Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

BIÊN GIỚI THÁNG HAI - Tác giả: HUY ĐỨC

 Hôm nay 17/2/2025, đăng lại bài này của nhà báo Huy Đức (Trương Huy San), người đang trong vòng lao lý

BIÊN GIỚI THÁNG HAI
Tác giả: HUY ĐỨC
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“NHỮNG ĐÔI MẮT”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“CUỘC CHIẾN 16 NGÀY”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
LẶNG LẼ HOA ĐÀO
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
----
* Nguồn: Blog Osin.
* Bài gốc đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị vào đầu tháng 2/2009, nhưng đến ngày 09/2/2009 thì bị … 404.
* Bài lấy lại từ FB Trần Đức Anh Sơn với lời bình của ông: Có rất nhiều người ở Việt Nam hiện nay không biết ngày 17/2/1979 có sự kiện gì (tôi đã hỏi 10 người là: phó chủ tịch quận, trung tá công an, thiếu tá bộ độ biên phòng, chủ tịch hội đồng trường của một trường đại học công lập, trưởng phòng điều độ điện lực, công chức viện kiểm sát cấp quận, hai tiến sĩ trưởng khoa của hai trường đại học công lập, một trưởng phòng của ủy ban kiểm tra thành ủy… trong một cuộc nhậu [vô tình] tổ chức trùng ngày 17/2 vào năm 2020 trong một khu chung cư tạ Đà Nẵng, nhưng chỉ có một người biết sự kiện này. Vì thế, hàng năm, vào ngày 17/2, tôi đều đăng các bài viết liên quan đến sự kiện này. Ai muốn tìm hiểu thêm, xin đọc ở đây: https://vi.wikipedia.org/.../Chi%E1%BA%BFn_tranh_bi%C3...



TIẾP CẬN BẢN CHUẨN ĐỊA ĐỒ GIA ĐỊNH HƠN 200 NĂM LƯU LẠC (Phạm Hoàng Quân)

 Địa đồ "Gia Định tỉnh" do Trần Văn Học soạn vẽ năm 1815 (địa đồ TVH) đã rất được biết đến. Tuy nhiên, các bản lưu hành từ trước tới nay đều là phiên bản không hoàn chỉnh, cho tới rất gần đây.

Địa danh chữ Hán Nôm ghi trên các bản đồ phiên bản tối đa chỉ 32 nơi, và nhiều sai sót. Vài năm trước, may mắn thay, Bảo tàng TP.HCM sưu tập được từ nguồn tư nhân bức địa đồ cùng tên, nội dung vượt xa các bản đã biết.

Tôi nhận định bức địa đồ này chín phần là địa đồ Gia Định do Trần Văn Học thực hiện, có thể là bản gốc, nên học giới có thể lấy làm bản chuẩn trong những nghiên cứu sắp tới.

Bài ở đây ạ
https://tuoitre.vn/tiep-can-ban-chuan-dia-do-gia-dinh-hon-200-nam-luu-lac-20240928072156312.htm?fbclid=IwY2xjawFnFHVleHRuA2FlbQIxMQABHUxKMf9QpWKFPS8OBuYYQOs4Pnp4uYe1IgjsvieKyKNWXIQHqKRLsF_UuQ_aem_6677V6qq_ztpGIf_QP68TQ

Trước khi bức địa đồ của Bảo tàng TP.HCM xuất hiện, địa đồ Gia Định tỉnh cơ bản có một số bản như sau:

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 2.

Tuy không phải xuất hiện sớm, nhưng được phổ biến rộng là bản đồ hỗn hợp địa danh tiếng Việt, in trong Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 1-Lịch sử (1987, tr.229).

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 3.

Tạm gọi đây là Bản đồ hỗn hợp 1987 vì địa danh ghi trên đó vốn không phải chuyển dịch địa danh chữ Hán Nôm từ địa đồ TVH gốc, mà thâu thập địa danh chữ Latin từ Trương Vĩnh Ký và nhiều nguồn khác, có nhiều địa danh hành chánh không phù hợp.

Bản đồ hỗn hợp 1987 do đó chỉ có thể giúp tìm hiểu đại cương về địa danh, địa điểm ở địa bàn Sài Gòn thời Minh Mạng, chứ không thể hiện quan điểm của Trần Văn Học, không thể là nguồn tham cảo tin cậy về bối cảnh Sài Gòn năm 1815, do đó khó thể trích dẫn nếu đi sâu vào lãnh vực bản đồ học.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 4.

Sớm thấy trong nghiên cứu có thể dẫn trường hợp Louis Malleret, qua công trình Elements d’une Monographie des anciennes fortifications et Citadelles de Saigon (Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises, no. 4, 10-11/1935); và Les Anciennes Fortifications et Citadelles de Saigon (1674-1859) (Các thành cổ và công sự cũ ở Sài Gòn 1674-1859, Nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1936).

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 5.

Địa đồ “Gia Định tỉnh” do L. Malleret dẫn (1935 & 1936). Ảnh: Tư LIệU PHQ

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 6.

Bản đồ này địa danh chữ Hán-Nôm, không có lạc khoản (chữ Hán), chưa rõ ông dựa vào đâu để ghi chú (tiếng Pháp) thời điểm soạn vẽ.

Bản đồ cũng ghi đúng tên tác giả Trần Văn Học, và thời điểm soạn vẽ mùng 4 tháng 12 năm Gia Long thứ 14 (1815), ghi chú không ghi kích thước địa đồ.

Đây là bức địa đồ được sao chép (tạm gọi Phiên bản 1), đã bị cắt mất phần phía Đông (sông Sài Gòn, và bờ đông sông); không ghi địa danh, địa điểm nhiều nơi ở phía Bắc (lăng Bá Đa Lộc, lăng Duệ Tông, Hanh Thông xã, chợ Bến Cát…), và phía Tây (Gò Bình Hưng, Rạch Lao), đây cũng là tình trạng chung của các phiên bản.

Địa danh và địa điểm, ngoài mất đi do địa đồ bị cắt, phần còn lại cũng ghi thiếu rất nhiều, chỉ còn lại 32 địa danh (bằng 1/3 so với bản Bảo tàng TP.HCM).

Địa danh Nôm cũng viết sai và thiếu nhiều chỗ.

Chẳng hạn địa danh Gò Bàu Tròn và Gò Tân Định, với chữ Gò (ࡍ?) viết sai tự dạng (bộ thổ sai ra bộ ngọc, nhiều phiên bản sai cùng lỗi này).

Hai bên địa điểm "Trường Súng" thiếu 2 vị trí có ký chú "Mô súng đại bác" và "Mô súng cối" (các phiên bản đều không thể hiện và ký chú 2 vị trí này), thiếu sót này ảnh hưởng rất lớn đến tính hệ thống trong việc mô tả trận địa phòng thủ hay diễn tập mà Trần Văn Học lưu ý.

Đồn Rạch Bàng, Đồn Cá Trê trên các phiên bản đều chỉ vẽ ký hiệu mà không ghi tên. Những thiếu sót này trên địa đồ phiên bản hẳn sẽ hạn chế lớn việc phân tích của công trình Malleret.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 7.

Năm 1962, học giả Thái Văn Kiểm cho xuất bản chuyên khảo "Interpretation d'une carte ancienne de Saigon" trên Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises, n.s., 37, no. 4 (1962).

Phiên bản này, tạm gọi Phiên bản 2, ghi kích thước 27,3 x 38cm, cũng là bản sao chép không hoàn chỉnh, giống với bản Malleret.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 8.

Địa đồ Gia Định 1815 trong khảo cứu của thái Văn Kiểm. ảnh: tư liệu PhQ

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 9.

Có chỗ lấn cấn là trên địa đồ minh họa đếm thấy tổng cộng 33 địa danh (kể cả tiêu đề "Gia Định tỉnh"), nhưng bảng liệt kê kèm theo lại ghi 36 địa danh (Rạch Bến Chùa, Rạch Bến Chiếu, Rạch Bần không có viết tên Nôm trên địa đồ).

Sự so le giữa địa đồ minh họa với bảng địa danh đối chiếu cũng là một nghi vấn trong việc sử dụng các nguồn tư liệu trong khảo cứu của Thái Văn Kiểm.

Bảng đối chiếu còn có vài địa danh sắp chữ hay ký âm sai, như "Ngả tắt Mụ Chiểu" (tức Bà Chiểu), sai là "Ngả tắt Mụ Trị", do chữ Chiểu (沼) với chữ Trị (治) có tự hình gần giống, nên nhận lầm.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 10.

Kinh viện hơn, ta thấy Whitmore trong sách Lịch sử bản đồ học (1994) có dẫn hình ảnh và phân tích về bản đồ Gia Định tỉnh (The History of Cartography, Volume 2, Book 2, Chapter 12: Cartography in Vietnam. The University of Chicago Press, Chicago & London, 1994).

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 11.

Bản đồ Gia Định Whitmore, trang 502, trích từ the history of cartography- Volume 2, Book 2, chapter 12. ảnh: tư liệu PhQ

Whitmore ghi chú dẫn bản đồ từ Thái Văn Kiểm (tạm gọi Phiên bản 2 bis).

Ở góc độ nghiên cứu bản đồ học, Whitmore nhận ra địa đồ TVH đánh dấu bước chuyển biến về nhận thức và kỹ thuật.

Ông đọc được trên đó rằng "Các con đường lớn nhỏ và thành lũy có vẻ như rất chính xác, cùng những tòa nhà và ao hồ được thể hiện bằng ký hiệu đường viền quanh".

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 12.

Nhận định này dựa trên trực quan, Whitmore nhận thấy sự hợp lý về độ dài ngắn các cung đường trên tổng thể, hay cách dùng ký hiệu hình học để biểu thị nhà cửa phố xá (khác hẳn các địa đồ trước thường ước lệ và dùng ký hiệu tượng hình).

Nếu như Whitmore khảo sát đúng bản chuẩn, có lẽ sẽ đánh giá cao hơn nữa đối với địa đồ TVH, có lẽ là bức địa đồ Việt Nam đầu tiên áp dụng tỉ lệ xích theo quy cách địa đồ Tây phương.

Tóm lại, các phiên bản kể trên, được sử dụng trong nghiên cứu từ 1935 đến 1994, đều là những bản không toàn vẹn, đã được phổ biến rộng khắp.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 13.

Địa đồ hiện lưu tại Bảo tàng TP.HCM. Tiêu đề ghi "嘉定省" (Gia Định tỉnh), và dòng lạc khoản: "嘉隆十四年十二月初四日正監城欽奉掌奇臣陳文學奉畫地圖" (Gia Long thập tứ niên, thập nhị nguyệt, sơ tứ nhựt, Chánh giám thành Khâm phụng Chưởng cơ, thần Trần Văn Học phụng họa địa đồ) [Chánh giám thành, Chưởng cơ Trần Văn Học vâng mạng soạn vẽ địa đồ.

Ngày mùng 4 tháng 12 năm Gia Long thứ 14 (1815)].

Trong những phiên bản lưu hành trong học giới trước nay, chỉ thấy bản này đặc biệt ghi rõ lạc khoản, với thời điểm soạn vẽ và tên tác giả. Địa đồ có kích thước 50 x 31,5cm, trên Nam dưới Bắc, địa danh chữ Hán-Nôm, trên nền giấy.

Có thể tin đây là bản chuẩn.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 14.

Có thể 3 chữ "Gia Định tỉnh" là do nhân viên ở sử quán viết thêm vào sau năm 1832, lúc đã lập tỉnh Gia Định.

Có điểm cần lưu ý là, trên bản chuẩn này, tiêu đề và lạc khoản viết ngược 180 độ so với hệ thống địa danh, tức để đọc địa danh thì phải xoay ngược địa đồ.

Một lý do khác, để có thể hiểu vì sao Trần Văn Học không thể là người đề lên địa đồ 3 chữ "Gia Định trấn" hay "Gia Định tỉnh" là ông đương thời theo "Tây học", chắc hẳn nắm rõ địa bàn thể hiện trên địa đồ. Với phạm vi này, có thể hiểu đại khái ngày nay là "bản đồ nội thành Gia Định và phụ cận", chứ không thể là địa đồ cả tỉnh hay trấn Gia Định được.

Địa đồ TVH có hơn 80 địa danh, địa điểm, cho thêm rất nhiều thông tin, có thể cung cấp nhiều dữ liệu tốt trong nghiên cứu nhiều lãnh vực.

Với cá nhân tôi, tôi rất bất ngờ do trước đây cứ nghĩ J. L. Taberd là người đầu tiên ghi nhận địa điểm Holăng (Lăng Cha Cả), nay mới biết té ra Trần Văn Học đã vẽ rõ khuôn viên lăng và ký chú "Thiếu phó quan lăng", kế bên là khu lăng lớn hơn của Duệ Tông (Cựu Thượng hoàng lăng), ở phía bắc xã Hanh Thông (địa đồ chỉ ghi "Hanh Thông").

Một ví dụ khác: Trước đây nghiên cứu về đường Thiên lý Bắc Nam, tôi tham khảo nhiều nguồn mới biết con đường Bình Quới, giờ thấy địa đồ này vẽ rõ con đường, lại ký chú đủ địa điểm 3 nơi "Đò Đồng Cháy", "Rạch Đồng Cháy" và "Đồng Cháy quán".

Hay rất thú vị với tên "Ngả Tắt Lò Giấy", một tên rạch đã mất hẳn chưa thấy địa bạ hay sử chí nào nói đến, ứng với đoạn sông Bến Cát - Vàm Thuật khoảng chảy qua chỗ cầu Băng Ky.

Từ đó có thể suy đoán nơi này trước đây 200 năm từng có xóm nghề làm giấy nổi tiếng đến độ thành địa danh con rạch.

Về lịch sử hình thành các khu thị tứ, địa đồ này ghi tên "Thủ Thiêm thị" ngay bên bờ đông sông Sài Gòn (đối ngạn góc đường Tôn Đức Thắng), chợ này nằm giữa hai con rạch nhỏ, với ký hiệu hình học biểu thị nhiều khu nhà dọc bờ sông lớn về phía nam; và chợ Bến Cát (nay khoảng cuối đường Nguyễn Thái Sơn, gần bến đò Miếu Nổi) với ký hiệu nhà phố đăng đối liên tiếp và tản mát hai bên bờ rạch.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 15.

Địa lý môi trường và cảnh quang qua địa đồ TVH thật sinh động với sự thể hiện toàn vẹn khúc sông Sài Gòn ôm vòng phía đông thành Gia Định.

Thời điểm Trần Văn Học vẽ địa đồ, bên kia bến đò Đồng Cháy (Bình Quới) là địa bàn trấn Biên Hòa, việc diễn tả tổng thể phương diện hành chánh và quân sự địa bàn trung tâm trấn Gia Định không thể thiếu yếu tố giao thông, tức con đường cái quan huyết mạch về phía bắc, cho nên sông Sài Gòn cùng với bán đảo Thanh Đa là một bộ phận không thể tách rời.

Lạ thay, các phiên bản lại cắt mất không gian ấy. Vụ cắt xén này, nói vui một chút thì mấy tay làm phiên bản chỉ vì hà tiện một tấc giấy mà làm sai lệch ý đồ khái quát hóa rất hoàn chỉnh của Trần Văn Học.

Ai từng coi qua nhiều bản đồ do bộ phận do thám và quân đội Pháp thực hiện trong giai đoạn dòm ngó và tấn công thành Gia Định (1858-1861) sẽ thấy, về hiện trạng địa lý, nhiều bản đồ họ vẽ đều căn cứ nền địa đồ TVH, chỉ khác là thêm nhiều chi tiết về các địa điểm quân sự, và lược bớt nhiều yếu tố tự nhiên cùng các đối tượng thể hiện hình thái kinh tế.

Với mục đích quân sự, gắn liền với giao thông, các bản đồ Gia Định qua sự diễn tả của quân đội Pháp luôn thể hiện toàn vẹn khúc sông ôm vòng bán đảo Thanh Đa, với con đường bộ đi Biên Hòa.

Với địa đồ TVH bản chuẩn này, chúng ta thấy rõ được chân tích của một địa đồ quan trọng bậc nhứt trong lịch sử hình thành một thành phố tươi đẹp, ứng dụng khai thác nó cho điều mới mẻ và điều chỉnh những thiếu sót hoặc sai lầm trong những nghiên cứu trong 200 năm qua.

Tiếp cận bản chuẩn Địa đồ Gia Định hơn 200 năm lưu lạc - Ảnh 16.

(*) Tác giả trân trọng cám ơn tiến sĩ Lương Chánh Tòng, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu và Bảo tàng TP.HCM đã chia sẻ bản chụp với chất lượng khá tốt bức địa đồ TVH bản chuẩn, để viết bài này.

 
PHẠM HOÀNG QUÂN

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...