tụ và đã phát triển đến đỉnh cao. Nhiều sản phẩm văn hóa  - nghệ thuật khác chưa được du khách trong và ngoài nước chú ý do thiếu quảng bá phù hợp và “hiện đại hóa” trong phục vụ. Trước 1975, Sài Gòn là nơi đầu tiên tiếp nhận, du nhập nhiều loại hình “công nghiệp văn hóa” trên thế giới, vì vậy phát triển công nghiệp văn hóa và văn hoá đại chúng luôn là một thế mạnh của đô thị này. Chính quyền thành phố đã xác định trong thời gian tới, bằng nhiều phương thức “xã hội hóa” sẽ xây dựng các “sản phẩm bom tấn” từ nguồn “tài nguyên văn hóa bản địa”. Vừa qua trong “Lễ hội sông nước” đã có một chương trình biểu diễn thực cảnh rất hiện đại và hấp dẫn, tạo dấu ấn và thu hút nhiều đối tượng du khách. Từ kinh nghiệm này sẽ định kỳ tổ chức những sự kiện văn hóa nghệ thuật mang tầm quốc tế như triển lãm Mỹ thuật, liên hoan Phim, Hội chợ sách, lễ hội quốc gia... để từ đó trở thành “thương hiệu văn hóa” cho thành phố.

3.

Mỗi đô thị có quá trình hình thành và phát triển theo quy luật chung nhưng cũng có những đặc điểm riêng từ nguồn gốc cộng đồng dân cư, từ tích tụ văn hóa và truyền thống lịch sử… Tất cả góp phần tạo thành vị thế và đặc trưng riêng của từng đô thị trong quốc gia, trong khu vực, được phản ánh rõ nét nhất qua các thiết chế và sinh hoạt văn hóa. Văn hóa TP. Hồ Chí Minh sau 1975 hòa nhập với văn hóa cả nước, nhưng thành phố luôn là nơi tiếp nhận và lan tỏa nhiều yếu tố văn hóa – kỹ thuật hiện đại, những phương thức kinh tế mới. Đồng thời thành phố vẫn lưu giữ được cốt cách, đặc trưng văn hóa Sài Gòn, Nam bộ: cởi mở, khoan dung, nghĩa tình, luôn lấy thực tiễn làm thước đo và giá trị của sự phát triển xã hội.

Chính quyền thành phố đang xây dựng, hoàn thiện các chủ trương, chính sách về phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở khai thác có hiệu quả ba nguồn lực quan trọng: thứ nhất là sự đầu tư của Nhà nước; thứ hai là nguồn lực của các tổ chức xã hội; thứ ba là nguồn lực của nhân dân thành phố.

 "TP. Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì TP. Hồ Chí Minh" không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, mà còn có những đóng góp quan trọng từ lĩnh vực văn hóa. Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại bắt đầu từ những quyết sách và sự thực thi chính sách của chính quyền trung ương và chính quyền thành phố trên quan điểm Phát triển bền vững. Đó là sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, di sản văn hóa. Bởi vậy, văn hóa chính là “tấm gương” phản ánh bản sắc và trình độ phát triển của TP. Hồ Chí Minh một cách trung thực và rõ ràng nhất.

Ngày 5.11.2024







TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...