Hiển thị các bài đăng có nhãn khảo cổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khảo cổ. Hiển thị tất cả bài đăng

TỪ VĂN HÓA HÒA BÌNH - VÀI SUY NGHĨ VỀ VĂN HÓA ĐỒNG NAI

 Trích BCKH tại Hội nghị quốc tế 90 năm xác lập và nghiên cứu Văn hóa Hòa Bình (1932 – 2022)

3.    III.- Tiếp cận từ môi trường sinh thái

3.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái vô cùng quan trọng với cuộc sống của con người, nhất là trong thời nguyên thủy. Khi khẳng định “Lao động đã sáng tạo ra xã hội loài người” thì F.Engels cũng nói rõ “Kỳ thực thì lao động phải gắn liền với tự nhiên mới thực sự sản xuất ra của cải” [1]. Tất cả các cộng đồng người đều tác động lên môi trường sống của họ, trong phạm vi địa phương hẹp hay vùng rộng lớn. Trong đó, ảnh hưởng quan trọng nhất của con người đến môi trường tự nhiên là việc thuần hóa động thực vật, cách thức loài người quản lý, khai thác môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Có thể lấy thành tựu nghiên cứu về khảo cổ học Thời đại đồ đá Việt Nam minh chứng cho điều này.

Khi nghiên cứu tiền sử Việt Nam cũng như Đông Nam Á, khảo cổ học hết sức chú ý đến môi trường sinh thái  ở khu vực này phản ánh qua lối sống, cụ thể trong hoạt động săn bắt hái lượm của cư dân tiền sử. Căn cứ vào tàn tích thức ăn động thực vật, khảo cổ học nhận biết người cổ đã sử dụng nhiều loại thức ăn nhưng mỗi loại một ít, lại tùy theo mùa và thức ăn thực vật khá phong phú. Trong khi đó thức ăn động vật có được do hoạt động săn bắt không nhiều, phổ biến các loại động vật thủy sinh nhất là các loài nhuyễn thể nước ngọt, nước lợ… Khảo cổ học gọi đây là lối hái lượm theo phổ rộng. Từ đặc điểm này có thể nhận dạng hệ sinh thái ĐNA – Việt Nam là hệ sinh thái Phổ tạp với đặc trưng chỉ số đa dạng cao, số loài nhiều nhưng số cá thể ít, thực vật nổi trội hơn động vật về giống loài và số lượng, động vật thủy sinh chiếm ưu thế. Hệ sinh thái Phổ tạp phân bố ở khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, môi trường sông nước phổ biến…Trong môi trường sinh thái này, từ lối sống hái lượm theo phổ rộng và trội vượt hơn săn bắt, khi tiến lên nền kinh tế sản xuất thì cư dân ở đây sẽ phát triển một nền nông nghiệp đa canh, tức là thuần hóa nhiều loại thực vật một lúc và trồng trọt sẽ trội vượt hơn chăn nuôi [2]. Tiến trình từ thời đại đồ đá (các văn hóa khảo cổ như văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn, Hạ Long, Quỳnh Văn, Đa Bút, Hoa Lộc, Bàu Tró)…đến thời đại kim khí (văn hóa khảo cổ Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai) là sự thể hiện sinh động của quá trình này, đồng thời cũng cho thấy sự phát triển văn hóa đa dạng của thời tiền sử.

Về cơ bản hai nền văn hóa Hòa Bình và Đồng Nai khác biệt về niên đại và không gian văn hóa – môi trường sinh thái. Tuy nhiên cho đến nay đã có những phát hiện, ghi nhận về công cụ đá kiểu Hòa Bình ở vùng đồi badan thuộc tỉnh Đồng Nai. Mặt khác những nghiên cứu về khảo cổ học Nam bộ đều cho biết “săn bắt hái lượm” là phương thức sinh sống chủ đạo trong một giai đoạn dài của thời tiền sử Đông Nam bộ. Đây cũng là phương thức chính của cư dân văn hóa Hòa Bình. Có thể coi đó là “hình ảnh” của văn hóa Hòa Bình, một sự “tái hiện” trong điều kiện tự nhiên tương tự nhưng ở không gian khác và thời gian muộn hơn. Điều này có thể giải thích từ quá trình hình thành và phát triển khác nhau của địa chất, địa hình và môi trường sinh thái của hai nền văn hóa khảo cổ này [3].

Nét cơ bản của môi trường tự nhiên mà con người sinh sống là địa điểm cư trú và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lựa địa điểm cư trú. Thông thường thì đó là khu vực có nguồn nước hoặc vị trí thuận lợi cho di chuyển, tìm kiếm thức ăn, hoặc thích hợp về nhiệt độ (bóng mát, luồng gió…). Sự tương đồng đầu tiên của “người Hòa Bình” và “người Đồng Nai” là sự lựa chọn nơi/địa điểm cư trú thích nghi với địa hình và khí hậu. Văn hóa Hòa Bình còn được định danh là “văn hóa thung lũng, văn hóa hang động” do đây là khu vực cư trú chủ yếu của người Hòa Bình, không chỉ trong tỉnh Hòa Bình mà đặc điểm này còn hiện diện ở nhiều khu vực khác. Còn trong văn hóa Đồng Nai giai đoạn thời đá mới muộn, di tích phân bố ngoài trời tập trung ở khu vực đất đỏ badan - “thế giới thực sự của các nón núi lửa” – di tích của hàng trăm ngọn núi lửa hoạt động từ hàng triệu năm trước thời cánh tân Pleitocene. Trong thời toàn tân Holocene toàn vùng Nam bộ bị ngập do biển tiến trong khoảng thời Holocene sớm từ 10.000 năm cách ngày nay, đến Holocene giữa khoảng 6.000 năm biển tiến đến mức cực đại và lùi dần từ khoảng 4.000 năm[4]. Vì vậy nơi đây là địa bàn thuận tiện và phù hợp nhất cho lớp người cổ xưa sinh sống vì là khu vực khá cao ráo so với các khu vực khác.

Miền Đông Nam bộ nói chung và vùng đồi badan nói riêng khí hậu mang đặc điểm chung của ĐNA là nóng ẩm và mưa nhiều, nhưng chia làm hai mùa mưa/nắng rõ rệt, lượng mưa cao. Trải qua hàng ngàn năm nơi này đã hình thành các khu hệ rừng thưa thực vật rất thích hợp cho sự phát triển phong phú của các loài động vật trên cạn, dưới nước trong các dòng chảy sông suối, đầm lầy, rừng ngập nước. Người cổ Đồng Nai lấy hái lượm và săn bắt/bắn là phương thức sinh sống chính, họ có thể dùng tay hái lá, nhổ cây, bẻ trái, hoặc bắt cá tôm cua ốc, hoặc bắt các loại thú nhỏ bằng bẫy đơn giản làm bằng tre nứa, dây rừng… Những cách thức này không để lại dấu tích khảo cổ học nhưng có thể khảo sát qua đời sống của một số dân tộc bản địa tại miền Đông Nam bộ cũng như nhiều nơi khác [5].

Khai thác thực vật, động vật theo phổ rộng, có tính chu kỳ “mùa” nên người cổ Hòa Bình và người cổ Đồng Nai có kinh nghiệm về các loại thực vật, động vật sử dụng làm thức ăn, họ thường xuyên đánh bắt động vật thủy sinh dưới sông suối hơn là săn bắt động vật trong rừng nhiệt đới. “Sự xuất hiện của đồ gốm trong văn hoá tiền sử nói chung không nhất thiết phải gắn với kinh tế sản xuất với lối sống định cư, mà là do nhu cầu bức thiết của kinh tế hái lượm, đánh bắt những loại thuỷ sinh như ốc, cua, cá… Sự hiện diện của các tầng ốc dày trong các di chỉ Hoà Bình thể hiện một lối sống định hướng ven sông, ven suối, ven biển. Để làm chín thức ăn từ nguồn thuỷ sinh đó, họ không thể duy trì cách nướng từng con ốc, con cua, con cá. Sự ra đời của đồ gốm với chức năng là đồ nấu dường như là một hệ quả tất yếu của những cư dân Hoà Bình chuyên “ăn ốc[6]. Đồ gốm đã xuất hiện sớm trong văn hóa Hòa Bình với chức năng được lý giải như vậy. Có thể cho rằng những đồ gốm có mặt tại di chỉ Cầu Sắt cũng có chức năng tương tự, tuy tàn tích thức ăn không phong phú như trong các hang động văn hóa Hòa Bình, do mật độ dân cư và thời gian chưa đủ để tích tụ như vậy.

3.2  Trong một bối cảnh rộng hơn cần đặt văn hóa Đồng Nai, nhất là giai đoạn hậu kỳ đồ đá, với khu vực Nam Tây Nguyên. Về mặt địa hình, Đông Nam bộ có thể coi là vùng “chân núi, trước núi” của phần Nam dãy Trường Sơn, có quá trình lịch sử địa chất liên quan mật thiết với nhau. Ngoài ra sông Đồng Nai – Đạ Đờn luôn là yếu tố liên kết giữa miền núi, trung du phù sa cổ và đồng bằng cửa sông ở ven biển Đông Nam bộ từ thời tiền sử.

Những phát hiện gần đây về những hang động có di tích thời đồ đá, thậm chí di tích thời đá cũ đã hiện diện chắc chắn. Kết quả hợp tác khai quật Việt - Nga tại hệ thống di tích đá cũ An Khê (Gia Lai), Hội thảo quốc tế về Kỹ nghệ sơ kỳ Đá cũ An Khê đã đánh giá, khẳng định thêm một bước giá trị của di tồn văn hóa Đá cũ An Khê, với sự xuất hiện của người nguyên thủy sớm nhất hiện biết ở Việt Nam. Cuộc khai quật hệ thống hang động núi lửa Krong Nô, tỉnh Đắk Nông, các nhà khoa học đã thu được những kết quả rất quan trọng với nhiều di vật được phát hiện như đồ đá, đồ gốm, răng xương động vật. Đặc biệt là tìm thấy di cốt của người tiền sử có niên đại cách đây 7.000 năm. Phát hiện này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng  bởi đây là những phát hiện khảo cổ học người tiền sử đầu tiên ở hang động núi lửa ở Tây Nguyên.

Di tích Thác Hai (H. Easup, Dak Lak) được phát hiện đầu năm 2020 bên cạnh công cụ lao động như rìu bôn đá, đồ gốm và các mộ táng, các nhà khảo cổ còn thu được hơn 1000 mũi khoan (gồm cả những phác vật đang trong quá trình hoàn thiện) bằng các loại đá opal, đá silic, phtanit… cùng hàng vạn những mảnh tước nhỏ (vảy tước). Di chỉ có khung niên đại cách ngày nay từ khoảng 3.500 năm đến 2.000 năm và tồn tại kéo dài khoảng 1.000 năm, với hai giai đoạn phát triển sớm muộn khác nhau. Giai đoạn sớm thuộc Hậu kỳ Đá mới, đại diện là lớp văn hóa chứa mũi khoan, có mộ nồi, mộ đất, đồ tùy táng chôn theo chủ yếu đồ đá và đồ gốm. Giai đoạn muộn thuộc thời đại đồ Sắt, với lớp văn hóa chứa hạt chuỗi thủy tinh, mộ nồi vò chôn theo hạt chuỗi thủy tinh…[1]

Trong chuyên khảo bàn về “Hoà Bình ở Đông Nam Á: Văn hoá, những văn hoá hay phức hợp kỹ thuật” được công bố năm 1994, GS. Hà Văn Tấn đã lưu ý về tính đa dạng, phức tạp của bản thân khái niệm văn hoá Hoà Bình. Từ không gian phân bố trải rộng khắp ĐNA trên nhiều địa hình, trong khung thời gian kéo dài hơn 10.000 năm, nhiều nhà khảo cổ học khác đã đề xuất và sử dụng khái niệm “Phức hệ kỹ thuật Hoà Bình” (Hoabinhian Technocomplex) hay văn hóa Hòa Bình như “một phức hợp kỹ thuật” [2]. Tất cả phát hiện mới ở Nam Tây Nguyên càng cho thấy cần phải tìm ra mối liên hệ giữa văn hóa Đồng Nai với các văn hóa, di tích mới phát hiện ở Nam Tây Nguyên. Đặt văn hóa Đồng Nai trong bối cảnh sinh thái Nam Trường Sơn –  Đông Nam bộ để nghiên cứu như hiện tượng “dư âm” của “làn sóng chấn động” từ giai đoạn văn hóa Hòa Bình phát triển cực thịnh ở phía Bắc vài ngàn năm trước. Điều đó cũng sẽ góp phần minh định những khái niệm mang tính công cụ, lý thuyết nói trên.

Trong tiến trình khoa học đương đại, ngành khảo cổ chuyển dần vị trí từ là phương tiện chứng minh lịch sử sang tham khảo lịch sử để hiểu di tích cổ. Bản thân lịch sử cũng tìm đến nhiều lối tiếp cận khác nhau để lý giải (making sense) quá khứ. Khảo cổ cũng tìm sang các nguồn bổ sung và khu vực ứng dụng mới như nhân học, văn hóa học, khu vực học, du lịch, thậm chí còn tham gia tích cực vào lĩnh vực phát triển cộng đồng và truyền thông, công nghiệp giải trí… Ngành khảo cổ hiện nay không chỉ đơn giản là bảo tồn và tái hiện, diễn giải di tích, mà còn tái dựng (reconstruction) một kết cấu lịch sử, xã hội và văn hóa cả theo chiều không gian lẫn thời gian trong một hệ tọa độ mà người nghiên cứu sử dụng để khảo sát và nghiên cứu [1].

Thực trạng phát hiện, nghiên cứu văn hóa Hòa Bình qua 90 năm, văn hóa Đồng Nai gần 50 năm đã mang lại những giá trị “vật thể” và “phi vật thể” của di sản khảo cổ thời đại đồ đá mới Việt Nam. Đó là những chất liệu tuyệt vời để có thể tái dựng lịch sử, văn hóa và xã hội thời tiền sử vào giai đoạn có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ phương thức săn bắt hái lượm “phụ thuộc” tự nhiên chuyển qua hoạt động trồng trọt làm phương thức chính. Những “bảo tàng tại chỗ” như một số di tích của văn hóa Hòa Bình đã phần nào thể hiện được những giá trị đó. Còn đối với văn hóa Đồng Nai, cần sự quan tâm nhiều hơn mới có thể bảo vệ và phát huy giá trị của những di sản khảo cổ đa dạng và phong phú tại đây.

Hiện nay, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng cực đoan, sự tham gia tích cực vào việc “giải mã” quá trình lịch sử xa xưa của khảo cổ học tiền sử, khảo cổ học cộng đồng là một phương thức quan trọng, góp phần mang lại những bài học hữu ích từ sự ứng xử phù hợp với thiên nhiên nhân loại từ thời tiền sử.  

 







Nguồn: C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập, tập 20. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994. Phiên bản điện tử: http://www.cpv.org.vn

[2] Hà Văn Tấn (1982), “Các hệ sinh thái nhiệt đới tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á”, Tạp chí Khảo cổ học, số 3. tr.3-8

[3] Lê Bá Thảo, 2004. Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục

[4] Bùi Chí Hoàng (chủ biên) 2017. Sách đã dẫn. Tr. 16

[5] Bảo tàng lịch sử VN, Bảo tàng LSVN.TPHCM, 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử TP. Hồ Chí Minh. NXB Trẻ. Tr,338-347

[6] Trình Năng Chung (2019), nguồn đã dẫn.

[1] Báo cáo sơ bộ cuộc khai quật và nghiên cứu bước đầu các di tích trên. Tài liệu lưu tại Bảo tàng tỉnh Đăk Nông, Bảo tàng tỉnh Đăk Lăk

[2] Trình Năng Chung, 2019. Nguồn đã dần

[1] Nguyễn Thị Hậu, Lê Thanh Hải, 2010. Sách đã dẫn, tr. 271

@ Xong một việc của năm 2022

 


Tham gia HTKH quốc tế với phương thức BA KHÔNG: không vé đi lại, không chỗ ở miễn phí và không nhuận bút tham luận khoa học. Vậy nhưng HT vẫn đông, ai cũng có thời gian báo cáo, 10 tiểu ban luôn có người tham dự và thảo luận, và hầu như không có hiện tượng “sáng đông chiều vắng” như nhiều hội thảo khác.
Ngẫm, khi ta bỏ công sức viết bài thực sự, bỏ tiền bạc và thời gian tham dự HT thì sẽ tận dụng cơ hội này để thu nhận thêm kiến thức. Đơn giản vậy thôi 😊
Đặc biệt sinh viên tham dự đông đủ và tham gia thảo luận sôi nổi. Vì vậy, nếu BTC in một tập Tóm tắt nội dung tất cả tham luận thì việc theo dõi hội thảo sẽ thuận tiện và tốt hơn.
Sau hội thảo nhận thức rõ nhất của tôi là gì? Là quy hoạch cảng thời thuộc địa hợp lý và hiệu quả. Vì dựa vào đặc điểm của điều kiện tự nhiên, văn hóa , xã hội của 3 miền nên xây dựng 3 cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và Sài Gòn với những chức năng cơ bản của mỗi cảng, phát triển thành đô thị trung tâm của mỗi khu vực.
Xây cảng biển/sông hay sân bay không chỉ từ nhu cầu của một địa phương, vì cảng và sân bay không như bến xe khách, hai phương tiện này mang tính kết nối cao hơn trong một không gian rộng hơn vượt ra ngoai ranh giới hành chính một tỉnh, một quốc gia, một châu lục. Hiện tượng tỉnh nào cũng (đòi) có cảng và sân bay thể hiện trình độ tư duy còn ở giai đoạn quản lý “xe đò” 😀
À mà bến xe dành cho xe hơi/ô tô (Trước đây Sài Gỏn có “xa cảng miền Đông, xa cảng miền Tây” nay đã đổi thành “bến xe miền Đông, bến xe miền Tây”). Còn “cảng” thì dành cho tàu thuyền đường thủy. Vì vậy với máy bay thì nên dùng “sân bay” hay “phi trường” hợp lý hơn. Tiếng Việt đâu nghèo đến nỗi phải dùng “cảng hàng không” và “tàu bay”? 😊

@ Con đã đến con đường mang tên Thầy ở Đà Nẵng. Đường to đẹp, ở khu đô thị mới. Thấy quảng cáo giá nhà đất ở đây cũng khá cao, nhưng không thấy có quán bia hơi nào Thầy ạ. Nên khi con và Anh Son Tran Duc và bạn bè đến thăm Thầy thì Thầy trò mình phải đi uống 🍺 hơi xa ạ 😉
Tụi con luôn nhớ Thầy ❤




HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC HUYỆN CẦN GIỜ NHỮNG GIÁ TRỊ CỰC KỲ QUAN TRỌNG

TS. Nguyễn Thị Hậu 

Huyện Cần Giờ nằm ở phía Đông Nam TP.HCM, là vùng đồng bằng cửa sông – vịnh biển. Bề mặt đồng bằng thấp trũng bao phủ rừng ngập mặn và bị chia cắt do hệ thống sông rạch chằng chịt. Trên vùng địa hình phức tạp này các nhà khảo cổ học đã phát hiện được một hệ thống hơn 30 di tích khảo cổ trên các giồng đất đỏ. Dấu tích cư trú của con người từ rất sớm ở nơi đây đã làm cho môi trường sinh thái - nhân văn của Cần Giờ khác hẳn những khu vực rừng ngập mặn khác, nơi đơn thuần chỉ có dấu vết quá trình lấn biển của tự nhiên.

DI VẬT PHONG PHÚ VÀ ĐỘC ĐÁO
Từ những phát hiện đầu tiên vào những năm 1976 – 1978, qua nhiều lần khảo sát và 3 lần khai quật liên tục (1992, 1993 và 1994) và mới đây vào năm 2021 – 2022, các nhà khảo cổ học đã bước đầu phác dựng lịch sử Cần Giờ giai đoạn từ 3.000 đến khoảng 2.000 năm cách ngày nay, qua việc nhận diện các đặc trưng văn hoá khảo cổ nơi đây.
Các di tích khảo cổ học ở Cần Giờ phần lớn là di tích cư trú. Quá trình sinh sống và sản xuất gốm của cư dân cổ bắt đầu từ rất sớm, ngay trên nền sét biển và để lại tích tụ “giồng đất đỏ” khá dày.
Một số di tích từ nơi cư trú dần trở thành khu mộ táng, như tại di tích Giồng Cá Vồ và Giồng Phệt. Phần lớn di cốt được chôn trong chum gốm lớn với tư thế ngồi bó gối – tư thế của đứa trẻ trong bụng mẹ. Đây là điểm khác biệt nhất so với những di tích mộ chum khác ở ĐNA.
Di vật và đồ tuỳ táng của các di tích mộ chum Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt vô cùng phong phú và độc đáo. Đó là loại gốm sản xuất tại chỗ có đặc điểm riêng về chất liệu và loại hình, được dùng để nhận biết mối liên hệ của Cần Giờ với những khu vực khác. Đồ gốm tùy táng trong mộ chum rất đa dạng, cho biết mối liên hệ của chủ nhân di tích với các nền văn hoá Đồng Nai, Sa Huỳnh cùng thời và văn hóa Óc Eo ở giai đoạn sau… Đặc biệt nhiều đồ trang sức (vòng, hạt chuỗi, khuyên tai) bằng đá ngọc, mã não, thủy tinh, vàng… được sản xuất tại chỗ, nhờ việc nhập nguyên liệu và tiếp thu kỹ thuật chế tác từ những khu vực khác qua con đường thương mại trên biển Đông.
Tại các di tích này không có nhiều công cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có một số ít vũ khí tượng trưng cho quyền lực như giáo sắt và rìu đồng. Môi trường tự nhiên, di tích, di vật đã cho thấy khu vực Cần Giờ thời cổ không phải là một vùng phát triển nông nghiệp trồng trọt như nhiều nơi khác trong thời đại kim khí. Cư dân cổ nơi này có đời sống kinh tế khá đặc biệt là phát triển thương mại bằng đường biển hướng ra khu vực ĐNA hải đảo và xa hơn, bằng đường sông hướng vào ĐNA lục địa, kết hợp hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên tại chỗ.
Chính vì vậy, có thể cho rằng Cần Giờ hai ngàn năm trước đây là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

YẾU TỐ BIỂN TRONG CÁC NỀN VĂN HÓA
Vị trí địa lý của Cần Giờ khá đặc biệt, mang tính chất “mặt tiền” của lưu vực Đồng Nai rộng lớn, là “trạm trung chuyển” giữa lưu vực Vàm Cỏ – Đồng Nai hay là hai miền Tây – Đông Nam Bộ. Tại nhiều giồng đất ở Cần Giờ còn tìm thấy di tích của cư dân cổ thời văn hóa Óc Eo (như Giồng Am) và muộn hơn trong giai đoạn khai phá vùng lưu vực Đồng Nai (như Giồng Cá Trăng). Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai – Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” tuy xuất hiện khá muộn nhưng đã phản ánh tâm trạng của những đoàn lưu dân lênh đênh trên sông nước, từ vịnh biển Gành Rái - Cần Giờ hay từ vịnh Đồng Tranh - Vàm Cỏ đi sâu hơn vào lưu vực Đồng Nai – Cửu Long.
Chọn vị trí “cửa sông – vịnh biển” để cư trú và phát triển đời sống kinh tế giao thương, khai thác tự nhiên… có lẽ cư dân cổ Cần Giờ đã góp phần hình thành một trong những quy luật của “làng Nam Bộ”: định cư trên giồng cao nơi “giáp nước”, làng mạc mọc lên, trên bờ là thị tứ, chợ búa, dưới sông ghe xuồng ngược xuôi buôn bán. Ghe “thương hồ” thường nghỉ lại ở nơi “giáp nước”, đặng chờ nước lớn ngược vào đồng bằng hay nước ròng thì xuôi ra biển.
Hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ phản ánh mối quan hệ giao lưu rộng rãi của “cảng thị” Cần Giờ, đã có vai trò thúc đẩy sự phát triển của lưu vực Đồng Nai thời tiền sử. Đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình hình thành văn minh Óc Eo của vương quốc cổ Phù Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Từ các di tích khảo cổ học ở Cần Giờ, có thể nhận thấy yếu tố biển – đặc biệt là con đường giao thương/di cư trên biển Đông - là nguyên nhân của hiện tượng “đồng quy văn hóa” của nhiều nền văn hóa khảo cổ ở ĐNA, mà mộ chum ở hai di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt là điển hình. Còn yếu tố ở từng khu vực lục địa làm nên nét khác biệt giữa các nền văn hóa, như giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Cần Giờ.
Giao thương đường biển là một trong những yếu tố quan trọng tham gia ngay từ đầu vào tiến trình phát triển từ văn hóa Sa Hùynh đến văn minh Chămpa ở miền Trung, và từ văn hóa Cần giờ (trong bối cảnh lưu vực Đồng Nai) phát triển lên văn minh Óc Eo ở Nam bộ.
Các nền văn hoá khảo cổ thời kỳ tiền sơ sử ở ĐNA đã cho thấy Biển Đông không phải là yếu tố ngăn cách và cô lập các tộc người ở khu vực này, mà trái lại, đã là một “chiếc cầu” nối liền các tộc người ven biển với nhau, liên kết giữa ĐNA hải đảo và ĐNA lục địa, giữa ĐNA với những vùng xa hơn trong Thái Bình Dương bao la. Biển Đông từ thời xa xưa cho đến nay luôn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của khu vực Đông Nam Á.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
Huyện Cần Giờ có một hệ thống nhiều loại hình di tích lịch sử văn hóa như di tích khảo cổ học, đình, chùa, lăng mộ, di tích cách mạng, các di sản văn hóa phi vật thể như Lễ Nghinh Ông... Bên cạnh đó, Cần Giờ còn có một không gian cảnh quan độc đáo là rừng ngập mặn. Các di tích khảo cổ phân bố tập trung ở khu vực Cần Thạnh, Long Hòa và Lý Nhơn, ở đó hàng ngày diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá của dân cư với mức độ ngày càng nhanh, phong phú và đa dạng.
Điều này có nghĩa là cùng một lúc phải bảo lưu cho được những giá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ những di tích lịch sử, không gian, cảnh quan thiên nhiên vốn có, nhưng đồng thời phải đảm bảo phát triển một cách hài hoà có định hướng (bảo tồn thích nghi). Do vậy, đòi hỏi các phương án, giải pháp cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung và hệ thống di tích khảo cổ học nói riêng ở Cần Giờ phải được đặt ra khẩn trương. Bởi vì, hệ thống di tích khảo cổ học Cần Giờ có giá trị cao không chỉ về nghiên cứu khoa học mà còn trong phục vụ phát triển dân sinh và du lịch bền vững.
Theo quy hoạch “đô thị lấn biển Cần Giờ” thì hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ chưa bị ảnh hưởng trực tiếp. Tuy nhiên, triển khai cụ thể quy hoạch “lấn biển” và đặc biệt là việc kiểm soát tốc độ phát triển đô thị hóa và dân cư là hết sức cần thiết! Việc xây dựng một đô thị tại vùng cửa sông vịnh biển, trong điều kiện biến đổi khí hậu nhanh chóng và phức tạp như hiện nay chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng cảnh quan môi trường, tác động làm biến đổi điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng đến việc bảo tồn tự nhiên cũng là bảo tồn cảnh quan di tích. Không thể bảo vệ được hệ thống di tích khảo cổ của Cần Giờ, cũng là làm mất đi một di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của TP.HCM và của cả nước.
Các phương án bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống di tích khảo cổ học huyện Cần Giờ cần phải đặt trong qui hoạch tổng thể khu vực Cần Giờ nói chung và Khu bảo tồn sinh quyển nói riêng. Di tích gắn liền với cảnh quan môi trường. Cần Giờ còn may mắn giữ lại được hệ sinh thái rừng ngập mặn đã hình thành từ hàng chục ngàn năm trước. Trải qua thời gian chiến tranh lâu dài, tuy bị tàn phá nặng nề nhưng sự hồi sinh đáng kinh ngạc của rừng ngập mặn Cần Giờ không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, về kinh tế, mà còn có giá trị về lịch sử, vì đây chính là môi trường sinh sống của chủ nhân những di tích khảo cổ hơn hai ngàn năm trước.
Hệ thống di tích khảo cổ phải hoà nhập với quy họach bảo vệ khu Dự trữ sinh quyển, hòa nhập với quy họach bảo tồn những di tích lịch sử - văn hóa thành một tổng thể hài hoà, trong sự phát triển “đô thị hóa” huyện Cần Giờ. Phát triển bền vững huyện Cần Giờ phải lấy việc bảo vệ môi trường và bảo vệ di sản làm “chìa khóa” quan trọng nhất. Không phải chỉ để nghiên cứu mà phải dành cho người dân tìm hiểu, nâng cao tri thức và được thụ hưởng di sản của ông cha để lại. Đồng thời giới thiệu và quảng bá với du khách quốc tế, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa - lịch sử Việt Nam.
(Ùi ui lên hình trang nhất cơ đấy! 😃 )



CẦN GIỜ - DI TÍCH KCH ĐỘC ĐÁO

 @ Nhân cuộc khai quật di tích Giồng Cá Vồ, Cần Giờ, mình post lại vài nhận xét của mình từ kết quả nghiên cứu và làm luận án TS từ những năm 1994 - 1997.

Cuộc khai quật 2021 - 2022 cũng cho thấy những nhận xét này chưa lạc hậu, đồng thời cung cấp thêm tư liệu cho mình nghiên cứu những ý tưởng mới 🙂
CẦN GIỜ - DI TÍCH KCH ĐỘC ĐÁO
Từ những phát hiện đầu tiên vào những năm 1976 – 1978, qua nhiều lần khảo sát, thám sát và qua 3 lần khai quật liên tục (1992 - 1994 và 2021 - 2022), các nhà khảo cổ học đã bước đầu phác dựng lịch sử Cần Giờ giai đoạn từ 3.000 đến khoảng 2.000 năm cách ngày nay, qua việc nhận biết được những đặc trưng văn hoá khảo cổ nơi đây.
- Là những di tích chỉ cư trú có tầng văn hoá khá dày, hình thành ngay trên nền sét biển. Tích tụ của quá trình sản xuất gốm văn hoá đã góp phần cùng với tự nhiên tạo nên những giồng đất di tích khảo cổ.
- Di chỉ cư trú dần trở thành khu mộ táng với tục hung táng trong mộ chum là chủ yếu và điển hình: ở Cần Giờ phần lớn di cốt được tìm thấy trong tư thế chôn ngồi bó gối trong chum. Đây là điểm khác biệt nhất với những di tích mộ chum khác ở ĐNA.
- Di vật và đồ tuỳ táng của các di tích mộ chum Cần Giờ vô cùng phong phú và độc đáo. Đó là loại gốm Giồng Cá Vồ – Giồng Phệt, được coi là tiêu chí để nhận biết mối liên hệ của Cần Giờ với những vùng khác. Đó là vô số các kiểu đồ gốm mang phong cách của các nền văn hoá Đồng Nai, Sa Huỳnh, Óc Eo… Là các loại hình đồ trang sức cho biết nguồn gốc được sản xuất tại chỗ hoặc du nhập nguyên liệu và kỹ thuật từ những khu vực khác ở ĐNA hải đảo, là sự thiếu vắng các công cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có mặt một số loại vũ khí mang tích chất tượng trưng cho quyền lực.
- Môi trường tự nhiên, di tích, di vật đã cho thấy đây không phải là một nền văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng trọt – như nhiều nền văn hoá khảo cổ trong thời đại kim khí – mà chủ nhân của văn hoá này có đời sống kinh tế khá đặc biệt. Đó là phát triển thương mại kết hợp hoạt động khai thác tự nhiên.
Nghiên cứu nhiều nền văn hóa thời tiền sử ở khu vực ĐNA, có thể nhận thấy Yếu tố Biển – đặc biệt là con đường giao thương/di cư trên biển - là nguyên nhân của hiện tượng “đồng quy văn hóa” mà mộ chum là điển hình. Còn yếu tố lục địa ở từng khu vực làm nên nét khác biệt giữa các nền văn hóa, như giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Cần Giờ. Biển Đông từ thời xa xưa cho đến nay luôn có một vị trí quan trọng trong sự phát triển của khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển từ văn hóa Sa Hùynh đến văn hóa Chămpa và từ văn hóa Cần giờ (trong bối cảnh lưu vực Đồng Nai) phát triển lên văn hóa Óc Eo.
P/s. Chưa có bằng chứng chắc chắn về nhân chủng của cộng đồng người cổ ở Cần Giờ nên không thể nói đây là “di tích của người Việt cổ” như tin của vài báo, TV.
Hình: Di vật tùy táng trong mộ chum (cuộc khai quật Giồng cá Vồ năm 1994).










HỘI THẢO QUỐC TẾ 20 NĂM KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

 Phát biểu ý kiến tại hội thảo

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Do đó, vào năm 2004, khi đang tiến hành khai quật khảo cổ học địa điểm số 18 Hoàng Diệu – sau này trở thành một phần quan trọng của Di sản Hoàng Thành Thăng Long, các nhà nghiên cứu và người dân phía Nam đã vô cùng quan tâm theo dõi những kết quả đầu tiên, về việc phát lộ một giai đoạn quan trọng của kinh đô Thăng Long và của nhà nước Đại Việt trong lịch sử.
Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử và chiêm ngưỡng những di vật tiêu biểu của dí tích quan trọng này, ngày 25.2. 2004, 328 hiện vật thu được từ công cuộc khai quật di chỉ Hoàng thành Thăng Long ra mắt công chúng TP.HCM tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM trong một phòng trưng bày chuyên đề quy mô lớn.
Để kịp thời có được cuộc trưng bày này, Bảo tàng lịch sử TPHCM đã nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng chính phủ, UBND.TPHCM, UBNDTP Hà Nội , sự giúp đỡ và phối hợp tận tình của sở VHTT TPHCM, Viện Khảo cổ học thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN, và nhất là các nhà khảo cổ học đang trực tiếp khai quật và nghiên cứu tại di tích.
Có thể nói, đây là một trong những cuộc trưng bày quan trọng và thành công nhất của Bảo tàng lịch sử TP.HCM. Cuộc trưng bày được tổ chức cùng với nhiều hoạt động như tọa đàm khoa học, triển lãm lưu động tại các trường học, khu công nghiệp… đã mang lại nhiều kết quả về khoa học. Đặc biệt là đã ghi nhận được tình cảm chân thành và vô cùng cảm động của nhân dân miền Nam đối với kinh đô Thăng Long – Hà Nội, như câu thơ nổi tiếng của Tướng Huỳnh Văn Nghệ:
Từ thủa mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Từ sau cuộc trưng bày này, những kiến thức, tri thức mới có được từ cuộc khai quật và nghiên cứu khu di tích quan trọng này đã kịp thời được đưa vào giảng dạy tại trường ĐHKHXHNV.TPHCM, không chỉ trong chuyên ngành KCH, khoa Lịch sử mà còn tại các khoa khác có liên quan như Văn hóa học, Việt Nam học… Trong Giáo trình Khảo cổ học đại cương mới xuất bản của trường cũng đã có một phần trình bày “nghiên cứu trường hợp” Di sản thế giới độc đáo này. Đặc biệt, “Khảo cổ học đô thị” – một ngành rất cần thiết cho sự phát triển của các đô thị trong quá trình hiện đại hóa - qua trường hợp điển hình của “Hoàng thành Thăng Long” - đã là động cơ và gợi ý cho các nhà khảo cổ học tại TP.HCM nghiên cứu ứng dụng trong việc bảo tồn di sản đô thị SG – TPHCM một cách hiệu quả!
Năm 2010 Khu di tích Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới! Trong hành trình để đi đến kết quả này có sự ủng hộ nhiệt tình và đóng góp của nhiều học giả, các nhà nghiên cứu và nhân dân các tỉnh phía Nam, bên cạnh nhân dân cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Đó là sự đóng góp của cộng đồng cho “lịch sử xã hội” được quần chúng nhân dân làm nên và gìn giữ, bảo tồn.
Trong một cuộc họp của BCH Hội KHLSVN sau đó, GS Phan Huy Lê đã nói, đại ý “Đối với quốc tế, ta thể hiện việc nhà nước VN thực hiện tốt lời hứa của Thủ tướng chính phủ với UNESCO. Đối với TP Hà Nội việc chúng ta làm theo những khuyến nghị của các nhà khoa học trong và ngoài nước là đúng đắn!”. Đó cũng là những ý nghĩa đối với xã hội bên cạnh giá trị khoa học của khu Di sản thế giới này! 












HỘI AN - TỪ TIẾP CẬN KCH ĐÔ THỊ (trích một báo cáo HTKH 2021)

Từ năm 1995, tại Hội thảo khoa học “Văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An” tôi có tham luận “Về những yếu tố Sa Huỳnh trong văn hóa Giồng Phệt”. “Dù mọi so sánh đều là khập khiễng nhưng không thể không nhận thấy trong giai đoạn tiền – sơ sử, vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Cần Giờ trong bối cảnh miền Đông Nam bộ đã có những nét tương đồng với Hội An trong bối cảnh vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, ít nhất ở ba điểm sau:

- Là hai khu vực có dấu tích văn hóa khảo cổ trên những vùng đất cao giữa một phức hệ sông chằng chịt vùng cửa biển: Hội An với sắc thái văn hóa cồn – bầu còn Cần Giờ là sắc thái văn hóa giồng trên vùng ngập mặn.
- Những di tích văn hóa khảo cổ ở Cần Giờ và Hội An phần nào thể hiện sự chuyển tiếp từ thời kỳ tiền – sơ sử lên thời kỳ lịch sử của vùng đất phía Nam của tổ quốc: Văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa và nước Champa; Văn hóa Giồng Phệt lên văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam. tất nhiên không chỉ/không phải đơn tuyến và đơn giản như vậy!
- Là những cảng thị cổ cho thấy mối quan hệ giao lưu rộng rãi và mạnh mẽ của hai khu vực này với nhiều nơi ở ĐNA và xa hơn... Đây là những yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển rực rỡ của văn hóa giồng Phệt và văn hóa Sa Huỳnh thời tiền sử, văn minh Óc Eo, văn minh Champa trong những thế kỷ về sau”.
Có thể coi đó là những đặc trưng của Hội An thời tiền – sơ sử, cách nay trên dưới hai ngàn năm. Từ đó và trên cơ sở đó, trong quá trình lịch sử về sau Hội An đã tạo dựng được bản sắc riêng mà không làm thay đổi những đặc trưng vốn có, phát triển nó trong bối cảnh xã hội mới, phản ánh toàn diện những mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa của Hội An – Xứ Quảng – Đàng trong với nhiều quốc gia.
Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII và suy giảm từ thế kỷ XIX. Mặc dù thời gian tồn tại không dài, quy mô của đô thị Hội An trong thời thịnh vượng không lớn, nhưng Hội An có vị trí và vai trò quan trọng, có đặc trưng lịch sử - văn hóa độc đáo. Cho đến nay, trong khi hầu hết các đô thị cổ khác trải qua những biến thiên của lịch sử và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên đã bị hư hỏng biến dạng, hoặc bị cải tạo xây mới theo kiểu hiện đại, chỉ sót lại vài di tích rời rạc, thì Hội An lại được bảo tồn khá nguyên vẹn. Chính vì vậy mà đô thị cổ Hội An được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới căn cứ vào hai tiêu chí:
*Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
*Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo .
Cùng với đó, Hội An còn như “bảo tàng sống” của một đô thị truyền thống, một không gian văn hóa phi vật thể hết sức phong phú và giá trị. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những lối sống nếp sống, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nghệ thuật dân gian, lễ hội truyền thống, tri thức dân gian phong phú và đa dạng. Tất cả sinh hoạt văn hóa cộng đồng được “Người Phố Hội” gìn giữ và lưu truyền tạo nên sức hấp dẫn lớn.
Như vậy từ điều kiện tự nhiên và quá trình lịch sử, Hội An đã phát triển các đặc trưng thời tiền - sơ sử thành ba đặc trưng cho Hội An ngày nay:
1/Đô thị - thương cảng cổ
2/Đô thị dung hợp nhiều nền văn hóa
3/Bảo tàng sống của đô thị truyền thống
Đó là ba “ADN văn hóa” cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau và là điều kiện cho nhau tồn tại. Nếu các ADN này biến mất hay biến dạng thì Hội An sẽ không còn là Hội An nữa, thành phố không còn những “tài nguyên văn hóa” là “lợi thế cạnh tranh” trong khu vực và quốc tế, đảm bảo cho phát triển bền vững.
Mỗi đô thị đều sở hữu những tài nguyên văn hóa riêng biệt, độc đáo, bao gồm di sản lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc địa danh. Chúng cũng bao gồm truyền thống địa phương và bản địa về cuộc sống cộng đồng, lễ hội, nghi thức, ngôn ngữ, ẩm thực, các hoạt động giải trí... hợp thành tài nguyên văn hóa của đô thị. Một trong những phương thức khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa và thúc đẩy chúng phát triển, đồng thời duy trì và “bảo tồn” những tài nguyên ấy là sáng tạo “sản phẩm văn hóa mới” từ “tài nguyên, nguyên liệu” vốn có của địa phương. Khi yếu tố sáng tạo được chú trọng trong việc sử dụng và phát huy tài nguyên văn hóa, nó sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn.
Hình: Thăm nhà văn Nguyên Ngọc. Hội An 7.1.2022





BẢO TỒN DI TÍCH – TRÁCH NHIỆM Ở ĐỊA PHƯƠNG


Từ nhiều năm nay thực trạng di tích lịch sử văn hóa bị xâm phạm, phá hoại và phá hủy đã trở thành những hồi còi báo động khẩn cấp nhưng... phổ biến đến mức trở nên bình thường! Những di tích cấp Quốc gia, cấp tỉnh thành xuống cấp nghiêm trọng, di tích đã trở thành phế tích hoặc có nguy cơ “biến mất” do hư hỏng nặng mà không có kinh phí sửa chữa, trùng tu... Thực trạng này phản ánh tư duy và việc thực hiện chức trách của bộ máy quản lý di sản văn hóa ở các địa phương đã và đang không đáp ứng, không phù hợp với công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Có thể nói bắt đầu từ việc số lượng di tích được xếp hạng tăng rất nhanh nên nhân lực quản lý, kinh phí bảo tồn và trùng tu đều thiếu hụt nghiêm trọng. Bên cạnh đó là ý thức của cộng đồng nói chung, đặc biệt trong trường hợp liên quan đến tranh chấp đất đai, nên việc phá hủy di tích trở nên phổ biến. Mặt khác, việc khai thác di tích chưa đúng cách, không phù hợp cũng làm ảnh hưởng đến giá trị của di tích, như quảng cáo và giới thiệu sai lệch nội dung, việc “hạ giải trùng tu” mà thực chất là phá hủy di tích cổ xưa để xây dựng công trình mới ngày càng nhiều, không chỉ đối với di tích ở làng quê xây dựng bằng vật liệu không bền vững như gỗ mà còn xuất hiện ở những di tích xây dựng bằng vật liệu bền vững và tuổi đời khoảng một thế kỷ ở các đô thị.
Tình hình kéo dài như vậy làm cho các di tích dù cấp nào cũng dần dần trở nên giống nhau ở xu hướng ngày càng “hoành tráng” thậm chí không còn nhận ra yếu tố truyền thống nữa. Như vậy là đã làm cho di tích trở nên thật giả lẫn lộn về giá trị, về nội dung…
Ở một góc độ khác thì những di tích thực sự có giá trị lại đang không được bảo tồn trùng tu một cách xứng đáng.TP Hồ Chí Minh có hai di tích di tích khảo cổ học cấp Quốc gia nổi tiếng là Di tích mộ chum Giồng Cá Vồ (xã Long Hoà, huyện Cần Giờ) và Di tích Lò gốm cổ Hưng Lợi (P.16 quận 8). Đây là hai di tích đại diện cho hai thời kỳ lịch sử - văn hoá của thành phố. Di tích Giồng Cá Vồ khai quật năm 1994, là loại hình di tích mộ táng bằng chum gốm còn nguyên di cốt và nhiều đồ tuỳ táng quý giá, thuộc nền văn hoá khảo cổ Đồng Nai niên đại khoảng 2500 năm cách ngày nay. Từ mười mấy năm nay Sở VHTT lập phương án tiếp tục khai quật và lập bảo tàng tại chỗ để bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá – du lịch phối hợp với vùng du lịch sinh thái Cần Giờ. Tuy nhiên đến nay dự án vẫn chưa tiến triển được. Với đặc điểm là di tích mộ chum nằm dưới lòng đất nên nếu để càng lâu thì các chum này càng hư hỏng nặng hơn, không thể bảo tồn được di cốt và đồ tuỳ táng trong đó. Chúng ta có nguy cơ mất một di tích khảo cổ học có giá trị đặc biệt quý hiếm đối với khảo cổ học VN và ĐNA.
Với Lò gốm cổ Hưng Lợi – di tích hiếm hoi của “Xóm lò gốm Sài Gòn xưa”, niên đại khoảng thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là Di tích LSVH quốc gia từ 1998. Trải qua gần hai mươi năm di tích đã trở thành “phế tích” đúng nghĩa. Giá trị của di tích đã giảm đi rất nhiều khi mà không được bảo tồn, trùng tu, bị lấn chiếm và hầu như rất khó khăn cho việc tham quan, tìm hiểu nghiên cứu… Do không được bảo vệ và bảo tồn trùng tu kịp thời nên di tích hư hỏng rất nặng và vừa bị người dân thuê xe ủi san phẳng, xóa sổ hoàn toàn! Trường hợp này là một điển hình về sự vô trách nhiệm trong công tác quản lý di sản của địa phương.
Gần đây nhất là tình trạng di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối ở ở thôn Lai Xá, xã Kim Chung, H.Hoài Đức, TP.Hà Nội, Đây là di chỉ khảo cổ học có niên đại và giá trị về văn hóa - lịch sử vô cùng quý hiếm, có thể nói độc nhất vô nhị của Hà Nội.
Để di tích thực sự có giá trị cần bắt đầu từ việc rà soát hệ thống di tích cấp quốc gia, sau đó là di tích cấp tỉnh thành - với những tiêu chí thực sự khoa học và đặt trong bối cảnh của phát triển kinh tế - xã hội, của đời sống cộng đồng đang có nhiều biến đổi. Đồng thời, để có thể bảo tồn và phát huy giá trị thực sự tiêu biểu của từng di tích cần có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan quản lý có liên quan (văn hóa, tài nguyên môi trường, quy hoạch, xây dựng, luật pháp, chính sách...).
Tuy nhiên, ý thức của chính quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý di sản ở địa phương là yếu tố cực kỳ quan trọng: đó là việc tuyên truyền giải thích cho cộng đồng về giá trị di tích và phải thường xuyên kiểm tra, ngăn ngừa sự phá hủy di tích. Có như vậy mới kịp thời bảo vệ di tích, đề xuất những biện pháp, thậm chí cả chính sách, để phù hợp với thực trạng bảo tồn di sản văn hóa.
Nguyễn Thị Hậu

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...