Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÃNG DU QUA HAI THẾ KỶ



Người đàn ông ấy là Phan Vũ. 
Người ta gọi ông là nhà thơ, đạo diễn, tác giả, họa sĩ… những nghề và nghiệp ông trải qua và thành danh trong suốt cuộc đời gần một thế kỷ (và hôm nay vẫn tiếp tục) của ông. Nhưng tôi muốn gọi ông là Người lãng du với những ý nghĩa đẹp nhất của từ này. Người đàn ông lãng du với một trái tim sôi nổi và trong trẻo, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không đánh mất sự sôi nổi và trong trẻo ấy…

Phan Vũ thuộc thế hệ những nghệ sĩ trong hoàn cảnh thuộc địa đã tiếp nhận nền văn hóa Pháp qua văn chương, nghệ thuật và cả tinh thần tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp. Đó cũng là thế hệ “cầu nối” giữa văn hóa phương Tây và văn hóa dân tộc, giữa truyền thống với “đổi mới” sau những biến động lịch sử bi tráng của thế kỷ 20 mà các ông cũng là những người góp phần làm nên.

Có lẽ phải đến một độ tuổi nào đấy, người ta mới thấm được những gì mà thế hệ nghệ sĩ như Phan Vũ và nhiều người khác đã trải qua và để lại bằng những tác phẩm của họ, là văn, thơ, họa, nhạc... hay chỉ là những mẩu chuyện kể lại một cách bình thản nhưng chứa chất nhiều nỗi truân chuyên, và phải rất lâu sau mới được xuất hiện với công chúng...  Với tôi, thơ Phan Vũ là một trường hợp như thế.

Công chúng phần lớn biết đến thơ Phan Vũ từ ca khúc Em ơi Hà Nội phố. Nhạc sĩ Phú Quang đã bắt được sự tinh túy của bản trường ca để phổ nhạc, và mang lại sự thăng hoa cho những câu thơ da diết và giản dị. Thật ra, những người bạn của ông thì đã biết một Phan Vũ nhà thơ từ thập niên 1950, mà bài thơ đầu tiên như báo trước số phận Thơ của ông: Bài Bình vỡ  (tôi luôn gọi bài này là Chiếc bình màu xanh – màu của hy vọng dù bị vỡ vẫn luôn chờ một bông hoa đỏ thắm, một bông hồng của tình yêu)). Bài thơ suýt đăng trên Giai phẩm số 6, nhưng sau Giai phẩm số 5 thì bị đình bản. Và thế là bài thơ chỉ lưu trong trí nhớ vài người bạn thân của ông qua mấy chục năm.

Trong tập thơ mới xuất bản của ông (*) ngoài trường ca Em ơi, Hà Nội phố còn có hơn 30 bài thơ tình của ông. Vâng, không thể nói khác, thơ Phan Vũ viết về gì, viết cho ai cũng là Thơ Tình, đẫm tình như tính cách của ông, sôi nổi, trong trẻo và rất trẻ! Những “người tình” của Phan Vũ qua những câu thơ không dễ nhận diện như qua tranh của ông sau này, nhưng có thể nhận thấy ông dành cho họ sự xúc động không kìm nén và tràn đầy tình yêu như thể họ chỉ mới đi qua ông đây thôi…

Nhiều bài thơ ông viết cho nghệ sĩ Phi Nga – người vợ xinh đẹp và hiền dịu của ông - da diết và trìu mến lắm, không chỉ như cho một người vợ, người tình mà còn như cho một tri kỷ… Những mối tình như thế hình như thế hệ sau rất hiếm có, phải chăng vì ít phải trải qua những thử thách của hoàn cảnh, thiếu lòng kiên nhẫn và cả sự chịu đựng để cùng nhau đi đến cuối đường đời…

Và hơn hết cả là Em ơi Hà Nội phố - tình yêu hơn mọi tình yêu, nỗi đau hơn mọi nỗi đau, niềm day dứt hơn mọi day dứt của Phan Vũ. Có lẽ không cần nói nhiều về 23 khổ thơ của trường ca mà mỗi câu thơ chạm vào tim làm ứa ra những giọt hồng nóng hổi thương yêu lối xưa phố cũ… Những mảnh Hà Nội của Phan Vũ như kim cương nhiều màu sắc, long lanh mà sắc bén, cứa vào ký ức người từng sống ở Hà Nội, như tôi, vỡ òa…
Ta còn em, ta còn em, ta còn em… Hà Nội…
Không nhiều người có thể chung thủy được với một ký ức như thế, như Phan Vũ, người đàn ông lãng du qua hai thế kỷ.
***

Mối quan hệ thân thiết của ba tôi, gia đình tôi với chú Phan Vũ và người vợ tuyệt vời của chú - cô Phi Nga, bắt đầu từ những ngày kháng chiến chống Pháp ở Long – Châu – Hà, cũng là bắt đầu từ sân khấu. Ba tôi là Trưởng đoàn truyền bá vệ sinh của Sở Y tế Nam bộ, chú Phan Vũ ở Chi hội văn nghệ Nam bộ. Hai cơ quan thường phối hợp biểu diễn văn công phục vụ bà con.

 Trong hồi ký của ba tôi có chuyện chú Phan Vũ dựng vở kịch Bạch Mao Nữ với cô Phi Nga đóng vai chính, ba tôi đóng vai Dương Bạch Lao, cha của Bạch Mao Nữ, chú Can Trường đóng vai địa chủ Hoàng Thế Nhân. Diễn viên nhập vai đến nỗi, cô Phi Nga bị phỏng vì lửa cũng không hay, nhân vật của ba tôi bị chết đói, nằm sát cánh gà thì được một bà má đến ngồi quạt xua muỗi vì “tội nghiệp ông già chết rồi còn bị muỗi cắn”, còn chú Can Trường thể hiện địa chủ “ác” đến nỗi suýt chết vì một viên đạn từ dưới khán giả bắn lên.

Sau này tập kết ra Bắc, khi chú Phan Vũ và cả khi ba tôi gặp những chuyện không may tai bay vạ gió thì hai người luôn bên nhau, chia sẻ, nâng đỡ nhau... Và, như tôi hỏi vui và chú Phan Vũ gật đầu xác nhận, còn “che giấu” cho nhau những mối tình xinh xinh, lãng mạn, trong đó có những niềm đau không dễ quên...   

Ba tôi mất hơn 30 năm rồi nhưng chú Phan Vũ vẫn luôn nhớ và nhắc đến ông, và tôi, được thừa hưởng tình cảm của chú Phan Vũ đối với ba mình nên giữa hai chú cháu vừa là tình cha con vừa là tình cảm của những người bạn vong niên, vì có lẽ tôi có những đồng cảm với chú, như từng hiểu ba mình.
Chính vì vậy tôi viết những dòng này như một lời cám ơn tình cảm ông dành cho tôi, là sự biết ơn vì ông đã giữ lại qua thơ, và cả tranh nữa - một Hà Nội rất đẹp của tuổi thơ tôi…


Sài Gòn, 1.6.2018
Nguyễn Thị Hậu

*Phan Vũ, Ta Còn Em, thơ. Nhã Nam và NXB Hội nhà văn xuất bản 4.2018

 

KHỐN KHỔ NƯỚC TÔI (Khalil Gibran, Từ Linh dịch)


Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn
Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm
Khốn khổ nước tôi
Ca ngợi côn đồ là anh hùng
Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng
Khốn khổ nước tôi
Trong mơ thì ghét cay ghét đắng
Tỉnh dậy lại đầu hàng
Khốn khổ nước tôi
Chỉ dám nói năng khi đưa tang
Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn
Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ
Khốn khổ nước tôi
Chính khách xảo quyệt như chó sói
Triết gia tung hứng chữ làm xiếc
Nghệ thuật bắt chước chắp và vá
Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác
Khốn khổ nước tôi
Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời
Khốn khổ nước tôi
Cứ chia năm xẻ bảy chơi
Phe nào cũng xưng mình là nước
(The Garden of the Prophet - 1934)
...
@ PITY THE NATION
( Khalil Gibran )
"Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.
Pity the nation that wears a cloth it does not weave
and eats a bread it does not harvest.
Pity the nation that acclaims the bully as hero,
and that deems the glittering conqueror bountiful.
Pity a nation that despises a passion in its dream,
yet submits in its awakening.
Pity the nation that raises not its voice
save when it walks in a funeral,
boasts not except among its ruins,
and will rebel not save when its neck is laid
between the sword and the block.
Pity the nation whose statesman is a fox,
whose philosopher is a juggler,
and whose art is the art of patching and mimicking
Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpeting,
and farewells him with hooting,
only to welcome another with trumpeting again.
Pity the nation whose sages are dumb with years
and whose strongmen are yet in the cradle.
Pity the nation divided into fragments,
each fragment deeming itself a nation."
(The Garden of the Prophet - 1934) (Sưu tầm, không rõ nguồn)
halil Gibran (1883 -1931) Nhà văn, nhà thơ và nghệ sĩ thị giác Liban.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản và cận cảnh

Vụn vặt đời thường (102)

@ Một ngày tháng Chạp, quán cà phê vắng và những bản bolero. Giở tập thơ mới được em tặng, tình cờ đúng bài này. Có những người – như em - ở SG mà cả năm không gặp nhau, thậm chí trên FB cũng ít gặp. Vậy mà đọc cứ nghĩ như em viết cho mình! Người đọc mang họ “tưởng” trong trường hợp này là một niềm vui cho người viết, phải không em :)





NGƯỜI BÁN ĐỒ CHƠI DẠO



Người bán đồ chơi dắt chiếc xe đi trên đường phố

Kéo theo phía sau mấy con thú bằng nhựa nhiều màu

Chó mèo gà vịt thỏ chim

Lon ton trên bánh xe lăn cùng vòng quay xe đạp


Người bán đồ chơi thong thả dắt xe dọc theo đường phố

Thỉnh thoảng bóp kèn te te làm cho lũ thú nhựa giật mình

Chúng ngập ngừng cuống quýt lăn đi

Va vào nhau ngã kềnh rồi tự lấy thăng bằng lăn tiếp

Nếu dừng lại sẽ bị nhốt vô chiếc giỏ xe to tướng

Trong đó lũ đồ chơi chen chúc nằm ngồi

Mong muốn được thoát ra ngoài

Để tự do lăn lê trên hè phố


Ngã ba ngã tư vòng xoay cầu vượt

Đèn đỏ đèn xanh xe máy xe hơi

Người bán đồ chơi cứ mải miết dắt xe đi

Cái giỏ lưới buộc đằng sau, chùm bóng bay đằng trước

Nắng gắt trên đầu dưới chân nhựa đường bỏng rát

Những con thú đồ chơi ngơ ngác nhìn trời


Đằng xa thoáng ngọn gió nồm

Sài Gòn tháng sáu đợi cơn mưa chiều…


19/6/2015





CHỈ VÌ NHỮNG NGÀY NHƯ THẾ


Chỉ vì những ngày
Nơi này
Xao xác gió heo may
Lá vàng
Cuộn lăn theo vỉa hè phố cũ.

Chỉ vì những ngày
Nơi này
Hun hút gió Đông
Cây bàng
In cành khẳng khiu
Trên nền mây xám

Chỉ vì những ngày
Nơi này
Mưa phùn rây mặt đường
Hơi sương
Giăng đầy lối cũ
Quán cà phê ngõ nhỏ chờ ai

Chỉ vì những ngày
Nơi này
Chiều sắt se tối
Căn phòng lạnh
Tiếng chuông nhà thờ
Thả rơi nỗi nhớ

Chỉ vì những ngày
Như thế
Mỗi mùa đông
Tôi vẫn quay trở lại
Dù ở nơi này
Người tôi yêu
Đã lạc mất trái tim



10.3.2014

MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ


Tại sao phải có một ngày
Người ta có nghĩa vụ tặng hoa
Cho những người đàn bà
Nhẹ nhàng duyên dáng nhạy cảm mong manh
(Hay là họ luôn nghĩ mình như vậy)
Tạo sao lại chỉ có một ngày
Người ta phải nói những lời có cánh
Bày tỏ biết ơn yêu quý tôn vinh
Với những người đàn bà
Nhanh nhẹn năng động mạnh mẽ
(Hay là họ luôn tỏ ra mình như thế)

Nhưng trong ngày này
Còn bao người đàn bà
Cả đời chẳng được tặng một bông hoa
Chưa từng nghe một lời dịu ngọt
Cả đời không nghĩ mình mong manh dễ vỡ
Chỉ biết lao khổ làm ăn
Cũng chẳng biết mình mạnh mẽ thế nào
Chỉ biết làm tất cả nếu cần phải làm như thế

Thì thôi
 “Có còn hơn không có còn hơn không”
Những người đàn bà AQ
Tự an ủi mình
Dẫu chỉ được một ngày
Còn chán vạn hơn nhiều người khác

“có còn hơn không”
Những người đàn ông,
Thở phào
Đàn bà nhẹ dạ cả tin
Tiếc gì một bó hoa một lời có cánh
Để cho họ
Dù mong manh hay mạnh mẽ
Tiếp tục làm đàn bà
Đừng “vùng dậy”
Cho đến ngày
Tám tháng Ba sau

(7.3.2014)

Người đàn ông đi bên cạnh đời em




(Lời một người bạn gái: Độc lập tự lo hạnh phúc)

Cám ơn anh
Người đàn ông đi bên cạnh cuộc đời em
Nhưng không thể
Mang lại cho em hạnh phúc
Và anh đã “mặc kệ”
Để em
Được là chính mình
Như bản tính mẹ sinh
Như anh đã yêu
Ngày chúng ta chưa thành đôi lứa

Cám ơn anh đă “mặc kệ” em
Tự bơi qua thời khốn khó
Trở thành
Người đàn bà đảm đang
Biết làm “mọi nhẽ”
Thương chồng yêu con
Tự xót xa mình
Tháng dài năm đằng đẵng…

Cám ơn anh đã “mặc kệ” em
Những lúc cần có anh bên cạnh
Một mình
Tự chữa lành
Vết thương
Tuổi đàn bà
“Canh cô Mậu quả”

Thì thôi vậy
Đã trót đời
Bên nhau
Anh và em
Độc lập 
Tự lo
Hạnh phúc
Và ta gọi đó
Tự do.

(11.12.2013)

BAO GIỜ VỀ SÀI GÒN

PHAN VŨ

( 1996 -2011)

Ngày lại ngày,
Đêm từng đêm.
Nhịp đập con tim như mõ canh,
Luôn báo điều bất ổn.

Từng hạt thời gian,
Gom góp cho hạn kỳ rơi rớt.

Một cái gì rách nát, tan hoang!
Một cái gì đau xót, phũ phàng!
Một câu hỏi trong vòng lửa…

Bao giờ về Sài Gòn,

Em sẽ tìm lại hàng me,
Màu xanh non một đêm cây trổ lá,
Đường đến trường tiếng cười rộn rã,
Nắng vừa lên,
Tà áo gió bay…

* * *

Chuyện kể từ mùa nước đổ,

U Minh, một đêm trở gió,
Xào xạc hàng tràm,
Xuồng ba lá trôi theo rạch nhỏ…
-: “Ơi! Giã biệt xóm làng…”
Lời nào não hơn câu Vọng Cổ,
Nhưng đầu sông vang dội khúc quân hành:
-: “Gió hỡi gió! Reo lên đi!
Ta ra đi mài thanh gươm chính khí
..”(1)
Từ mùa thu năm ấy,
Tháng chín hai mươi ba,
Câu hát mài gươm thành câu hát tiễn…

Cuộc tiễn quân, chín khúc sông dài,
Trên bến nước, những vòng tay kết lại,
Kẻ ở, người đi,
Vội vội lời hẹn ước….
-: “Hai năm! Hai năm! ”

Hai năm trở lại quê nhà!
Có nghĩa gì đâu!
Chỉ hai mùa lá!

Những con tàu xuôi ra biển cả,
Bến đợi ngóng mong khắc khoải từng ngày…

Đã hai lần tràm thay lá,
Hai con lũ đã đổ xuống đồng,
Rao rao gió chướng hai mùa lúa.
Ô hay! Đàn ong bay đâu bỏ hoang tổ mật?
Sân chim không tụ hội,
Mỏi mắt dõi theo những cánh cò!

Bao giờ về Sài Gòn?

Nhớ phố chợ xưa Bà Chiểu,
Mới ngày nào vang tiếng hát Lên Đàng,
Mà che dù
Một vòng tròn bóng mát đuổi theo em..

Hai năm qua rồi!
Khúc vịnh uốn quanh,
Ghe thương hồ khuất dạng,
Câu hò vọng.
Chạnh lòng người đứng trên cầu;
-: “Hò ơ..Ngày đi tóc mẹ chưa lên trắng.
Nếp trán chưa nhăn, má chửa gầy…
(2)
Nhớ thuyền ai khẳm lúa chở chiều về bến,
Người trai thương mẹ hát dài theo dòng kênh.

Hai năm qua rồi!
Trái chín nẫu không người leo hái,
Tiếng rụng vườn khuya dội ngang lồng ngực,
Thắt con tim,
Giật mình, ngỡ bước chân trở lại…

Hai mươi năm đằng đẵng mặt trời đen.
Miền châu thổ, dù nắng, dù mưa,
Đường qua xóm đìu hiu, quạnh quẽ,
Thoáng bóng người lầm lũi đi về,
Những giọt buồn bờ mi đọng lại…

Bên ngưỡng cửa, mẹ tượng hình,
Như mong ngóng nghìn năm…

* * *


Bao giờ về Sài Gòn?

Em sẽ nằm đợi tiếng rao đêm,
Vào giấc ngủ,
-: “Ai đậu xanh, bột khoai, bún tàu,
Nước dừa, đường cát…”

Căn phòng lộng gió mùa Đông Bắc.
Cửa sổ mở, dành ngóng phương Nam.
Xin cho cánh nhạn chao nghiêng,
Sao chân trời giăng giăng hoài mây xám?

Xin cho chút nắng chiều tan,
Nhớ khôn nguôi một cánh mai vàng,
Dẫu nơi đây mùa xuân, đào khoe sắc thắm!

Vết chém xẻ dọc con sông,
Giữa thân thể dựng hàng rào phân địa,
Hình hài non sông lỗ chỗ đạn bom.

Một nơi nào, dáng thu vàng sắc lá,
Tiếng ầu ơ trong toạ độ mịt mù,
Mảnh gang lạnh ghim trên cánh cửa,
Một nơi nào mật nắng óng tơ vàng,
Những hình ma vật vờ trước ngõ,
Họng súng đen ngòm dõi bước chân,
Áo trắng học trò loang máu đỏ!

* * *


-:“ Bao giờ về Sài Gòn ?

Em sẽ ăn sầu riêng, măng cụt,
Em sẽ ra cảng ngắm những con tàu,
Và gặp lại dòng sông…”

Từng giọt máu, từng chén cơm,
Từng tiếng kêu đất, kêu trời,
Những đốt tay tím bầm, rã rượi,
Câu hỏi có số đếm bảy ngàn hơn…

Nhưng thời gian đã tới kỳ vội vã.
Đàn chim non kịp lớn khôn
Những đứa con, dầu gái hay trai,
Tự bào thai, tự sơ sinh,
Đều đăng ký cho ngày mai giải mã
Lời giải cuối cùng là sự hiến dâng…

Dốc núi, bờ ghềnh những bước chân hối hả,
Đoàn quân xuất kích trước bình minh,
Tuổi hai mươi vào trận,
Sấm sét rền theo bước quân hành,
Một mùa xuân ào ào bão lửa,
Thiêu rụi mọi tàn dư cố thủ,
Như triều dâng, sóng vỗ,
Tráng khúc Tháng Tư thành lịch sử !

Người lính trẻ giữa ngã tư thành phố.
Nước mắt rưng rưng câu hát vỡ oà:
-: “Sài Gòn ơi! Ta đã về đây!”

* * *


-: “Bao giờ về Sài gòn?

Em sẽ có mảnh vườn trồng thật nhiều hoa,
Nhớ hồi đó, giữa rừng tràm,
Anh bẻ nhành lá tặng em,
Như chùm hoa trao duyên ngày cưới
…”

Vợ tôi không bao giờ có mảnh vườn.
Cũng chưa kịp gặp lại dòng sông,
Ngày về vừa nhận mặt đường quen,
Đã ngã trên hè phố
Một trái tim thương tật bẩm sinh,
Nhịp đập vừa đủ cho cuộc dấn thân,
Ba mươi năm dài dặc.
Ngày về không nằm đợi tiếng rao đêm,
Chiếc bình đựng mớ than tro,
Cảnh chùa qui gửi,
Trên nóc phố cờ bay phất phới…

Dẫu sao vợ tôi cũng đã có ngày trở lại !
Bao bàn chân vừa leo qua ngọn núi.
Đành nằm trong mộ đá,
Giữa rừng hoang,
Có người ngã xuống ngay cửa ngõ,
Bên kia sông, ánh sáng thành đô rực rỡ…

* * *


-: “ Bao giờ về Sài Gòn? ”
-: “ Bao giờ về Sài Gòn? ”
-: “ Bao giờ về Sài gòn?

Câu hỏi cũng là của những người đứng đó!
Trên gò nổi của cánh đồng bưng mênh mang,
Nơi ngọn cao đám rừng tối lá,
Những đôi mắt đêm hướng về vầng sáng chân trời,
Với hận thù, với yêu thương,
Âu lo và hy vọng…

Họ là những người lính của chiến thắng Tầm Vu,
Đã chặn tàu giặc trên sông Vàm Cỏ,
Từ Miền Đông xuống Miền Tây,
Trên mảnh đất bốn mươi năm không ngưng tiếng súng,
Một đời cha, một đời con tiếp nối nhau vào trận,
Những chiến khu hình thành trên ruộng lúa, vườn dừa,
Lập thế bủa vây,
Cho một thiêng liêng cuối cùng,
Lời thệ ước của đời chiến sĩ.
- : “ Ta sẽ dàn quân giữa nội đô, diệt thù từ sào huyệt,
Giành lại một tình yêu, một thành phố!”

Tôi mải miết trên các ngả đường,
Kiếm tìm dấu tích, cuộc tấn công Mậu Thân, năm ấy,
Nhiều đồng đội không trở về căn cứ…

Ai nằm lại đó?
Ở một ngã bảy, ngã năm,
Một đường vòng bùng binh,
Có phải anh là chàng trai đất mũi Cà Mau,
Vườn dừa Bến Tre, Sóc Trang hay Hà Tiên xóm biển?
Sài Gòn là quê chung cho tất cả,
Anh nằm đây trong tình nghĩa mẹ cha…

Ai nằm lại đó?
Bên luống hoa công viên,
Ngã rẽ vào hẻm nhỏ,
Có phải quê anh Thanh Hoá, Thái Bình.
Vượt Trường Sơn
Áo lính y nguyên màu lá cỏ,
Bao lạ lẫm với anh trên đường phố,
Những nóc cao hơn núi ngọn đã trèo qua?

Có một câu hát trong bản Tình Ca
-: “Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa…”
Nhạc sĩ ra đi khi Hà Nội lên đèn.
Đã trở vê nơi đây,
Ngày xưa ôm đàn hát khúc đầu tiên…
Hôm nay, nhận phần hy sinh liệt sĩ…

Ai nằm lại đó ?
Vết máu khô mưa nắng sói mòn,
Bao người không tên,
Cũng có tên người thành tên phố,

-: Bao giờ về Sài Gòn?”

Âm hồi còn vang vọng với thời gian
Những người ngã xuống từ khởi chiến,
Cùng một nỗi niềm
Như người vừa ngã xuống trận hôm qua!!

-: “Bao giờ về Sài Gòn?”

Câu hỏi theo chiều dài, tưởng niệm:
Như còn đâu đây, tiếng hú gọi đồng hoang
Của những người mở cõi
Lưỡi phảng phát ngang thân cỏ dại!
Từ mầm lúa sinh sôi,
Một chòm xóm, một dòng sông,
Miền quê hương rộng dài bờ bãi,
Một lớp người cởi mở,
Nồng nàn tình yêu xứ xở.
Niềm kiêu hãmh xả thân gìn giữ!

--:“ Bao giờ có một Sài Gòn,
Ngang tầm với những hiến dâng?”

Câu hỏi hôm nay cho người thành phố!

PHAN VŨ (tác giả EM ƠI HÀ NỘI PHỐ)


(1) ca khúc của Nguyễn Ngọc Bạch

( 2) thơ của Đoàn Giỏi.

http://www.diendan.org/sang-tac/bao-gio-ve-saigon/

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...