Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng

ANH HAI (repost nhân sinh nhật anh)


Nhà có ba anh em, anh là anh Hai, đến chị Ba, và em là Út. Anh em mình cách nhau tròn một giáp. Ngày thơ ấu của em, ba thường xuyên đi công tác vắng, với em anh vừa là anh Hai, vừa là hình bóng của ba…
Má kể, má sinh anh vào những ngày kháng chiến ở Đồng Tháp mười. Mùa mưa nước ngập đồng mênh mang, không có một manh vải làm tã cho anh, ba phải kiếm bao bố đựng gạo về cho má giặt sạch, rồi các cô chú cho vài bộ quần áo cũ, anh được ủ mình trong những mảnh tã lót như thế mà vẫn lớn lên mạnh khỏe, “tròn cui”. Mùa nắng chang chang cháy khô cỏ lát, đất vàng phèn mặn, anh đã biết tự chạy ra hầm khi có máy bay, biết tát nước hầm cho má khi má sinh chị Ba… Không lạ là sau này anh rất thích bài hát “Lên ngàn” của Hoàng Việt, vì nó gợi nhớ nơi mà tuổi thơ của anh đã trải qua.
Ba má tập kết ra Bắc, bà nội bà ngoại năn nỉ má để anh lại hủ hỉ với nội ngoại vì chỉ đi hai năm rồi về thôi mà. Nhưng má thì luôn “mẹ đâu con đấy”, vì vậy mà anh em mình không bị xa cách nhau, nhà mình may mắn không lâm vào một bi kịch không ai muốn có, vì cha mẹ bên này con lại phía bên kia, như nhiều gia đình khác ở miền Nam sau năm 1975.
Những năm anh học trường học sinh miền Nam, thỉnh thoảng hè về thăm nhà, anh hay cõng em ra phố chơi. Thả em xuống đất anh cùng chúng bạn trèo sấu, dính ve. Một lần em lò mò đi xuống đường bị xe đạp xô ngã, mồm miệng sưng vù, anh lo quýnh quáng, ko phải vì sợ ba má rầy la mà vì thương em bị đau… Lớn hơn một chút, mỗi lần thấy bóng anh từ đầu ngõ, em chạy ra “anh Hai, em ko đi đất đâu, em đi dép rồi nè” và chìa bàn chân đen thui ra khoe! Anh nạt: đi vào rửa chân ngay, em phụng phịu: người ta rửa chân hôm qua rồi mà…
Ngày em đi sơ tán, anh đạp xe lên thăm em trong những ngày gió mùa đông bắc mưa dầm lạnh buốt, mua cho em từng trái cà chua hồng từng cái bánh khoai sọ, dỗ dành em đừng khóc mà nước mắt anh chảy dài khi quay về…
Anh Hai đi bộ đội từ năm 1968 khi anh đang làm việc tại Đoạn đầu máy xe lửa Hà Nội. Ngày anh nhập ngũ Hà Nội mưa to lắm, ga Hàng Cỏ ngập nước mênh mông. Em thì khóc òa khi con tàu đưa anh đi từ từ chuyển bánh, má vẫn cười nhìn theo anh nhưng tối về má lặng lẽ khóc… Nước mắt má cứ âm thầm như thế cho đến khi anh bình yên trở về…
Anh vào chiến trường trở thành lính binh trạm sửa xe ở miền Tây Quảng Bình. Tuyển đường anh thường xuyên đi lại là Quảng Bình - Quảng Trị, có khi vào đến Tây Nguyên, rồi tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trong thời gian này ba cũng dẫn đoàn văn công đi chiến trường. Một lần trên đường hành quân anh và ba tình cờ gặp nhau. Trong đêm tối mịt mùng, đoàn xe đi ào ào... hai chiếc xe đi ngược chiều nhau vậy mà linh cảm thế nào hai cha con nhận ra nhau, chỉ kịp gọi; Ba ơi – con Bửu... rồi đi tiếp. Sau chuyến đó sư trưởng Hoàng Đan biết chuyện đã bố trí cho ba đến binh trạm thăm anh một ngày.
Sau chiến dịch anh bị sốt rét nặng, được ra Hà Nội nghỉ phép và dưỡng bệnh. Ngày phép được hai tuần thì đi về đã mất một tuần. Ở nhà một tuần anh đi xếp hàng mua gạo cùi dầu thay em gái, hàng ngay chở má đi làm rồi anh lấy xe đạp đi thăm bạn bè, thầy cô giáo… À anh còn đi họp phụ huynh cho em, sau bạn em cứ khen mãi: sao bố Hậu trẻ thế 🙂
Hết 1 tuần anh quay về đơn vị, em gái níu ba lô, anh quay lại nói: lần sau anh về sẽ mang phong lan rừng cho Út nhé . Không, em không cần phong lan, em chỉ muốn anh Hai ở nhà. Anh Hai quay đi rưng rưng.
Năm ngoái mình có dịp quay lại Quảng Trị, đến những nơi mình được nghe ba và anh Hai kể lại nhiều lần: đường 9 Nam Lào, sân bay Tà Cơn, Làng Vây… những nơi ba và anh Hai từng đến, từng qua... Ba và anh Hai đã đi xa mấy chục năm rồi, vậy mà với mình chỉ mới như hôm qua...
Hình: Ba anh em ở HN, 1973



NGHĨ KHÁC VỀ CHIẾC ĐŨA


Hình như “tư duy bó đũa” chỉ có ở người Việt trong số những dân tộc dùng đũa để ăn?
Từ nhỏ đã được học một bài học qua hình tượng bó đũa: người cha gọi các con đến và đưa ra một bó đũa, nói các con bẻ thử xem. Không ai bẻ được. Người cha bèn bẻ từng chiếc, tất nhiên những chiếc đũa lần lượt gãy hết. Bài học: các con phải đoàn kết.
Nhưng, đũa chỉ thành “bó” khi có người bó buộc chúng lại. Còn chúng vốn là những chiếc rời rạc, khi cần người ta chỉ sử dụng hai chiếc thành “đôi đũa” để và cơm gắp thức ăn, thỉnh thoảng gặp đôi đũa vênh thì bực hơn lấy phải cô vợ dại (“vợ dại không hại bằng đũa vênh”, dân gian nói thế). Đũa cả (để xới cơm) hay đũa bếp (để nấu thức ăn) thì to hơn dài hơn đấy, nhưng cũng chẳng ai sử dụng cả bó. Túm lại, khi thành từng bó thì đũa chả làm được gì ngoài việc làm cái ẩn dụ nói trên; còn khi có tác dụng thật thì chúng chỉ là từng đôi, kết hợp chiếc này với chiếc khác đều được, miễn là (tương đối) bằng nhau. Mà cũng có thể dùng từng chiếc xiên xỏ cũng đưa được miếng ăn lên miệng.
Lại có câu chuyện liên quan đến đũa là Cây tre trăm đốt: bị lừa đi tìm cây tre có trăm đốt làm đũa cho đám cưới, anh nông dân phải nhờ Bụt ban cho câu thần chú khắc nhập khắc xuất mới lấy được con gái phú ông. Hẳn 100 đốt tre làm đũa cho cả làng dùng trong đám cưới, xong rồi cả nhà anh nông dân dùng hết đời cũng không hết. Chắc vậy nên sau đó không thấy có chuyện cổ nào có nói đến chiếc đũa nữa.
Ở phương Tây người ta không dùng đũa để ăn nhưng các bà Tiên (hay phù thủy) lại thường cầm đũa thần nhưng cũng chỉ một chiếc, không thấy tiên nào cầm cả đôi đũa thần. Chắc sợ lúc vung lên mỗi chiếc lại ra một phép thần khác nhau thì hỏng hết mọi việc.
Lớn lên lại có bài học về so bó đũa chọn cột cờ. Ý là khó chọn lựa lắm, thôi thì trong cái đám sàn sàn như nhau ấy chiếc nào nhỉnh hơn tí thì được chọn. Thoắt cái đổi đời từ đũa thành cột mà lại làm hẳn “cột cờ” cơ đấy! Thế mới biết cái sự “được chọn” ấy nó mong manh nhưng mang lại may mắn thế nào cho chiếc đũa chỉ dài hơn cả bó một tẹo. Bình thường chắc chiếc đũa ấy không được việc gì vì chả thành đôi với chiếc nào khác để mà sử dụng, bà nội trợ rửa chén bát gặp chiếc đũa như thế thì vứt bỏ ngay. Thế mà khi cần thì một chiếc đũa “không giống ai” cũng có thể trở thành “cột”. Tất nhiên, khi chiếc đũa vào vai “cột cờ” thì mặc nhiên người ta cho rằng đám đông kia ai cũng như ai, tất cả “bằng đầu” như một bó đũa, và giá trị của “cột cờ” này thế nào là nằm ở ý đồ người chọn.
“Tư duy bó đũa” là một kiểu tư duy cào bằng, không coi trọng giá trị của từng cá nhân. Thử hình dung một xã hội mà mọi người như những chiếc đũa giống hệt nhau từ chất liệu đến màu sắc kích thước như được làm từ máy! Mà bây giờ còn phổ biến loại đũa dùng một lần xong thì vứt bỏ dù có nhẵn đẹp hay còn vướng cọng xơ tre, chẳng có giá trị gì lâu bền. Kể cả đũa ngà đũa bạc mà vua chúa thường dùng chỉ quý vì là đồ dùng của bậc vua chúa chứ không phải vì giá trị “làm đũa” của nó.
Vậy, đừng tự hào là danh giá nếu được chọn làm “cột cờ”, bởi vì bản chất vẫn là chiếc đũa, ngồi vào vị trí cao quá khả năng thì chỉ làm vị trí ấy tầm thường đi mà thôi.
“Tư duy bó đũa” còn là sự đánh lừa chính mình. Làm gì có sức mạnh của cả bó đũa! Dù có đứng chung trong một ống đũa hay được buộc thành một bó thì đũa vẫn chỉ là những chiếc đơn lẻ dễ dàng bị tách khỏi cả bó. Một người thần kinh bình thường chẳng ai cầm cả bó đũa mà bẻ. Họ sẽ bẻ từng chiếc, lần lượt từng chiếc đến hết cả bó, vì tất cả những chiếc đũa không thể tự dính chặt vào nhau! Hoặc, điều này nguy hiểm hơn, họ quăng cả bó vào đống lửa, và do rời rạc nhỏ bé nên cả “bó đũa” sẽ bùng cháy nhanh chóng!
Đũa thì cứ là đũa, đừng cố gắng đua chen làm cột. Nhưng hãy thật cứng cỏi để không ai có thể dễ dàng bẻ gãy dù chỉ là một chiếc đũa. Mỗi chiếc đũa cứng cỏi sẽ tạo nên sức mạnh của cả “bó đũa” chứ không phải là ngược lại.
Sài Gòn 2016. Repost



TÀU LÁ CHUỐI và NHỮNG TẾT XA QUÊ


Nguyễn Thị Hậu
Gia đình tôi là người miền Nam tập kết ra Bắc. Từ 1954 đến năm 1975 trở về quê hương đồng bằng sông Cửu Long chúng tôi đã có 21 cái Tết xa ngôi nhà của ông bà nội ngoại. Vậy nhưng trong những năm ấy dù ở Hà Nội hay nơi sơ tán thì ngày Tết của gia đình tôi bao giờ cũng thấm đẫm hương vị Tết Nam bộ. Hương vị ấy có một đặc trưng rất riêng, ấy là mùi bánh tét gói bằng lá chuối.
Những năm sống trên đất Bắc ba tôi thường ăn Tết xa nhà, cùng đoàn Cải lương Nam bộ ông đi khắp nơi biểu diễn phục vụ đồng bào, chiến sĩ. Vì vậy ngày Tết thường chỉ có mấy mẹ con tôi cùng láng giềng trong khu tập thể, phần lớn các gia đình cũng đều vắng đàn ông. Nhưng nếu Tết nào ba tôi không đi xa thì nhà tôi như “câu lạc bộ Thống nhất”, nhiều chú bác tập kết ghé về đây ăn Tết vì chắc chắn sẽ có bánh tét, thịt kho tàu, dưa giá củ kiệu và nhiều món ăn Nam bộ khác.
Năm nào cũng vậy, từ khoảng rằm tháng chạp má tôi đã hỏi thăm nơi nào bán lá chuối, rồi mấy ngày sau đó dù mưa phùn lạnh thấu xương bà cũng đạp xe đi các chợ tìm mua chuẩn bị cho việc gói bánh tét. Nhưng người ta thường bán lá chuối đã rọc, vì vậy bà phải dặn trước mới mua được mấy bó lá chuối còn nguyên cả tàu lá. Má tôi rọc tàu lá cẩn thận để không bị rách, cọng chuối thì bà chẻ ra thành những sợi dây, buộc thành bó gọn gàng. Nếu trời hửng nắng, buổi trưa bà tranh thủ mang lá và dây chuối ra phơi cho hơi héo. Còn nếu vẫn mưa phùn gió bấc thì trước khi gói bánh bà tự tay hơ lá và dây trên bếp lửa gần tàn. Bà không để ai làm việc này vì nếu hơ không khéo, lá bị héo gói bánh không đẹp, dây bị giòn hoặc không đủ dai, khi “cột” bánh sẽ đứt. Hơ dây xong bà khéo léo buộc đầu hai sợi với nhau để đủ độ dài cột bánh nhiều vòng cho chặt.
Tôi hỏi: Sao má không cột bánh tét bằng lạt người ta bán sẵn ở chợ? – Vì lạt dễ làm rách lá chuối. Bánh chưng gói bằng lá dong thì mới buộc bằng lạt được. Lá chuối dễ rách nên sau khi hơ lửa, má tôi không rửa mà dùng mấy chiếc khăn mềm, nhúng nước vừa đủ ẩm, nhẹ nhàng lau mấy lần cho thật sạch. Sau đó xé thành những miếng lá to nhỏ khác nhau, xếp vào thành từng xấp. Gói bánh tét không có khuôn, một “đòn” bánh tét cần khoảng 5,6 miếng lá lớn và 4 miếng nhỏ để bọc hai đầu, chừng chục sợi dây cột chặt. Dây vụn lá vụn và những miếng lá xấu thì xếp vào đáy nồi luộc bánh.
Có năm má tôi còn gói cả bánh ít cũng bằng lá chuối. Gói bánh ít thì miếng lá chuối bên trong được cắt nhỏ vừa đủ quấn thành hình phễu, khi “bắt bánh” (đặt cục bột đã nặn nhân và xoa một ít mỡ cho khỏi dính) vào trong “phễu” lá gói lại theo hình tháp thì lá không rách, bột không bị chảy khi hấp bánh. Miếng lá ngoài còn tươi màu xanh mướt, gói bẻ góc làm thành chiếc bánh có hình tam giác cân gọn gàng, không cần cột dây mà khi hấp chín vẫn không bị bung ra.
Lá chuối còn được dùng khi nặn nhân bánh tét. Nồi đậu xanh nấu chín đánh nhuyễn để hơi se se, má tôi dùng muôi múc ra đổ trên miếng lá chuối, dàn thành hình gần chữ nhật mỏng đều chừng gần đốt tay. Mỡ lợn đã ướp chút muối, đường, nếu được phơi nắng thì miếng mỡ trong veo, cắt thành từng miếng dài gần gang tay, dày khoảng đốt ngón tay, đặt vào giữa dọc theo miếng đậu xanh. Cầm hai bên miếng lá chuối nhanh tay úp lại và nhẹ nhàng lăn cho nhân tròn đều, chỉ phút chốc nhân bánh tét đã thành hình trụ tròn, cục mỡ nằm chính giữa. Lúc này đậu xanh cũng đã nguội nên từ từ nhấc ra đặt lên cái đĩa lớn cũng lót lá chuối cho khỏi dính.
Đậu xanh chín thơm phức quyện với mùi lá chuối hấp dẫn vô cùng! Hấp dẫn hơn là sau khi nặn nhân bánh tét xong, má vét đậu xanh hơi xém ở đáy nồi, cho vào miếng lá chuối ấy và nắm lại cho tôi ăn, chao ôi là ngon!
Nhà tôi thường nấu bánh tét trong cái thùng tôn, bình thường dùng đựng đồ ít dùng đến, như một cái “kho” nhỏ ở góc nhà. Sáng ngày 29 Tết anh Hai tôi lấy ra cọ rửa sạch sẽ, sắp sẵn mấy cục gạch lớn thành cái bếp trước cửa nhà, chẻ đống củi đã mua từ vài tháng trước. Buổi chiều mấy má con vo gạo nấu đậu, tối bắt đầu gói bánh. Đến khuya là có thể nổi lửa nấu bánh. Bánh tét nhỏ hơn bánh chưng và xếp vào nồi cũng khác, khi bánh chín lấy ra không phải ép cối đá như bánh chưng mà lại treo lên cho bánh chắc lại. Vì vậy nhà tôi không nấu bánh chung với nhà ai được. Hơi nước sôi mang theo mùi bánh mùi lá chuối thơm ngọt ngào làm cho đêm đông ấm hơn và ngắn hơn. Sáng sớm 30 Tết đã có thể vớt ra những đòn bánh no tròn bốc hơi nghi ngút.
Những năm đi sơ tán về miền quê Sơn Tây mạn gần Phú Thọ, nhà nào cũng trồng chuối nên má tôi chỉ cần hỏi xin là được cả ôm những tàu chuối to và đẹp, thoải mái rọc lá xé lá mà không lo bị thiếu. Tôi còn nhớ mãi những lần má tôi gói bánh tét ở nơi sơ tán, bà con ở đó rất ngạc nhiên hỏi “vì sao bác ở miền Nam mà lại biết gói cái bánh tày quê cháu?”. Bà trả lời “tôi cũng chỉ biết ông bà dạy sao thì làm theo vậy”. Má tôi cũng ngạc nhiên không kém khi thấy những cái “bánh chưng tày” tròn dài như đòn bánh tét, chỉ khác là nhân bằng đậu xanh không đồ chín và không có cục mỡ, như vậy để được lâu hơn, bác chủ nhà nói vậy. Nhưng bánh tày để người trong nhà ăn, không để lên bàn thờ mà chỉ cúng bánh chưng vuông.
Sau này, tôi ra Hà Nội làm luận văn tốt nghiệp đại học đúng vào dịp Tết 1981, được Thầy Trần Quốc Vượng dẫn sang Cổ Loa ăn tết mùng Ba. Ở đây có lệ gói bánh chưng tày vào ngày mùng ba để tưởng nhớ vua Thục Phán An Dương Vương và cho con cháu về ăn tết mang theo. Tôi bỗng nhớ đến chiếc bánh tày bánh tét thời sơ tán... Đem chuyện hỏi thầy Vượng, thầy bảo: vùng cao và trung du người ta vẫn gói bánh tày đấy chứ, bánh tày nhưng không có nghĩa là chỉ loại bánh của người Tày, mà còn có nghĩa là hai đầu của cái bánh tròn bằng (“tày” chứ không nhọn). Sau này mới “học” người Kinh gói bánh chưng vuông, nhưng bánh tày không mất đi mà “lặn” vào trong lễ hội truyền thống và những ngày lễ trong gia đình như cưới hỏi giỗ chạp...
Phải chăng, theo bước đường lưu lạc vào phương Nam xa xôi, từ nhiều thế kỷ trước lưu dân đã mang theo những chiếc bánh tày làm lương thực ăn dần... Để rồi mỗi dịp Xuân về Tết đến tưởng nhớ quê hương bằng việc gói những chiếc bánh được gọi chệch đi là Tết/Tét? Sự giống nhau của bánh tày và bánh tét do cùng nguồn gốc hay do hiện tượng đồng quy văn hóa thì cũng mang lại nhiều điều thú vị. Nghiên cứu lịch sử cần tìm hiểu thêm những hiện tượng văn hóa như thế, vì nó sẽ cho biết nhiều “sự thật” mà sử học bỏ qua không ghi chép hoặc không chú ý.
Từ khi về Sài Gòn má tôi vẫn gói bánh tét bánh ít “để tết nhất con cháu biết mà làm”. Nhưng vài năm nay má tôi không được khỏe nên nhà tôi không gói bánh tét nữa, dù hai chị em tôi gói bánh thành thạo, các con gái biết cột bánh rất khéo, vì cứ bàn việc gói bánh tét là bà lại lo lắng đủ chuyện đến mất ngủ, như ở thời bao cấp ngày xưa...
Bây giờ ít nhà tự gói bánh vì có nhiều dịch vụ tiện lợi, ăn uống no đủ hơn nên bánh chưng bánh tét giò chả đâu còn là đặc biệt dù ngày Tết vẫn không thể thiếu. Mà Sài Gòn cũng chỉ còn vài nơi bán lá dong lá chuối hay lạt tre, còn dây bằng cọng chuối thì hầu như không còn nhìn thấy... Vậy mà mỗi khi Tết gần kề tôi vẫn hay đi chợ tìm nơi bán lá chuối, mua một xấp lá về để trong bếp cho thấy lại cái mùi Tết hồi những năm còn xa quê...



BẠN Ở NƠI XA

 Internet mang lại cho con người những trải nghiệm thú vị về một thế giới mênh mông mà cũng vô cùng nhỏ bé, khi chỉ một cú nhấp chuột là có thể đến bất cứ nơi nào mình muốn. Dù ở nơi đâu trên trái đất người ta cũng dễ dàng quen biết nhau, có thể cả đời chẳng gặp mặt mà vẫn trở thành bạn bè. Tôi đã quen nhiều người bạn như thế. Dù thường xuyên gặp gỡ đổi trao thân thiết trên mạng, nhưng khi có cơ hội thì chúng tôi vẫn cố gắng tìm gặp nhau. Và thật may mắn, những cuộc gặp gỡ ấy chưa bao giờ làm chúng tôi thất vọng.

Nhiều năm qua tôi có dịp đi công tác nước ngoài. Trước khi đi tôi liên lạc với bạn ở nơi tôi sẽ đến và luôn nhận được lời “rủ rê” của bạn, rằng sẽ đưa tôi đi chơi bảo tàng, di tích ở nơi này nơi khác. Nhưng rồi do thời gian chặt chẽ của công việc nên nhiều khi chỉ gặp bạn trong một cuộc cà phê vội vã, may mắn thu xếp được thì có bạn đến đón và đưa tôi đi quanh thành phố trong thời gian rảnh rỗi ít ỏi của cả hai.

Một lần ở Berlin tôi được gặp chị H. Tôi quen chị qua facebook, nhưng hóa ra chúng tôi biết nhau từ thời còn ở Hà Nội khi tôi còn bé xíu. Ngay buổi chiều đầu tiên khi tôi mới tới, chị đưa tôi đến một nơi khá đặc biệt: Khu tưởng niệm Hồng quân Liên xô trong thế chiến II, “nơi này rất ít khách Việt Nam đến tham quan, nhưng là một trong vài nơi đẹp nhất Berlin”, chị H. nói. Quả như vậy! Hơn thế nữa, khu tượng đài mang lại cho tôi nhiều cảm xúc, đã gợi nhớ một thời chiến tranh ở miền Bắc mà tôi không quên, bao nhiêu năm đã trôi qua.

Sống ở Berlin hơn 30 năm mà chị H. vẫn giữ giọng nói nhẹ nhàng, phong cách Hà Nội thuần khiết, chu đáo, nhiệt tình. Những ngày sau đó dù công vịêc rất bận rộn mà chị vẫn tranh thủ sau giờ làm việc đưa tôi đi tham quan thành phố. Anh chị định cư ở đây nhưng thường xuyên lên mạng xem tin tức, rồi trao đổi với các con để chúng gần gũi hơn với quê hương. Hai con của anh chị học rất giỏi, nói tiếng Việt khá tốt dù được sinh ra và lớn lên ở nước Đức. Có hôm hai chị em về đến nhà đã thấy cháu trai nấu xong bữa cơm. Tôi hỏi cháu có thích ăn cơm Việt không, cháu nói rất thích vì mẹ cháu nấu rất ngon. Chị H. cười hóm hỉnh, cả ngày các con ở trường ăn đồ ăn Tây, nói tiếng Đức tiếng Anh nên nhà ăn cơm Việt để nói tiếng Việt nhiều hơn. Học ngôn ngữ qua đường… dạ dày là nhanh nhất, phải không?

Ngay sau đó chị “trổ tài” làm ngay một “đặc sản” mà nay ở Hà Nội cũng ít người có thể nấu ngon: món bún thang. Đây là món ăn rất hấp dẫn, nhưng nấu thì phải thật tỉ mỉ, công phu. Giữa trời se lạnh xứ Tây mà chị dọn ra một tô bún thang nóng hổi thơm phức, đúng chuẩn đủ cả bún tươi, gà luộc xé tơi, trứng tráng mỏng xắt chỉ, giò lụa xắt chỉ, tôm khô, nấm hương và củ cải khô, thêm nhúm rau răm xanh mướt dậy mùi… Vị ngọt thanh của nước dùng hòa quyện với vị ngọt đậm của thịt gà vườn - mà chị phải về tận chợ quê để mua gà nông dân nuôi… khiến tôi ăn một lần và nhớ hoài, chỉ mong lần nữa được thưởng thức tô bún thang đậm chất “Hà Nội xưa”.

***

Tình cờ một ngày lướt facebook, tôi nhìn thấy một cái tên đặc biệt nhưng rất quen thuộc. Tôi đoán đó là người bạn đã bặt tin từ rất lâu. Hai đứa chỉ học chung với nhau lớp 12 ở trường Marie Curie từ năm 1975. Hồi đó, lớp học phần lớn là các bạn người Sài Gòn, chỉ có vài người là con cái cán bộ miền Nam tập kết trở về. Ba má của chúng tôi cùng kháng chiến ở miền Tây thời chống Pháp, cùng tập kết ra Bắc và hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, hai người cha rất thân thiết với nhau. Bởi vậy, bặt tin bao nhiêu năm nhưng khi tình cờ tìm thấy, chỉ một lời nhắn hỏi là nhận ra nhau ngay. Chúng tôi nối lại liên lạc và đã có dịp gặp nhau ở Paris. Bạn tôi vẫn giọng Hà Nội dịu dàng như ngày nào, vẫn những nét giống cha như hồi còn là cô con gái “rượu"...

Câu chuyện gì của hai người bạn, hai cô thiếu nữ biết nhau khi mới 17 tuổi, nay là những người phụ nữ “đã toan về già”, một đứa sinh sống trời Tây hơn 30 năm, một đứa ở Sài Gòn mà thường xuyên vẫn lang thang đây đó? Ký ức về cây kem Tràng Tiền ở Hà Nội, kem dừa Bạch Đằng ở Sài Gòn, về chuyện xếp hàng thời bao cấp vất vả khó khăn; chuyện về những người bạn chung, chuyện gia đinh con cái, chuyện xã hội… Nhưng trong câu chuyện của hai đứa nhiều hơn cả vẫn là kỷ niệm của hai người cha. Hai ông đều là người trí thức chân chính, “dám làm dám chịu” để bảo vệ giá trị nhân văn, tiến bộ của tác phẩm văn học - nghệ thuật, bảo vệ những người tốt trước quan niệm bảo thủ, giáo điều vào thời kỳ đất nước mới thống nhất… Những điều đó đã để lại cho hai chúng tôi sự hiểu biết, cách ứng xử và nhìn nhận xã hội giống nhau, để lại cho cả hai đứa cá tính biết chịu đựng mà cũng biết vượt qua nghịch cảnh để trở thành chính mình.

Trong chuyến đi chơi, khi qua một quán cà phê thơm lừng mùi bánh crepe, bạn rủ tôi vào và gọi những chiếc crepe thật ngon, bột mềm mịn thơm mùi bơ, trứng, mỏng mảnh và dai mềm, với ly cà phê có mấy viên đá để chiều theo sở thích của người Sài Gòn. Câu chuyện cuộc đời của bạn làm sống dậy ký ức về cuốn tiểu thuyết “Sans famille - Không gia đình” mà thời thơ ấu chúng tôi cùng yêu thích. Đó là cảnh cậu bé Remy đang háo hức chờ đợi chiếc bánh crepe ngon lành từ bàn tay của bà má nuôi Barberin, bất ngờ ông bố Barbarin từ nơi xa trở về… Thế là tất cả bột cả sữa, cả bơ cả trứng gà mà má Barberin đã phải đi vay hàng xóm… trong chốc lát bị ông bố đổ tuột vào nồi súp hành. Hết cả bánh lẫn bữa ăn ngon mà hai má con đã phải chờ đợi rất lâu mới có được. Những chiếc bánh crepe bị “cướp đi” là dấu hiệu bé Remy bị đẩy ra khỏi vòng tay thương yêu của má Barberin, bắt đầu bước đường lưu lạc đầy gian truân của cậu.

Bây giờ tôi mới biết lý do hai đứa bặt tin nhau, vì cuộc đời cũng đã cướp đi “chiếc bánh crepe” ngon lành của bạn và làm cho bạn bất ngờ phải bỏ lại quê hương ra đi… Nhưng rồi như cậu bé Remy, vượt lên trên nghịch cảnh bằng nghị lực và tình yêu gia đình vô bờ bến, bạn đã có được cuộc sống bình an nơi đất khách. Bằng sức lao động cần mẫn và khéo léo, bây giờ bạn đã là một trong số rất ít thợ lành nghề nhất của một hãng thời trang nổi tiếng của Pháp, người có thể làm “hàng mẫu” cho dòng sản phẩm cao cấp nhất của hãng. Không chỉ vậy, bạn còn trở thành người hướng dẫn, truyền dạy cho những thợ trẻ người Pháp kỹ năng thủ công tuyệt vời của mình.

Nhìn con cháu của bạn đã là những cô cậu “người Pháp” giỏi giang, thành đạt, nhưng rất tình cảm và chu đáo với bạn bè của mẹ từ xa đến chơi, tôi nhận ra rằng, tự bạn đã có thể làm những chiếc crepe ngon lành cho mình, luôn mang lại cho gia đình và bạn bè vị ngon đặc biệt của loại bánh này. Giống như cuối cùng cậu bé Remy đã được hạnh phúc bên gia đình ruột thịt sau nhiều năm xa cách vì nghịch cảnh.

***

Một lần đi trên đường phố Quận Cam (Mỹ), nhìn thấy mấy tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, tôi bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại chút gì của quê hương bên mình.

Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bạn nhắc hoài, bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm. Giữa buổi mà đói,  có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.

Một người bạn khác có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi. Email bạn gửi cho tôi đầy thảng thốt: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 40 năm sống ở Cali, đã tự coi mình như một người Mỹ “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.

Đặc biệt khi đến những ngôi nhà của các anh chị thì nhận ra ngay “nhà Việt”. Không chỉ có táo, nho, lê, mận căng mọng trĩu cành, chỉ nhìn thôi đã thấy vị ngọt thấm vào tận… bao tử, mà ngon hơn cả là giàn bầu bí xanh non, những ngọn mùng tơi, rau muống, đậu đũa, khổ qua xanh mướt trong khu vườn nhỏ. Tôi nói đùa: tranh luận về “nguồn gốc dân tộc” làm gì cho mệt, cứ nhìn cái vườn, nhìn bữa ăn thì biết ngay là người Việt gốc… rau: thiếu rau xanh thì không thành bữa cơm Việt.

Dù ở nơi nào trên thế giới, qua hàng chục năm xa đất nước nhưng các anh chị, bạn bè vẫn lưu giữ từng mảnh quê hương: chỉ là bữa bánh xèo Nam bộ với rổ rau sống xanh tươi đủ vị, đĩa rau luộc chấm nước mắm dầm trứng, tô phở gà đậm đà “Hà Nội”, bình gốm Bát Tràng, đĩa sơn mài mua từ phố cổ, những cuốn sách mới xuất bản ở trong nước, giọng nói Sài Gòn hay Hà Nội thuần khiết của một thời chưa xa, sự tinh tế trong giao tiếp, ký ức một thời “Sài Gòn hoa lệ” hay những năm “Hà Nội thời bao cấp”… Tất cả đã mang lại cho tôi cơ hội chiêm nghiệm một quy luật “văn hóa càng đi xa càng được bảo tồn nguyên vẹn”. Những người bạn ở xa… thời gian các anh chị gắn bó với quê hương dù nhiều hay ít nhưng những gì họ mang theo đã trở thành ký ức bền vững, bởi được nuôi dưỡng bằng tình yêu gia đình, tình yêu đất nước.

Mỗi lần chia tay bạn bè, tôi đều hẹn sẽ gặp lại, hàng ngày, trên internet. Để chia sẻ với nhau những khó khăn những nỗi buồn, để góp từng niềm vui, mang lại cho nhau chút bình yên khi cuộc sống còn quá nhiều bề bộn và bất trắc…

TC Người đô thị tết 2023 




ẤN DỘ VÙNG ĐẤT QUYẾN RŨ VÀ ĐẦY SỨC SỐNG

 Tùy bút. Nguyễn Thị Hậu

 

Đã lâu, từ góc độ nghề nghiệp, tôi mong muốn được đến Ấn Độ - nơi xuất phát nhiều yếu tố văn hóa có ảnh hưởng lớn đến khu vực Đông Nam Á vào thời xa xưa. Nhắc đến Ấn Độ người ta nhớ ngay nền văn minh sông Ấn rực rỡ cách nay hàng ngàn năm, nay còn lưu lại những đặc trưng văn hóa độc đáo. Ấn Độ được mệnh danh là “tiểu lục địa” với hơn 1,4 tỷ dân, là cái nôi của 4 tôn giáo lớn là Hindu giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo, cùng với hàng chục tôn giáo, hàng trăm tín ngưỡng khác...

Dịp may hiếm có vào cuối năm 2022 tôi được đến vài thành phố phía Bắc Ấn độ, nơi có vô vàn tuyệt tác kiến trúc từ cổ đại đến hiện đại. Chuyến đi đã cụ thể hóa và mở mang tầm hiểu biết của tôi về một trong những nền văn hóa có sức cuốn hút nhất thế giới.

Bắt đầu từ sân bay Indira Gandhi về trung tâm thủ đô New Delhi, trên xa lộ mỗi bên 8 làn xe vẫn đông nườm nượp, trong đó rất nhiều xe chở các đoàn khách du lịch. Càng gần thành phố càng kẹt xe dù ban ngày hay ban đêm. Vì vậy, tại New Delhi và nhiều thành phố khác, các khách sạn lớn hiện đại thường được xây dựng ở ngoài khu vực trung tâm để tránh ùn tắc, giảm lưu lượng giao thông và ô nhiễm không khí. Quy hoạch như vậy nhằm phát triển những đô thị mới ở vùng ven, hạn chế sự thâu tóm bất động sản ở các “khu đất vàng”. Quan trọng hơn là nhằm bảo vệ các khu phố cổ, công trình cổ và cảnh quan lịch sử ở trung tâm thành phố. Tại khu vực này phát triển hệ thống khách sạn nhỏ và homestay, “phố đi bộ”... giúp người dân có “sinh kế” ngay từ nhà cổ, duy trì và phát triển các khu phố shophouse và chợ truyền thống để phát triển kinh tế địa phương. Từ đó cộng đồng tích cực góp sức vào việc bảo tồn di sản di sản văn hóa, cũng là bảo vệ sinh kế cùa mình.

Tại New Delhi chúng tôi tham quan một số di tích đặc biệt như Đền Bahai - đền Hoa sen (Lotus Temple). Ngôi đền được coi là “một kỳ quan kiến trúc - di sản đương đại” của Ấn Độ, mới hoàn thành vào năm 1987 sau 10 năm thiết kế và thi công. Toàn bộ ngôi đền như một đóa hoa sen trắng khổng lồ mà vô cùng mềm mại. Những cánh hoa cách điệu ôm lấy búp cũng chính là mái vòm chính, xung quanh có cánh sen lại hóa thành hồ nước. Công trình cao 35 met, diện tích khoảng 105 ngàn m2, gian chính có sức chứa lên tới 2500 người. Điều đặc biệt là tại nơi này, bất cứ người thuộc sắc tộc nào, tôn giáo tín ngưỡng nào cũng có thể đến cầu nguyện những điều tốt lành. Có thể coi ngôi đền là biểu tượng của tinh thần hòa hợp, khoan dung của tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng ở Ấn Độ và trên thế giới. Trong không gian rộng lớn và yên tĩnh lạ lùng, khi nhắm mắt và cầu nguyện tôi có thể cảm thấy rõ ràng sự linh thiêng được tích tụ từ hàng trăm ngàn lời nguyện cầu tại đây...

Một kiệt tác khác tại New Delhi là Qutub Minar – quần thể công trình của nghệ thuật Ấn-Hồi xây dựng bằng đá sa thạch đỏ từ đầu thế kỷ XIII và UNESCO ghi nhận là di sản thế giới từ năm 1993. Đến đây ngắm nhìn vài công trình còn tương đối nguyên vẹn và những phế tích khác, nhớ đến khu đền tháp Angkor (Campuchia) và nhỏ bé hơn là Di tích Mỹ Sơn (Việt Nam), là những công trình xây dựng trong khoảng niên đại tương đương nhau, mới thấy hết sự vĩ đại của con người, sự vĩnh cửu của những giá trị văn hóa.

New Delhi có Nhà lưu niệm – Bảo tàng Mahama Gandhi, một dinh thự nhỏ trong khuôn viên rộng trên con đường lớn ở trung tâm thành phố. Đây là nơi “Thánh Gandhi” sống những giờ phút cuối cùng trước khi ông bị ám sát. Từ ngôi nhà đã trở thành một bảo tàng về cuộc đời của ông, có một con đường nhỏ trên đó đắp nổi những dấu chân cuối cùng của ông dẫn đến nơi ông ngã xuống, nay dựng một tấm bia lưu niệm. Chỉ đơn giản vậy thôi mà ai nhìn thấy cũng xúc động, bởi vì nó giản dị như chính cuộc đời mà Gandhi đã hiến dâng trọn vẹn cho nền độc lập của đất nước.

Từ New Delhi chúng tôi đi đến hai thành phố cổ là Agra và Jaipur. Khoảng cách giữa các thành phố này chỉ hơn 300km nhưng đi đường mất 5,6 tiếng. Đó là vì tuy xa lộ rộng lớn nhưng lưu lượng và mật độ xe dày đặc nên tốc độ tối đa chỉ khoảng 60km/g để giảm nguy cơ tai nạn giao thông. Xe khách còn phải dừng ở trạm nghỉ  từ 1 – 2 lần, nơi có đầy đủ quán cà phê ăn nhẹ, cửa hàng đồ thủ công mỹ nghệ, nhà vệ sinh sạch sẽ (phí là 10 rupi). Các trạm nghỉ còn trang trí những hình ảnh văn hóa Ấn Độ làm cho nhiều du khách thích thú check-in – một hình thức quảng bá cho văn hóa và du lịch.

***

Thành phố Agra là một điểm đến du lịch nổi tiếng nhờ những công trình thời kỳ Mughal. Nơi đầu tiên mà du khách đều phải đến chính là Đền Taj Mahal – di sản văn hóa thế giới, một trong 7 kỳ quan của thế giới đương đại. Toàn bộ công trình Taj Mahal gồm 5 khu vực: Darwaza (cổng chính), Bageecha (không gian vườn), Masjid (nhà thờ Hồi giáo), Naqqar Khana (nhà nghỉ) và Rauza (lăng Taj Mahal). Ngôi đền tuyệt đẹp được xây dựng bằng đá cẩm thạch trắng đặt giữa những khu vườn kiểng, là tượng đài kiến trúc tiêu biểu của Ấn Độ không chỉ bởi sự hoàn mỹ độc đáo, mà còn là biểu tượng cho tình yêu bất tử của vị vua Shah Jahan dành cho người vợ thông thái yêu quý của mình. Đến nay sau gần 400 năm, Taj Mahal vẫn luôn làm say mê bất cứ ai được chiêm ngưỡng vẻ đẹp diễm lệ của nó.

Tại đây từ sáng đến tối luôn có mặt hàng ngàn du khách nhưng sự tổ chức đón tiếp, hướng dẫn rất chuyên nghiệp. Là công trình luôn được bảo vệ ở mức độ cao nhất, ngay từ cổng vào du khách được kiểm tra an ninh và phát một thẻ nhựa nhỏ như đồng xu, lúc về phải trả lại thẻ này mới được ra khỏi cổng. Việc này nhằm thống kế số lượng khách chính xác đồng thời có thể kiểm soát không để lượng khách quá đông trong khu vực di tích, không để sót bất cứ ai còn lại khi đóng cửa di tích. Việc vào tham quan bên trong lăng mộ cũng được bố trí khoa học nhằm giãn cách dòng người, đồng thời tạo điều kiện để du khách có thể chiêm ngưỡng nhiều hơn những nét trang trí tinh xảo bên trong ngôi đền.

Nằm cách Taj Mahal khoảng 2,5 km về phía tây bắc là pháo đài cổ Agra được xây dựng bằng đá sa thạch đỏ từ thế kỷ 16. Quần thể pháo đài rộng lớn này còn có tên gọi là Pháo đài Đỏ, do các hoàng đế Mughal xây dựng khi Agra còn là thủ đô. Đằng sau những bức tường là các cung điện (Jahāngīr, Khās Mahal, Shish Mahal), sảnh đường và nhà thờ Hồi giáo. Một vài công trình trong số này được lát toàn bộ bằng đá cẩm thạch tinh khiết. Nổi bật là cung điện Khas Mahal và tòa tháp bát giác - nơi giam giữ vua Shah Jahan sau khi ông bị lật đổ. Từ ban công của cung điện này, nhà vua có thể nhìn thấy Taj Mahal, lăng mộ tuyệt đẹp mà ngài đã xây dựng cho hoàng hậu của mình. Chiêm nghiệm sự kỳ vĩ của pháo đài cũng là nơi chứng kiến những ngày kết thúc số phận của một trong những vị vua nổi tiếng nhất, chợt thấy ngậm ngùi...

***

Sau Angra chúng tôi đi đến Jaipur – “Thành phố hồng” xinh đẹp của Ấn Độ. Jaipur hiện đang trong top 10 thành phố xứng đáng ghé thăm nhất châu Á. Quả nhiên sự đánh giá này không sai!

Sau một tuyến đường dài nắng nóng giữa hai bên là những dãy núi đá thấp nhưng khô cằn, thỉnh thoảng là một cánh đồng nhỏ trồng cải đang mùa hoa vàng rực rỡ, thành phố Jaipur mới hiện ra với dáng vẻ kiến trúc hiện đại nhưng vẫn còn đó những di tích cổ được bảo tồn chu đáo. Thành phố Jaipur cổ bao gồm hàng loạt di sản văn hoá như pháo đài, cung điện cùng các công trình mang phong cách hoàng gia, nhiều khu phố cổ và chợ truyền thống... Tất cả đều khoác một màu hồng bắt mắt, rực lên trong nắng và lung linh trong những ánh đèn khi đêm xuống. Có thể nhận thấy Jaipur cũng như các thành phố khác đều cùng một định hướng “quy hoạch bảo tồn” để phát triển kinh tế di sản một cách hiệu quả.

Công trình Hawa Mahal nằm ngay trung tâm thành phố nên được nhiều du khách biết đến. Đây là một công trình đồ sộ kiến trúc đặc biệt với gần 1000 ô cửa sổ xinh xắn. Hawa Mahal còn được gọi là “Cung điện gió” xây dựng vào năm 1799 trong thời kỳ Vương triều Kachiwari Rajput. Cung điện xây theo mô hình tổ ong này nổi bật với những bức tường rất cao xây từ đá sa thạch màu hồng và đỏ, rất nhiều cửa sổ nhỏ để những cung tần mỹ nữ ngắm nhìn cuộc sống đời thường bên ngoài cung điện, nhưng không ai bên ngoài có thể nhìn rõ các nàng. Tuy nhiên du khách chỉ được ngắm nhìn và chụp hình cung điện từ phía các ngôi nhà đối diện: đó là những quán cà phê, quán ăn, tiện bán đồ trang sức, tơ lụa... Tất cả vui vẻ phục vụ du khách “check-in” với giá một ly nước giải khát hay mua một món đồ nhỏ. Thật là lợi cả đôi bên.

            Không chỉ là nơi có những công trình kỳ vĩ mà ở Jaipur chúng tôi còn được tham quan Đài thiên văn Jantar Mantar cổ đại: một khu vực rộng lớn tập hợp của 19 công cụ thiên văn được vua Maharaja Jai Singh II xây dựng từ năm 1727 đến 1734. Các công cụ thiên văn giúp các nhà khoa học thế kỷ 18 ở Jaipur dự đoán thời điểm xuất hiện nhật thực hay nguyệt thực, các hiện tượng gió mùa, nghiên cứu chiêm tinh qua 12 công trình tượng trưng cho 12 chòm sao... Tại đây còn có một chiếc đồng hồ bằng đá lớn nhất thế giới, cao tới 27m dùng để đo bóng nắng tính thời gian. Nơi này luôn có rất đông học sinh, sinh viên đến tham quan, học tập.

Jaipur còn nổi tiếng với hàng loạt cung điện xây dựng từ giữa thế kỷ XIX trên một ngọn đồi cao. Từ trên các tháp, ban công hay sân thượng, du khách có thể nhìn toàn cảnh Jaipur. Bảo tàng độc đáo hình thành từ "Cung điện Kiết tường" là nơi trưng bày sari, những tác phẩm in ấn và khăn choàng len đan dệt tinh tế. Pháo Đài Amber – một công trình hơn 400 năm tuổi, nổi tiếng với kiến trúc mang phong cách nghệ thuật Hindu. Điểm nhấn hoàn hảo cho pháo đài Amber chính là vị trí tọa lạc trên ngọn đồi cao nhất, có thể nhìn bao quát toàn thành phố và vùng phụ cận. Hình ảnh pháo đài đồ sộ mà thanh thoát luôn được phản chiếu xuống hồ Maotha xanh biếc - nơi cung cấp nước chính cho Cung điện và thành phố. Du khách dược cưỡi voi hoặc đi bộ trên những con đường lát đá hoặc hàng ngàn bậc thang theo lối mòn lên pháo đài, từ đó theo các “mê cung” đi khắp pháo đài, mải mê ngắm nhìn cảnh đẹp một vùng rộng lớn... Rồi đi xe jeep trở xuống dọc theo con đường tràn ngập những chùm bông giấy nhiều màu sắc.

***

Tại các thành phố nói trên còn rất nhiều địa điểm lịch sử, công trình di sản văn hóa nổi tiếng, mà chúng tôi chỉ kịp lướt qua hay đến trong chớp nhoáng do không đủ thời gian... Trong đó có nhiều cửa hàng thủ công mỹ nghệ nổi tiếng như tơ lụa, trang sức bằng bạc, vàng và đá quý, đồ da, thủy tinh, thảm... Ai cũng cố gắng mua một hai món quà lưu niệm – dù phải trả giá rất nhiều, nhưng nếu lỡ mua đắt một chút thì cũng hài lòng vì chất lượng và sự tinh xảo của sản phẩm.

Cũng như ở nhiều thành phố du lịch nổi tiếng, có thể quan sát và nhận thấy bên cạnh các trung tâm thương mại sầm uất hay khu vực của giới thượng lưu... luôn là các “xóm nhà lá” rất thô sơ, nhếch nhác của người lao động, người nhập cư. Tình trạng kẹt xe, ô nhiễm môi trường ở Ấn Độ thường xuyên ở mức báo động. Vùng nông thôn rộng lớn chưa có sự thay đổi nhiều về cảnh quan và lối sống. Ấn Độ cũng vừa trải qua đại dịch Covid-19 với những thiệt hại rất nặng nề. Rồi những thông tin bất ổn về an ninh xã hội...Tất cả điều đó dễ mang lại cho du khách cảm giác về một đất nước nghèo khó trì trệ... Nhưng thực tế đây là một đất nước đầy sức quyến rũ bên cạnh sự xô bồ, sự xa hoa sang trọng, hiện đại mà thấm đẫm tâm linh, một nơi hội tụ mọi sắc màu như các loại trang phục truyền thống nổi bật trên nền những ngọn núi và vùng đất bạc màu vì nắng gắt quanh năm...

Từ cung cách quản lý khai thác di sản văn hóa khá tốt, từ việc bảo tồn, trùng tu di tích đến phát triển kinh tế di sản, từ việc tôn trọng sự đa dạng về sắc tộc và tôn giáo tín ngưỡng để bảo vệ “đức tin” và sự hướng thiện của con người, từ nền tảng của một trong bốn nền văn minh sớm và lớn nhất thế giới cổ đại (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung quốc)... Ấn Độ sẽ luôn là một đất nước đầy sức sống và hấp dẫn đối với phần còn lại của thế giới.

 

Sài Gòn 20.12.2022


 “Cung điện gió” Hawa Mahal.


Đền Taj Mahal.


Pháo đài Amber.


Tác giả tại đền Hoa Sen.

SỐNG QUA NHỮNG NGÀY ĐẠI DỊCH

"Sống trong đời sống cần có một tấm lòng". TCS

Nhớ lại...
Đầu tháng 7.2021, thành phố Hồ Chí Minh bước vào những ngày căng thẳng khi chuỗi cung ứng hàng hóa thiết yếu, lương thực thực phẩm bị đình trệ và có nguy cơ đứt gãy. Tình trạng khan hiếm hàng hóa và giá cả leo thang xuất hiện. Ngay lập tức trên mạng xã hội đã có những lời nhắn nhủ: “Bạn bè ơi đừng tích trữ nhiều đồ ăn nhé! Vì một người mua thức ăn 3,4 ngày thì sẽ có người thiếu hụt 1,2 ngày! Năm ngoái Sài Gòn đã qua được qua hai tuần trong tình trạng “cả nước cách ly”, năm nay dẫu khó khăn nhưng chúng ta hãy bình tĩnh, nhường nhau chút xíu, rồi sẽ ổn!” Và thực tế ở các siêu thị hàng hóa tuy ít nhưng hầu như không xảy ra tình trạng tranh mua cướp bán.
Trong tình hình đó, người Sài Gòn đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều tỉnh thành. Thương quá những con cá hũ mắm từ Quảng Bình, Quảng Trị, những cần xé rau tươi trái cây khoai củ từ miền Tây, từ Đà Lạt, những đồng tiền chắt chiu từ Hải Phòng và nhiều tỉnh còn nghèo khác... Tất cả dù ít dù nhiều đến với Sài Gòn không chỉ là món quà vật chất mà còn là sự động viên tinh thần rất lớn trong những ngày khó khăn. Bởi vì Sài Gòn là nơi hàng triệu người đến đây kiếm sống, đóng góp nguồn sống cho gia đình ở quê hương cũng là góp phần vào sự phát triển của nhiều tỉnh thành.
Qua tháng 8.2021, hoạt động từ thiện của nhiều doanh nghiệp, các nhóm thiện nguyện ở thành phố đã tăng cường đến mức tối đa. Dù phải hạn chế đi lại, có lúc gần như trong tình trạng “thiết quân luật” nhưng mỗi ngày vẫn có hàng chục ngàn phần cơm cho người thiếu đói, những xuất ăn đủ dinh dưỡng thậm chí nóng sốt đến với những người đang ở tuyến đầu chống dịch. Hàng trăm ngàn phần gạo mì nhu yếu phẩm đến với những gia đình thất nghiệp, những xóm trọ của người nhập cư mất việc làm. Hàng trăm triệu đồng mua trang thiết bị chống dịch hỗ trợ các bác sĩ, nhân viên y tế, bệnh viện... được vận chuyển kịp thời đến tận nơi cần thiết. Trên đường phố Sài Gòn, trước nhiều quán hàng phải chăng dây giãn cách với người mua là tấm bảng ghi dòng chữ “Tăng giá là tội ác”. Nhiều người vừa bán vừa cho rau xanh các loại như một cách giúp nhau mùa dịch. Người Sài Gòn không tính toán thiệt hơn, đã chia sẻ cho nhau ngay cả khi chính mình cũng gặp vô vàn khó khăn. Trong gian nan tình nghĩa đồng bào ngày càng đầy hơn.
Hai tháng, rồi ba tháng cách ly toàn thành phố...
Đường phố đã vắng càng thêm vắng, những đoạn dây “cảnh báo”, hàng rào ở các ngõ hẻm, khu dân cư nhiều hơn. Số ca nhiễm bệnh, số người thiệt mạng tăng nhanh. Sài Gòn hoang vu như một thành phố “ngủ mê” vì bị mụ phù thủy Covid – 19 hóa phép. Phần lớn dân chúng ở nhà, nghiêm túc chấp hành “5K” và những chỉ thị khác của chính quyền, dù có bức xúc việc này việc khác nhưng mọi người đều hiểu rằng, chỉ có thể vượt qua đại dịch khi tất cả đồng lòng, tự bảo vệ mình cũng là góp phần bảo vệ cộng đồng.
Đây là thời gian hầu hết chợ búa ngừng hoạt động, một số ít siêu thị được hoạt động tăng hết công suất nhưng không thể cung cấp cho người dân hàng hóa theo nhu cầu tối thiểu hàng ngày. Ngay cả vào thời điểm này các nhóm thiện nguyện vẫn hết sức giúp đỡ những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, cố gắng không để một ai bị đứt bữa. Các bác sĩ và đội ngũ cán bộ y tế tiếp tục căng mình chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, tiêm chủng... cho người dân, trong khi bản thân họ không được nghỉ ngơi hồi phục sức lực, để có thể tiếp tục cuộc chiến ác liệt này.
Không thể “lùi” hơn được nữa, chính quyền thành phố đã khẩn trương, quyết liệt và có những thay đổi giải pháp phù hợp hơn trong chỉ đạo điều hành chống dịch. Những đồng tiền hỗ trợ tuy ít ỏi cũng đã đến tay người cần nhất, gạo và nhu yếu phẩm được đưa về từng gia đình thiếu đói... Chính quyền hiểu rằng, dân yên thì thành phố mới ổn! Nhưng hơn cả là trách nhiệm đối với những con người đã thầm lặng đóng góp cho sự phát triển của thành phố.
...Và suy nghĩ
Nhớ lại, để biết rằng ta đã vượt qua một khoảng thời gian kinh hoàng và hy vọng sẽ không có lần hai! Sau giây phút tưởng niệm đồng bào tử vong vì dịch bệnh, mỗi người đều thấy mình may mắn biết bao khi còn có mặt trên cuộc đời này, có thể gặp mặt người thân bạn bè, và nếu lúc nào đó ra đi thì vẫn có gia đình bên cạnh.
Nhớ lại, vì nhận ra sau biến cố đại dịch covid -19, cuộc sống của thế giới và mỗi người không còn như trước nữa! Đời sống vật chất vẫn cần nhà ở cơm ăn áo mặc, ta vẫn phải kiếm sống và sống đầy đủ hơn. Đời sống tinh thần là những mối quan hệ gia đình và xã hội, ta luôn mong muốn có được những tình cảm tốt đẹp, lâu bền.
Nhưng “bình thường mới” sau đại dịch là một trạng thái thật khó cân bằng, khi mọi thứ vật chất tinh thần đều trở nên mong manh dễ dàng biến mất như giọt sương dưới ánh nắng, nhưng cuộc sống luôn cần sự bình thản của sa mạc ngàn năm phơi mình dưới thiêu đốt mặt trời.
Nhớ lại, để hiểu rằng cuộc sống bình thường thật đáng quý biết bao! Đại dịch và những gì xảy ra giúp ta thấm thía hơn giá trị của “tài sản” tinh thần. Những ngày cách ly xã hội, sống bên gia đình người thân ta được tiếp thêm năng lượng yêu thương. Khi tiếp nhận quà hỗ trợ hay tham gia giúp đỡ đồng bào với tinh thần “thương người như thể thương thân”, ta được vun đắp thêm lòng nhân nghĩa. Chứng kiến sự tàn khốc của dịch bệnh, những mất mát đau thương quanh mình, ta càng thấu hiểu hơn sự thua thiệt bần cùng của những người yếu thế...
Nhớ lại để nhận ra rằng, sự quan tâm đến những số phận khốn khổ trong xã hội không bao giờ là thừa, lòng trắc ẩn với những người kém may mắn hơn mình không bao giờ là đủ! Nhưng không chỉ chọn thái độ “đứng về phe nước mắt” mà cần hơn là những hành xử tích cực, sao cho không ai còn phải rơi nước mắt vì phải chịu bất công và rơi vào tình trạng “bước đường cùng”, như quá nhiều số phận trong những ngày đại dịch vừa qua.
Tất cả, vượt trên sự tàn khốc của đại dịch là những tấm lòng và hành xử đầy nhân ái. Và từ đống tro tàn đại dịch, lòng nhân ái sẽ tiếp tục nảy mầm xanh vươn lên tươi tốt, bởi nó được vun trồng từ biết bao trái tim nhân hậu.
DOANH NHÂN VIỆT TẾT NHÂM DẦN 2022






NHỮNG NHỎ BÉ THƯƠNG MẾN NGÀY XƯA

 Tặng các chị em và các cháu gái <3

 Nguyễn Thị Hậu

Những ngày giáp tết nhà nào cũng có cảm giác sao nhiều việc thế, nôn nao chưa xong việc này đã thấy việc khác trước mắt. Rồi thì bà thì mẹ “bỗng dưng” cứ à với ồ, sau những cái à ồ ấy thế nào bọn trẻ cũng có thêm vài việc vặt... phổ biến nhất là dọn dẹp quét tước nhà cửa, rồi giặt giũ chăn màn chiếu gối, rồi gọt thái củ quả làm mứt, làm dưa góp dưa món... Những việc vặt thôi nhưng để làm thì phải có những vật dụng quen thuộc, hàng ngày đã cần thì ngày tết lại càng cần hơn.

Thời bao cấp trong các khu tập thể cao vài tầng gác, mỗi nhà thường có một cái “chổi lúa” quét nhà. Nhà ai dưới đất hay ngoài phố thì có thêm cái “chổi rễ” quét sân, dọn cống rãnh. Những cái chổi thường cái cán ngắn, nếu không tìm được đoạn tre buộc vào cho cán dài hơn thì phải khom mỏi lưng để quét. Tôi nhớ trong phim hay trên sân khấu kịch hay có cảnh “người mẹ (người bà) dừng tay quét, đưa tay ra sau đấm đấm lưng, mắt nhìn xa xăm như chờ người đi xa về ăn tết”.  Chỉ vài nhà có thêm cái chổi lông gà (thường để phủi bụi bàn ghế), đến tết lại vất vả đi tìm cành tre dài nối vào quét mạng nhện. Chưa kịp làm mà cả xóm mượn vòng quanh thì đến khi nhà dùng chổi lông gà đã rụng rơi gần hết.

Thời ấy nhà ai cũng chật, ngoài cái giường đôi cái tủ quần áo còn lại tất tật tống vào gầm giường kê cao thêm bằng mấy hòn gạch. Nền nhà tráng xi măng hay may mắn có “gạch hoa” thì luôn được lau sạch sẽ, mùa đông mùa hè đều bỏ guốc dép ngoài cửa. Việc lau nhà thường dùng khăn mặt hay áo may ô cũ bằng vải dệt kim thấm hút nước tốt, ngồi xổm và kéo lê cái chậu cái xô vòng quanh để lau hai ba lượt. “Bò ra mà lau nhà” là bình thường.

Những ngày mưa dầm hay sau tết giời nồm, quần áo giặt phơi không bao giờ khô, âm ẩm lành lạnh, vài ngày đã có mùi ẩm mốc. Khổ là giặt xong chỉ phơi ngang dọc trên đoạn dây phơi ngắn trong nhà hay ngoài hiên, nhà có trẻ con nhiều quần áo còn phơi chồng lên nhau, chị em phơi đồ lót phải phủ áo lên trên “cho kín đáo”... Gần tết mà trời hửng nắng thì quanh bể nước nhộn nhịp người múc nước người giũ xả chăn màn người giặt chiếu, rồi phơi la liệt bất cứ chỗ nào có thể. Chiều tối có nhà để bếp than tổ ong trong nhà để hong tã lót em bé, nhà kín đáo hơn cắm bếp điện dù điện yếu đoạn dây “mai-so” chỉ hồng hồng một chút.

Mỗi khi làm bếp nhiều cô gái sợ phải gọt củ quả bằng dao con, vụng tay hay dao cùn thì gọt vỏ bí bầu mướp hay bị sứt sẹo trông hết cả ngon lành lại còn bị mẹ mắng. Thỉnh thoảng nhà ăn rau sống, nhìn mớ rau muống tự chẻ có thể biết con gái nhà này có khéo tay không. Có lúc người ta nghĩ ra việc gài cái kim băng ở đầu mũi dao để canh độ dày mỏng, gọt vỏ bầu bí mướp hay chẻ rau vừa nhanh vừa đẹp. Nhưng không phải ai cũng làm thế vì sợ bị chê là “vụng”, là “vẽ chuyện”.

Những thứ bất tiện ấy cứ tồn tại mãi trong cuộc sống, một thời quen thuộc đến mức “đương nhiên”, không ai thấy sự mất công là phiền phức, không thấy cần phải “cải tiến” hay thay đổi cho thuận tiện hơn - dù trong lao động sản xuất thì luôn có phong trào thi đua “cải tiến kỹ thuật” sao cho “nhanh nhiều tốt rẻ”. Hàng ngày làm công việc nội trợ, phụ nữ “đảm đang khéo léo” chăm chỉ cứ phải luôn tay luôn chân. Nếp cũ thế nào thì người sau làm vậy, “cần cù bù thông mình” được coi là một lời khen ngợi, động viên.

***

Bắt đầu từ “thị trường” hàng hóa phong phú đa dạng ở miền Nam, sau thời bao cấp hàng tiêu dùng sản xuất ngày càng nhiều, chất liệu, mẫu mã được cải tiến, thay đổi phù hợp và thuận tiện hơn cho người dùng. Đáp ứng nhu cầu thị trường làm cho cuộc sống ngày càng tiện nghi hơn.

Chỉ chuyện cái chổi cái giẻ thôi, bây giờ biết bao loại chổi, giẻ lau nhà? Bên cạnh “chổi đót” phổ biến nhất còn có thêm chổi bằng sợi nilon giả đót, hình dáng màu sắc y hệt nhưng không bị rụng bông ra nhà, lại bền hơn. Chổi nào cũng có cán dài vừa tầm, có thêm cái hót rác và giỏ rác xinh xắn bằng nhựa đủ màu, trong nháy mắt nhà cửa sạch sẽ. Công sở có bộ chổi và ky hót rác gắn liền giúp chị lao công đỡ vất vả. Gần tết thế nào cũng có mấy ông bán chổi rong, tiếng loa pin oang oang “chổi lông gà chổi quét nhà” cụt ngủn chứ không ngân nga “chổi các loại đâyyyyy”... như ngày xưa. Gác dọc chiếc xe máy hay xe đạp là những cây chổi muôn màu sắc đã có cán dài ngắn khác nhau, chổi lông gà quét mạng nhện dài nhất, từ xa đã thấy những túm lông rực rỡ báo hiệu sắp đến những ngày bận rộn dọn dẹp quét tước.

Siêu thị, ngoài chợ bán rất nhiều loại cây lau nhà đủ màu sắc và chất liệu, loại nào cũng có cán dài vừa tầm đứng, có thể nhẹ nhàng đẩy lau mọi ngóc ngách. Từ loại miếng giẻ sợi cố định ở đầu cây lau đến loại có thể thay được miếng giẻ mới... nay thì phổ biến là combo cây lau nhà có thể xoay tròn và thùng đựng nước lại biết vắt khô giẻ lau. Nếu mà có “Huân chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ” thì tôi sẽ ủng hộ việc tặng thưởng cho phát minh ra combo này.

Khâu giặt giũ thì đã có máy giặt gia đình và cửa hàng giặt sấy có luôn ủi là gấp gọn nữa. Quần áo ngày một nhiều hơn nhưng đã có những chiếc móc áo tiện dụng, một lúc phơi được nhiều quần áo thẳng thớm, kín đáo và đẹp mắt. Xưa ít nhà có móc áo bây giờ móc nhựa móc nhôm hay inoc, lớn nhỏ, dài ngắn. Tã lót em bé đã có dàn phơi tròn có nhiều cái kẹp, tha hồ kẹp tất bao tay khăn tã quần áo... Lại còn “dàn phơi thông minh” lắp đặt sẵn linh hoạt kích thước, phơi chăn màn rất tiện. Từ nông thôn đến căn hộ ở thành phố, việc sử dụng móc áo đã tiết kiệm một cách có hiệu quả không gian phơi quần áo, làm cho trong nhà gọn gàng ngăn nắp và cảnh quan chung văn minh hơn.

Trong bếp bây giờ không thể thiếu con dao bào, thậm chí có nhiều kích cỡ khác nhau.  Không còn phải mắm môi mắm lợi đưa con dao đi cho khéo mà vẫn bị đứt tay, giờ thì củ quả gọt xong láng mướt ngon lành. Lại có thêm dao cắt tỉa hoa lá... món xào món nấu, hũ dưa chua dưa góp vừa đẹp vừa ngon. Ngày giỗ ngày tết “chấp hết” hàng rổ củ quả nhé, phụ nữ vẫn khoe tài khéo léo mà đỡ vất vả hơn nhiều.

Những vật dụng nhỏ bé này có mặt bên ta hàng ngày, ít người để ý cho đến khi thấy... thiếu, vì nó cần thiết cho công việc nội trợ nói nói chung và phụ nữ nói riêng. Tuy không phải là máy móc hiện đại hay đồ dùng đắt tiền, chức năng cũng đơn giản, nhưng nhờ luôn được cải tiến nên người dùng đỡ mất công sức và thuận tiện hơn, mang lại tâm lý thoải mái khi làm việc nhà. Cuộc sống tốt đẹp hơn có khi bắt đầu từ việc nhà cửa gọn gàng bếp núc ngăn nắp, khi công việc nội trợ hàng ngày trở nên nhẹ nhàng và thoải mái.

“Bình đẳng giới” không chỉ là thay đổi quan niệm phong kiến về nữ giới, không phải là “giải phóng” họ khỏi cái bếp hay cây chổi, giẻ lau... Mà còn là và cần hơn là làm sao cho phụ nữ được thực hiện thiên chức “bếp núc” của mình một cách thoải mái, thuận tiện, dễ dàng, để họ có thể giữ gìn sức khỏe, niềm vui, mang lại hạnh phúc lâu dài cho gia đình. Thực hiện bình đẳng giới hay giải phóng phụ nữ không chỉ là khẩu hiệu hay văn bản pháp luật, mà nó bắt đầu từ sự quan tâm và thay đổi những việc nhỏ bé nhưng cụ thể và tinh tế như vậy.

 

 Sài Gòn 16/12/2021

 



 

 

Ở NHÀ MÙA ĐẠI DỊCH




Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Đại dịch Covid-19 kéo dài đã hơn 3 tháng, những ngày gần đây việc phòng chống dịch bước vào giai đoạn quyết định nên quy định không tụ tập động người, hạn chế đi lại ngoài đường được chính quyền và người dân thực hiện gắt gao hơn. Nhiều người tiếp nhận tình trạng “ở nhà là yêu nước” một cách chủ động và tích cực trong mùa dịch bệnh nguy hiểm.

Từ sau tết đến nay hầu hết mọi người đã quen với sự thay đổi sinh hoạt: con cái nghỉ học mà cha mẹ đi làm nên không yên tâm, nay làm việc ở nhà dù sao cũng đỡ lo lắng không ai trông nom con cái và bảo ban chuyện học hành. Tuy vậy nhiều người không dễ thích nghi ngay với “môi trường làm việc” khác với nề nếp đi làm bao nhiêu năm.

Mỗi ngày ta đã quen đến công sở, có khi thứ bảy vẫn phải đi làm vì cần thiết. Những ngày ấy trong đầu ta luôn có dự định cho ngày nghỉ: không phải dậy sớm lo cơm nước đưa con đến trường, vợ chồng con cái thong thả ra quán ăn sáng cà phê, có khi đi chợ để nấu món ngon “ăn tươi” một bữa, dọn dẹp nhà cửa giặt ủi quần áo, rảnh rỗi có thể đọc cuốn sách, xem bộ phim hay về thăm bên nội bên ngoại, đến chơi nhà bạn bè... Coi vậy mà hai ngày cuối tuần qua nhanh lắm, chưa kịp nghỉ ngơi thì đã “thứ hai là ngày đầu tuần”, mỗi sáng ta lại lao ra đường chịu cảnh khói bụi kẹt xe chiều về mệt mỏi sau một ngày làm việc...Và lại mong ngóng đến cuối tuần để được ở nhà.

Thì bây giờ ta được ở nhà suốt tuần đấy. Nhưng cứ “quẩn quanh trong tổ” với những việc không tên thì phụ nữ cũng còn khó chịu nữa là đàn ông. Vì vậy hãy coi đây là cơ hội hiếm hoi để gần gũi gia đình con cái nhiều hơn. Chắc hẳn ta sẽ nhận ra vài điều “bất cập”: trẻ không tự chăm sóc bản thân vì mỗi ngày ta đều làm hộ trẻ cho nhanh cho kịp giờ đi học đi làm? Chồng con không biết phụ giúp dọn dẹp nhà cửa vì nhà có người giúp việc, vì coi đó là việc của mẹ? Trẻ luôn trốn trong phòng với máy tính, TV vì cha mẹ cũng luôn ôm điện thoại trên tay? Bạn nghĩ đi, một ngày đi làm về chúng ta nói gì với người thân yêu? Đây là cơ hội dành thời gian cho con, cho vợ/chồng nhiều hơn, cùng làm mọi việc và cùng trò chuyện để ngôi nhà của mình thực sự trở thành “tổ ấm”.

Bạn trẻ chưa có gia đình thì làm việc ở nhà sẽ “khó khăn” hơn do thói quen gặp gỡ và giao tiếp ngoài xã hội, vì vậy thời gian ở nhà như dài hơn. Không sao, lâu lâu người ta cũng cần “một mình” để ngẫm nghĩ về những điều đã qua và sắp tới. Và, yêu thương gia đình, yêu thương bản thân thì bao nhiêu thời gian cho đủ, phải không?

Tôi nghỉ hưu vài năm nên có kinh nghiệm “làm việc ở nhà”: hãy thoải mái nghỉ ngơi nhưng đừng lười biếng, mỗi ngày vẫn “nối mạng” để vận động trí não, để biết xã hội và thế giới ngoài kia đang diễn biến thế nào. Ngoài việc nhà thì nên có vài công việc làm thêm cho vui, để thấy mình còn có ích và không làm phiền con cháu.

Trong tiểu thuyết “Quy luật của muôn đời” - tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nga Nodar Dumbatze - có một câu rất đúng “Con người cần ốm nặng ít nhất là một lần trong đời. Như vậy người đó sẽ có dịp phân tích và đánh giá lại một cách tỉnh táo và bình tĩnh toàn bộ quãng đời đã qua”... Có thể nói cơn đại dịch Covid-19 đang làm cho cả thế giới ốm nặng, qua đó chắc chắn con người phải nhìn lại những gì đã làm với thế giới này, để có thể thay đổi trong tương lai.

Với mỗi người đây là cơ hội suy tưởng, hồi ức, trò chuyện, nhận thức lại quá khứ để hiểu chính mình hơn.  

Báo Thanh niện 29.3.2020


Không có mô tả ảnh.

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...