Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

DI SẢN TRONG DÒNG CHẢY HIỆN ĐẠI: GHI CHÉP TỪ INDONESIA

 https://nguoidothi.net.vn/di-san-trong-dong-chay-hien-dai-ghi-nhan-tu-indonesia-52955.html

 Nguyễn Thị Hậu

Những chuyến đi của tôi thường không kết thúc khi máy bay hạ cánh, mà thường kéo dài rất lâu trong suy nghĩ, như một lớp trầm tích lặng lẽ bồi đắp thêm ký ức. Chuyến đi đến Bali, Jakarta và Borobudur vừa rồi của tôi cũng vậy. Là một vùng đất có chiều sâu văn hóa, điều đọng lại sau chuyến đi không chỉ là sự hài lòng vì công việc đã hoàn thành, mà là cảm giác được sống giữa những không gian khác nhau của một quốc gia đang chuyển động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại.

1.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Jakarta là sự khổng lồ và náo động. Thành phố như không bao giờ ngừng chuyển động. Những dòng xe máy, ô tô ken dày từ sáng đến khuya, tiếng tàu và âm thanh thành phố, ánh đèn và những khối cao ốc kính thép nối tiếp nhau, đúng là một siêu đô thị đang “bung ra” rộng hơn cao hơn với tốc độ chóng mặt. Nhưng điều thú vị là giữa Jakarta hiện đại và ồn ào ấy vẫn tồn tại những khoảng lặng của lịch sử và ký ức.

Khi bước vào khu phố cổ Kota Tua, nhịp điệu thành phố bỗng chậm lại. Những công trình thời thuộc địa Hà Lan với mái ngói đỏ, cửa sổ lớn và quảng trường cũ gợi nhớ một Batavia xa xưa, tiền thân của Jakarta hôm nay. Không gian ấy như một lớp thời gian khác còn sót lại giữa đô thị hiện đại. Nhiều người dừng chân ngồi chơi dưới bóng mát cây xanh, thong thả chụp hình, đạp xe sơn màu sặc sỡ quanh quảng trường. Trong những tòa nhà cổ là quán cà phê, tiệm ăn mang phong cách thời thuộc địa. Một ô kính nhỏ giữ lại dưới lòng đường một đoạn đường sắt đầu tiên của thành phốTất cả cho thấy nỗ lực giữ lại ký ức đô thị giữa áp lực phát triển rất lớn. Từ đó nơi này đã trở thành điểm đến quen thuộc của người Indonesia và du khách.  

Tôi nhớ cảm giác tương phản ở Quảng trường trung tâm Jakarta (Quảng trường Merdeka) có công trình hiện đại nổi tiếng nhất là Đài tưởng niệm Quốc gia cao vút, luôn tấp nập người đến chụp hình và vui chơi ở công viên cạnh đó. Và chỉ sau ít phút đi qua một đường hầm dẫn đến Bảo tàng Lịch sử - xây dựng trong phần chân đế rộng lớn của đài tưởng niệm. Bảo tàng rất mát mẻ và yên tĩnh, trưng bày những bức tranh toàn cảnh tái hiện lịch sử Indonesia.

Tôi nhớ không gian cổ điển và sang trọng của Bảo tàng quốc gia nơi lúc nào cũng có nhiều đoàn học sinh đến học tập. Tôi lang thang cả ngày ở đây vẫn chưa chiêm ngưỡng hết hàng trăm bức tượng Phật giáo, Hindu giáo, hàng ngàn hiện vật về lịch sử - văn hóa, phản ánh sự “đa dạng trong thống nhất” của đất nước được mệnh danh là "xứ sở vạn đảo", một trong những quốc gia đa dạng về sắc tộc nhất thế giới.

2.

Từ Jakarta đến Bali, sự tương phản ấy vẫn tiếp tục nhưng theo một cách khác. Bali không giống một “thành phố du lịch” theo nghĩa thông thường giống một không gian văn hóa truyền thống mở rộng, nơi du lịch được xây dựng trên nền của tín ngưỡng, cảnh quan và ký ức cộng đồng.

 Ở đó, tín ngưỡng bản địa hiện diện khắp nơi, từ trước cổng nhà, bên ruộng bậc thang, dưới gốc cây lớn, đến các công sở, khách sạn sang trọng hay ven biển đẹp nổi tiếng.  Buổi sáng khi đi bộ trên những con phố, tôi thường thấy trước cửa từng ngôi nhà là một khay nhỏ kết bằng lá dừa đặt trên mặt đất, trong đó có vài bông hoa, chút trầm thơm, mấy loại bánh và trái cây của địa phương. Người Bali không “trưng bày” văn hóa cho khách xem mà họ đang sống trong văn hóa ấy mỗi ngày. Những nghi thức giản dị ấy làm cho Bali hấp dẫn hơn vì nhịp sống chậm” mang tinh thần riêng giữa cơn lốc toàn cầu hóa.

Điều làm tôi suy nghĩ nhiều là cách người Bali dung hòa giữa bảo tồn và khai thác du lịch. Một thành phố rất nhiều cây xanh, đường phố và nơi công cộng luôn sạch sẽ, người dân hiền hòa, thân thiện, giọng nói nhẹ nhàng với nụ cười luôn nở trên môi. Biển hiệu các cửa hàng, quán ăn địa phương hầu như không có tiếng Anh, món ăn truyền thống sử dụng bao bì bằng lá dừa, lá chuối, những chiếc lồng bàn kết bằng lá cọ, lá buông nhiều kích cỡ và màu sắc, mang lại sự thích thú cho du khách. Những đền thờ hay ngôi chùa trên mọi đường phố, mỗi ngôi nhà đều có miếu nhỏ phía trước, kiến trúc kiểu “cổng trời” rất đặc trưng được bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, trở thành “biểu tượng kiến trúc” của thành phố. Người Bali hiểu rất rõ giá trị kinh tế của di sản, nhưng di sản trong một không gian sống chứ không phải trong “tủ trưng bày” hay ngược lại, thành sân khấu hóa”.

 Dĩ nhiên thương mại hóa vẫn hiện diện. Có những khu vực đông nghịt du khách, trong chợ truyền thống vẫn “nói thách” để du khách phải trả giá nhiều lần, những buổi biểu diễn được “đóng gói” theo giờ tham quan, những quán cà phê với giá không hề rẻ nhìn ra ruộng bậc thang hay bên bờ biển tuyệt đẹp... Nhưng phía sau hoạt động du lịch ấy vẫn một nền văn hóa bản địa đủ mạnh để du khách có thể cảm nhận sự độc đáo chân thực của nó.

3.

Từ Bali, tôi tiếp tục hành trình đến Borobudur - một nơi mà từ lâu tôi chỉ được biết qua phim ảnh và tài liệu nghiên cứu. Mọi hình dung đều trở nên nhỏ bé khi đứng trước công trình vĩ đại này! Borobudur được xây dựng hoàn toàn bằng đá núi lửa với kỹ thuật ghép khối chính xác và hệ thống phù điêu dày đặc. Nhờ kiến trúc còn khá nguyên vẹn nên dù qua trùng tu vài lần, công trình không bị “làm mới” mà mang lại sự hoàn chỉnh và thẩm mỹ cao.

Đến tham quan nơi này du khách được phát một đôi dép upanat làm thủ công từ sợi lá dứa và lá dừa, do người dân địa phương sản xuất. Đôi dép này được thiết kế nhằm mục đích bảo tồn di tích, du khách có thể mang về như một món quà lưu niệm sau chuyến tham quan. Chúng tôi đăng ký tham quan vào sáng sớm. Khi mặt trời lên Borobudur hiện ra giữa màn sương mỏng như một ngọn núi đá khổng lồ, vẻ đồ sộ choáng ngợp nhưng tĩnh lặng rất đặc biệt. Những tầng tháp chồng lên nhau biểu tượng cho hành trình đi lên của tâm thức. Hàng trăm pho tượng Phật, những bức tường phủ kín phù điêu không tạo cảm giác phô trương quyền lực mà như một lời nhắc nhẹ nhàng về sự vô thường của thời gian.

Tôi đi chậm giữa những bậc đá đã in dấu nhiều thế kỷnghĩ đến những công trình tôn giáo lớn của Đông Nam Á như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Angkor… Càng hiểu hơn một Đông Nam Á từng là không gian văn hóa rộng lớn, nơi tôn giáo, thương mại và nghệ thuật giao thoa mạnh mẽ để tạo nên những công trình kỳ vĩ. Borobudur không chỉ là di sản của Indonesia, nó còn là một phần ký ức chung của nền văn minh Đông Nam Á.

Điều thú vị là dù đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới, Borobudur vẫn giữ được tính chất thiêng liêng của một không gian tâm linh. Người ta đến đó không chỉ để “check-in”, mà có thể ngồi yên lặng ngắm nhìn bình minh hay hoàng hôn, để đi chậm rãi vòng quanh các tầng và suy tưởng khi chạm tay vào những “câu chuyện trên đá”, càng lên cao càng cảm nhận rất rõ ràng, đời người chỉ là một chớp mắt trong thời gian vô tận...

Đứng giữa Borobudur còn khá nguyên vẹn sau hơn một nghìn năm, tôi nhớ đến Phật viện Đồng Dương ở miền Trung nước ta - một trung tâm Phật giáo lớn của vương quốc Champa xưa, cùng thời với Borobudur. Tuy nhiên hiện nay Borobudur được coi là một “di sản sống trong khi Đồng Dương là một “di sản khảo cổ không còn thực hành. Sự khác biệt không chỉ phản ánh số phận khác nhau của hai di sản Phật giáo mà còn gợi ý về cách mỗi quốc gia ứng xử với ký ức lịch sử của mình sao cho phù hợp.

4.

Đông Nam Á từng là một không gian văn minh liên kết sâu sắc bằng tôn giáo, thương mại và nghệ thuật. Trải qua những biến động lịch sử, nhiều lớp ký ức đã mất đi trước khi kịp được nhận diện đầy đủ giá trị. Có lẽ vì thế khi bước đi giữa Borobudur, tôi không chỉ nhìn thấy Indonesia, thấp thoáng đâu đó còn là những mảnh ký ức bị đứt gãy của di sản Việt Nam. Chúng ta sở hữu vô số cảnh quan tuyệt đẹp, di tích quý giá và truyền thống văn hóa phong phú. Nhưng việc bảo tồn và du lịch vẫn nặng về khai thác nhanh, trùng tu “làm mới”, đưa công trình hiện đại vào cảnh quan di tích một cách phô trương. Làm mất đi điều du khách quốc tế tìm kiếm chính là bản sắc địa phương, chiều sâu văn hóa của di sản và đời sống cộng đồng.

Một di sản hấp dẫn không chỉ vì nó cổ kính mà vì nó kể được câu chuyện của cộng đồng sống cùng nó. Một thành phố du lịch bền vững không chỉ có khách sạn sang trọng hay dịch vụ tốt, mà còn phải giữ được linh hồn nơi chốn. Jakarta cho thấy sức kháng cự của di sản trước hiện đại hóa, Bali cho thấy khả năng gìn giữ bản sắc trong phát triển, còn Borobudur cho con người hôm nay tâm thế hướng về ký ức thời gian của văn minh Đông Nam Á. Bên cạnh những di tích nguyên vẹn, những nơi tôi đến cũng còn nhiều phế tích giống Đồng Dương hay Mỹ Sơn của chúng ta. Hầu hết chúng không được phục dựng nhưng bảo tồn rất tốt và luôn nhiều khách tham quan. Điều đó làm tôi suy nghĩ, có lẽ một phế tích trung thực với lịch sử vẫn có giá trị cao về học thuật và ký ức, thậm chí cao hơn một công trình phục dựng hoàn chỉnh nhưng dựa nhiều trên giả định khoa học hay suy diễn lịch sử.

Indonesia hôm nay đang tồn tại trong hai nhịp sống: một bên là khát vọng hiện đại hóa mạnh mẽ, một bên là nhu cầu giữ lại chiều sâu văn hóa như một điểm tựa tinh thần. Di sản văn hóa ở đây không chỉ là những hiện vật cổ hay đền tháp xưa cũ. Chúng là di sản vì có khả năng mang lại cho con người cảm giác mình thuộc về một dòng chảy liên tục của lịch sử và văn hóa. Nhận thức đó chính là điều quý giá nhất mà chuyến đi này mang lại cho tôi.

TP. Hồ Chí Minh 12.5.2026













NGÀY BẢO TÀNG THẾ GIỚI 18/5 Bảo tàng: Gìn giữ bản sắc, kết nối cộng đồng

https://www.sggp.org.vn/bao-tang-gin-giu-ban-sac-ket-noi-cong-dong-post795722.html

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh vai trò gìn giữ bản sắc, truyền thống, đồng thời quảng bá lịch sử - văn hóa ra thế giới, hệ thống bảo tàng TPHCM cần phát huy vai trò lưu giữ và “làm sống lại” di sản văn hóa, kết nối giữa di sản - cộng đồng - du lịch - đô thị, tạo không gian sống nhân văn, thân thiện, góp phần phát triển đô thị bền vững.
Ngay từ khi ra đời hệ thống bảo tàng đã có vai trò đặc biệt: bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa bằng công tác lưu giữ và bảo quản hiện vật, gìn giữ giá trị di sản một cách có hệ thống và khoa học; nghiên cứu và phục dựng lại lịch sử, đời sống và văn hóa qua các giai đoạn khác nhau; thông qua trưng bày và hoạt động giáo dục, bảo tàng giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản văn hóa, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Chính vì thế, từ năm 1977, ngày 18-5 hàng năm đã được chọn là Ngày Quốc tế Bảo tàng.
Trong quá trình hiện đại hóa, hệ thống bảo tàng còn là một không gian văn hóa công cộng, giúp kết nối cộng đồng và nâng cao chất lượng sống của đô thị. Bảo tàng kết hợp với các nhóm cộng đồng để thu thập hiện vật gắn liền những ký ức đô thị và câu chuyện di sản, tổ chức sự kiện về chính những di sản vật thể và phi vật thể mà cộng đồng lưu giữ hay sở hữu… giúp người dân nâng cao ý thức về di sản đô thị, từ đó gắn bó và tự hào với đô thị. Đặc biệt là bảo tàng gắn với di tích hoặc khu di sản đô thị có thể trở thành điểm nhấn trong không gian đô thị, thúc đẩy phát triển đô thị song song với bảo tồn và khai thác hợp lý di sản đô thị.
TPHCM - một trong những đô thị lớn nhất Việt Nam - đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển hiện nay: đô thị hóa quá nhanh làm mất mát di sản văn hóa, áp lực môi trường và giãn cách văn hóa giữa các thế hệ... Trong bối cảnh đó, hệ thống bảo tàng trở nên quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc, kết nối cộng đồng, và hướng đến phát triển đô thị bền vững.
TPHCM có hệ thống di sản đô thị phản ánh lịch sử từ thời tiền sử đến thời kỳ cách mạng, hiện diện bằng nhiều loại hình kiến trúc, công trình có giá trị cao. Tuy nhiên, không ít công trình, địa điểm có giá trị đang bị thay thế bằng các cao ốc, hoặc xuống cấp do công tác bảo tồn chưa hiệu quả. Các bảo tàng ở thành phố có thể trở thành trung tâm “kể chuyện đô thị” thông qua chủ đề, nội dung trưng bày của mình, giúp người dân hiểu được quá trình hình thành và phát triển của thành phố qua từng thời kỳ. Nhưng, dù có thể được tăng cường bằng các phương tiện hiện đại, thì nếu các bảo tàng vẫn giữ quan niệm cũ, xem đây chỉ là nơi lưu trữ và trưng bày các sưu tập hiện vật, bảo tàng vẫn sẽ chỉ là không gian “đóng kín”.
Để có thể thực sự mở rộng, trở thành nơi gắn kết cộng đồng trong đô thị, hệ thống bảo tàng có thể tăng cường các hoạt động đa dạng như giáo dục, sinh hoạt cộng đồng, kể chuyện lịch sử... Ngoài ra, việc xây dựng những “bảo tàng mini” của cộng đồng hay tư nhân tại những khu dân cư cũ, khu đô thị mới, khu tái định cư sẽ giúp người dân gắn bó với lịch sử địa phương, lịch sử cộng đồng, hạn chế tình trạng “mất kết nối” giữa các thế hệ. Điều này còn tăng tính kết nối giữa bảo tàng của nhà nước với bảo tàng cộng đồng, tăng tính bền vững văn hóa cho đô thị.
TPHCM là trung tâm du lịch lớn nhất nước. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch văn hóa chưa phong phú, chưa tạo ra chuỗi giá trị bền vững. Các bảo tàng có thể kết hợp với các công ty du lịch tạo ra hoặc phục dựng không gian di sản như chợ truyền thống, phố cổ, kênh rạch... để phát triển tour du lịch ký ức đô thị. Điển hình như dự án tuyến du lịch: Bảo tàng Lịch sử - Thảo Cầm Viên Sài Gòn - Dinh Độc Lập - Bảo tàng thành phố - chợ Bến Thành. Với những hoạt động như vậy, bảo tàng còn là nguồn lực quan trọng cho công nghiệp văn hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh vai trò gìn giữ bản sắc, truyền thống, đồng thời quảng bá lịch sử - văn hóa ra thế giới, hệ thống bảo tàng TPHCM cần phát huy vai trò lưu giữ và “làm sống lại” di sản văn hóa, kết nối giữa di sản - cộng đồng - du lịch - đô thị, tạo không gian sống nhân văn, thân thiện, góp phần phát triển đô thị bền vững.
TS Nguyễn Thị Hậu
Tổng Thư ký Hội Sử học TPHCM






Video toạ đàm của Bà Nguyễn Thị Hậu: “Chúng ta sẽ để lại gì cho thế hệ tương lai?”

 Trong buổi toạ đàm này, Bà Nguyễn Thị Hậu, nhà Khảo cổ học, đã đưa ra suy ngẫm về hướng bảo tồn di sản của Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích những vấn đề, đôi khi rất mâu thuẫn, được thể hiện qua nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Mời các bạn cùng xem nhé :)

https://www.youtube.com/watch?v=Lbfd8e9_VhU




DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN – TP. HỒ CHÍ MINH

 TS. Nguyễn Thị Hậu

Di sản đô thị phản ánh quá trinh lịch sử, đặc trưng văn hóa và cách thức bảo tồn của cộng đồng và chính quyền. Di sản đô thị có giá trị lịch sử - văn hóa quan trọng, được lưu truyền qua các di tích lịch sử, qua ký ức thị dân, mang lại cho dân cư tri thức, hiểu biết và tình cảm với thành phố. Đồng thời di sản đô thị còn có giá trị kinh tế, là một nguồn vốn xã hội to lớn nếu sử dụng và khai thác hợp lý sẽ góp phần quan trọng xây dựng TP. Hồ Chí Minh hiện đại, nhân văn và phát triển bền vững.

  1.

Di sản văn hóa đô thị, có thể hiểu một cách cụ thể, là tập hợp các địa điểm, vị trí, khu phố, các công trình và tập quán mà một xã hội được kế thừa từ quá khứ, muốn bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tương lai. Từ đặc điểm lịch sử của quá trình hình thành và phát triển, có thể nhận biết hệ thống di sản đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh là những di tích, công trình phản ánh sự phát triển và đời sống văn hóa của đô thị, gồm có 09 loại hình, niên đại từ thời tiền sử đến giữa thế kỷ 20.

Di tích khảo cổ học

Đó là hệ thống di tích hơn 30 di tích khảo cổ học thời tiền – sơ sử niên đại khoảng từ 3000 – 2000 năm cách ngày này, cùng những địa điểm có dấu tích của thời kỳ Văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam. Các di tích này nằm dưới mặt đất, được phát hiện và nghiên cứu qua công tác khai quật khảo cổ học. Loại hình này tập trung ở khu vực cao (thành phố Thủ Đức) và vùng rừng ngập mặn (huyện Cần Giờ). Tại Cần Giờ có 1 Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là Giồng Cá Vồ.

Di tích Lò gốm cổ Hưng Lợi (quận 8), tiêu biểu cho làng nghề Gốm Sài Gòn nổi tiếng hồi thế kỷ 18 – 19. Năm 1998 di tích Lò gốm cổ Hưng Lợi được công nhận là Di tích lịch sử – văn hoá Quốc gia.

Cảnh quan đô thị

Đặc điểm cảnh quan khu vực trung tâm đô thị Sài Gòn dựa vào hai yếu tố chủ yếu: 1/ đô thị sông nước (sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé) 2/ đô thị  kiểu phương tây (các tuyến đường chính vuông góc hoặc song song với sông, rạch tạo thành ô bàn cờ). Khu trung tâm có chức năng hành chính, thương mại dịch vụ các kiểu kiến trúc phù hợp. Một số cảnh quan như Bến Bạch Đằng, bùng binh Nghuyễn Huệ, Bùng binh Chợ Bến Thành, đường Đồng Khởi, Tôn Đức Thắng... điển hình của di sản cảnh quan đô thị Sài Gòn.

Cảnh quan khu vực trung tâm được coi là “diện mạo đô thị” về quy hoạch, kiến trúc, đồng thời phản ánh lịch sử và văn hóa của đô thị đó. Tại nhiều quốc gia cảnh quan đô thị là khu vực luôn được chú trọng bảo tồn để phát triển kinh tế di sản, kinh tế du lịch rất tốt

Công trình kiến trúc

Một số công trình công sở, công trình văn hóa, giáo dục tập trung quận 1, quận 3, quận 5 phản ánh đặc trưng kiến trúc của đô thị Sài Gòn từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20.

Công trình tín ngưỡng, tôn giáo

Bao gồm đền, đình, lăng, miếu, nhà thờ, hội quán, thánh thất, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường... phản ánh sự đa dạng về nguồn gốc và và sự hòa hợp văn hóa của các cộng đồng dân cư trong tiến trình lịch sử thành phố.

Công trình cư trú

Loại hình nhà ở phổ biến và là hình thái kiến trúc đặc trưng của người Việt, người Hoa ở vùng Gia Định xưa là “nhà cổ truyền” và những công trình kiến trúc “Đông – Tây kết hợp”. Đó là những ngôi nhà xưa kiến trúc kiểu Pháp kết hợp với cảnh quan nhà vườn, bố trí nội thất theo kiểu truyền thống. Liền kề trung tâm là khu vực cư trú kiểu biệt thự phương Tây, có sân vườn và thiết kế xây dựng thích nghi với khí hậu nhiệt đới.

Di tích hạ tầng đô thị và công nghiệp

Sài Gòn là nơi hình thành các cơ sở công nghiệp phục vụ cho đô thị khá sớm, đó là nhà máy điện (nhà đèn), hệ thống cấp nước; sau đó là một số cơ sở công nghiệp như công xưởng Ba Son (từ xưởng thủy thời Nguyễn), hệ thống nhà máy xay xát lúa gạo ven bến Bình Đông, hệ thống bến cảng… Tất cả đã phản ánh một đô thị có nền công nghiệp sớm, nền kinh tế giao thương – dịch vụ mạnh mẽ,

Di tích mộ táng, lăng mộ

Vùng đất Gia Định – Sài Gòn là nơi tập trung số lượng lăng mộ của hoàng gia triều Nguyễn và các quan lại đại thần (chỉ đứng sau khu kinh đô Huế). Trong số những Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia của TP. Hồ Chí Minh có 04 di tích thuộc loại hình lăng mộ cổ, tiêu biểu là Lăng Lê văn Duyệt (Lăng Ông Bà Chiểu, quận Bình Thạnh).

Di tích thành luỹ

Thành luỹ ở Sài Gòn được xây dựng sớm nhất là “Luỹ Bán Bích” (1772). Thành Gia Định – Thành Quy (1790) chúa Nguyễn Ánh theo mô hình của Châu Âu. Năm 1835 vua Minh Mệnh đã phá bỏ và xây dựng một thành nhỏ hơn ở phía Đông Bắc thành cũ.

Quần thể di tích của người Hoa ở khu vực Chợ Lớn

Những di tích của người Hoa đã góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa cho vùng đất Gia Định. Khu vực Chợ Lớn là một quần thể nhiều loại hình di tích kiến trúc thể hiện đậm nét văn hóa, lối sống, tín ngưỡng của người Hoa. Loại hình đặc trưng là di tích Miếu (còn được gọi là hội quán, đình, chùa) của nhiều nhóm cộng đồng người Hoa khác nhau. Ngoài ra còn có các công trình kiến trúc công cộng, dân dụng, tôn giáo, thương nghiệp… hợp thành cảnh quan đô thị Chợ Lớn.

2.

Tại TP. Hồ Chí Minh các di sản văn hóa phải trải qua một thời gian dài chưa được con người nhận thức đầy đủ về các giá trị, do ảnh hưởng thiên kiến về văn hóa “truyền thống” và “ngoại lai”, định kiến về “ta” – “địch”. Vì vậy di sản văn hóa đô thị  đã không được trân trọng, sử dụng và giữ gìn tương xứng với giá trị. Mặt khác do hoàn cảnh kinh tế – xã hội khó khăn nên chưa đủ điều kiện vật chất và nhân lực bảo tồn di sản văn hóa đến nơi đến chốn… Khoảng mười năm gần đây ý thức và nhận thức về di sản văn hóa trong cộng đồng được nâng cao thông qua các công trình khoa học, khảo cứu, văn học... cùng với với nhiều chính sách của nhà nước và chính quyền thành phố.

Tính chất khác biệt độc đáo nhất của di sản văn hóa là sự không thể tái tạo hoặc thay thế, khác với những tài sản có giá trị kinh tế khác. Giá trị kinh tế của di sản văn hóa cần nhìn nhận trong một phạm vi rộng. Bởi vì “lợi nhuận” từ kinh tế di sản không phải là “tiền tươi thóc thật”, “ngay lập tức” mà cũng cần được khai thác phù hợp như mọi nguồn tài nguyên khác, hướng đến bảo toàn nguồn tài nguyên cho phát triển bền vững. Kinh nghiệm của nhiều đô thị, nhiều quốc gia trong việc khai thác “lợi nhuận” từ di sản văn hóa là:

 Bảo tồn cảnh quan cho khu vực di sản văn hóa, nơi lưu giữ những giá trị kiến trúc, nghệ thuật, lịch sử, văn hóa đặc thù của một thời. Sự tồn tại của di sản trong cảnh quan phù hợp góp phần làm tăng giá trị của cả khu vực và là điểm nhấn cho cả vùng.

 Tăng cường không gian công cộng để tổ chức các sinh hoạt cộng đồng, qua đó truyền tải ý nghĩa và giá trị di sản đến với cộng đồng, tạo thói quen và ký ức cho cộng đồng về di sản văn hóa.

Phát triển du lịch địa phương, các dịch vụ cho du lịch, các nghề thủ công, sinh hoạt văn hóa, lễ hội, thậm chí cả lối sống nếp sống của cộng đồng cũng là một sản phẩm du lịch.

 Gia tăng giá trị bất động sản tại khu vực di sản văn hóa, bởi sự thu hút khách du lịch và phát triển hoạt động thương mại dịch vụ cho du lịch. Đồng thời cũng là gia tăng giá trị văn hóa bởi sống ở khu vực di sản không chỉ giàu có về tiền bạc mà còn thể hiện giàu có về tri thức văn hóa.

3.

Với tuổi đời hơn 300 năm đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều biến cố chính trị lớn. Năm 2025 thành phố cùng cả nước ghi nhận một dấu mốc quan trọng: 50 năm hòa bình thống nhất và bước vào kỷ nguyên mới của đất nước! Từ nhận thức khoa học và thực tiễn đã cho thấy, giá trị nhiều mặt của di sản đô thị Sài Gòn - TP.HCM có những đóng góp nhất định vào thành tựu kinh tế - xã hội chung mà thành phố đóng góp cho cả nước.

Tuy nhiên quá trình “đô thị hóa – hiện đại hóa” ở thành phố không tránh khỏi những tác động tiêu cực đến nhiều công trình và phá vỡ “tính hệ thống” của di sản đô thị. Ngày nay khu vực trung tâm đô thị, nơi lưu giữ đậm đặc các công trình di sản có “giá trị bất động sản” cao nên các nhà đầu tư thường không quan tâm đến “giá trị di sản” của công trình. Đây là một trở ngại, thậm chí là một tác động tiêu cực đến sự tồn tại và việc bảo tồn di sản văn đô thị nói riêng và di sản văn hóa nói chung.

 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị là một phương thức xây dựng đô thị hiện đại về vật chất nhưng có không gian sống với chiều sâu ký ức lịch sử - văn hóa. Sống trong không gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần khi họ được thế hệ trước di truyền lại những giá trị về vùng đất mà họ đang sống, giàu có hơn về vật chất khi di sản góp phần phát triển kinh tế. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người hôm nay và mai sau sống tốt đẹp hơn nhân văn hơn.

 








 

SÀI GÒN HÔM QUA VÀ HÔM NAY

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Thời gian thật nhanh. Chớp mắt tôi đã sống ở thành phố này 50 năm, kể từ mùa hè 1975. Năm mươi năm sống ở Sài Gòn tôi nhớ gì về Sài Gòn “hôm qua” trong sự thay đổi nhanh chóng của TP. Hồ Chí Minh ngày hôm nay?

Từ những năm đầu tiên sống ở Sài Gòn đến nay có một nơi tôi hay đến, đó là khu vực bưu điện thành phố. Tòa nhà được xây dựng từ cuối thế kỷ 19 khi dân phố đô thị này chưa đến nửa triệu người, vậy mà cho đến nay khi thành phố có hơn 10 triệu dân, nó vẫn đáp ứng được nhu cầu của người thành phố và du khách. Lúc ấy ở quang trường Công xã Paris trước Bưu điện và Nhà Thờ Đức Bà có nhiều kiot bán văn phòng phẩm: báo chí, giấy viết thơ và bao thơ, tranh ảnh bưu thiếp, nhất là những ngày cuối năm thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới rực rỡ cả khu vực. Tiếc là nay không còn những kiot văn hóa phẩm ở đây và trên đường Nguyễn Huệ - một cảnh quan văn hóa quen thuộc ở nhiều đô thị trên thế giới.

Khu vực trung tâm của Sài Gòn là Nhà thờ Đức Bà và kế bên là bưu điện trung tâm, phía trước quảng trưởng nhỏ là con đường Đồng Khởi. Từ “tâm” này mở rộng bán kính trên dưới một cây số có Tòa thị chính, chợ Bến Thành, bến Bạch Đằng và cột cờ Thủ Ngữ, bến đò Thủ Thiêm, dinh Thống Nhất và vườn Tao Đàn, Thảo cầm viên, cả khu nghĩa địa “tây” Mạc Đĩnh Chi nay đã thành một công viên lớn, có thể kể đến các nhà thờ và chợ khu vực Tân Định, khu vực Chợ Quán… Các công trình này được xây dựng vào giai đoạn đô thị Sài Gòn mới hình thành, đầy đủ những “thiết chế” chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng của một đô thị hiện đại hồi đầu thế kỷ 20.

 Trong nhiều nghiên cứu về di sản văn hóa gọi đây là “vùng lõi di sản” của thành phố, cảnh quan làm nên bản sắc của đô thị Sài Gòn. Tuy nhiên, trong hơn 20 năm qua khu vực này đã có sự thay đổi lớn, quan trọng nhất là sự “biến mất” nhiều công trình kiến trúc là di sản văn hóa đô thị, đồng thời cũng làm biến đổi cảnh quan chung của khu vực trung tâm thành phố. Điều này một mặt làm diện mạo đô thị “hiện đại” hơn, nhưng mặt khác làm cho dấu tích và ký ức lịch sử dần mờ nhạt trong tâm thức cộng đồng cư dân thành phố và du khách. Cho đến nay khu vực này vẫn là những “điểm đến” và “điểm nhớ” của người Sài Gòn kể cả những người đã đi xa.

Khu vực Chợ Lớn, tuy sau 1975 có sự biến động lớn về dân cư, nhưng hiện nay còn khá nguyên vẹn dáng dấp cổ xưa của một “trung tâm” kinh tế sầm uất từ trăm năm trước. Nếu lấy Chợ Bình Tây làm tâm điểm mở rộng ta sẽ có khu phố cổ Triệu Quang Phục chạy dài tới bến Hàm Tử, cùng với Thất phủ Quan Võ Miếu, Chùa Bà (Miếu Thiên Hậu) và nhiều ngôi miếu cổ. Nơi này còn lưu giữ hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc: các kiến trúc tín ngưỡng như đền miếu hội quán, lễ hội, phong tục tập quán và những quan hệ xã hội đặc trưng, nhất là mối quan hệ làm ăn kinh tế.

Nối liền Sài Gòn và Chợ Lớn là rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hũ, Kinh Đôi... hai bên bờ là hệ thống cơ sở công nghiệp của thành phố: từ nhà máy Ba Son đến những bến cảng, nhà máy... Đó chính là tính chất đô thị sông nước – hướng biển của Sài Gòn. Tiếc là từ việc xóa bỏ di tích Ba Son, hệ thống cảng thị ven sông của thành phố cũng dần biến mất làm ảnh hưởng đến yếu tố “thông thương” của một đô thị trung tâm kinh tế.

2.

“Sài Gòn là thành phố sông nước”, đấy là cảnh quan của nhiều thành phố trên thế giới. Và cũng như những thành phố đó, quá trình “hiện đại hóa” của TP. Hồ Chí Minh để lại dấu ấn nổi bật nhất là việc cải tạo môi trường và cảnh quan hệ thống kinh rạch quan trọng của thành phố.

Trong thế kỷ 20, do chiến tranh nên dân nhập cư đổ về thành phố ngày càng nhiều, người nghèo lập nên những xóm ven kênh lan dần từ ngoại ô vào trung tâm, nhà cửa chen chúc trên bờ chồm ra kênh rạch. Chất thải, rác rưởi tù đọng dưới sàn nhà, lấp dần kênh rạch, khiến nước không còn lưu thông được nữa. Mỗi ngày, khi thấy có chút gió mát thì biết lúc nước lớn, thấy đứng gió nực nội là biết nước ròng.

Bắt đầu từ Rạch Bến Nghé từ trung tâm thành phố vào Chợ Lớn và nối vào đường thủy về miền Tây, công trình cải tạo kênh rạch đã mang lại diện mạo mới cho “mặt tiền” thành phố: kênh rạch được kè bờ thẳng thớm, giải tỏa những xóm nhà lụp sụp thay vào đó là công viên cây xanh và đại lộ Võ Văn Kiệt. Việc nạo vét kênh rạch mang lại một dòng nước sạch hơn... Bây giờ vào dịp tết nơi này tổ chức lễ hội “trên bến dưới thuyền” rực rỡ bông hoa cây kiểng, tấp nập ngày đêm suốt từ rằm tháng chạp đến ngày 30 tết.

Nhưng công trình cải tạo kinh rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè để lại ấn tượng đổi thay nhiều nhất với người dân thành phố. Suốt những năm thực hiện công trình này, gần như toàn thành phố lâm vào cảnh “kẹt xe tắc đường” triền miên, bất kể giờ giấc thời tiết... Nhưng rồi cũng đến lúc công trình Nhiêu Lộc – Thị Nghè hoàn thành. Bây giờ dòng kênh đã sạch hơn mỗi ngày, và gần như không còn tình trạng vứt rác xuống kênh. Nhất là từ khi hai bên bờ đã được dựng hàng rào sắt, vỉa hè lát gạch sạch sẽ, trồng cây, trồng hoa, hàng đèn đường vươn cao thanh thoát… Những chung cư cao tầng mọc lên, dân cư sống tại đây đã quen với việc giữ gìn vệ sinh công cộng, giữ gìn cảnh quan chung.

Mới đây tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên đã được khánh thành sau hai tháng vận hành, sau mười mấy năm xây dựng... Đô thị hiện đại không thể thiếu hạ tầng giao thông công cộng. Đây là khởi đầu mới cho sự cải thiện về giao thông và môi trường đô thị, qua đó là nâng cao sức khỏe cho người dân và xây dựng lối sống đô thị, từ việc chấp hành luật lệ và ứng xử văn minh nơi công cộng.

“Thành phố văn minh hiện đại” đâu thể có bằng hô hào suông? Cùng với sự chuyển biến của ý thức cư dân còn cần có những điều kiện vật chất phục vụ cho sự thay đổi ấy, bởi vì điều kiện sống chưa thay đổi thì khó có thể hình thành lối sống mới. Môi trường đô thị và lối sống nếp sống của cư dân là hai mặt luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề cho nhau tự hoàn thiện. “Phố của người - người của phố” là một mệnh đề của xã hội học đô thị hiện đại.

3.

Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí “Gia Định ở về phương Nam vị trí Dương Minh, người đủ tính trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế”.

Người Nam bộ, người Sài Gòn đến nay vẫn bảo toàn được đặc trưng này trong sinh hoạt hàng ngày và cả trong những hoàn cảnh ngặt nghèo của thành phố, của cả nước. Trong quan niệm và hành xử của người Sài Gòn/ Nam bộ thường thể hiện hai phẩm chất: trọng nghĩa khinh tài và sống có tình có nghĩa. Nghĩa là nghĩa khí, dám làm dám chịu, “thấy sự bất bằng chẳng tha”. Tình là sự khoan hòa, bao dung, “thương người như thể thương thân”. Trọng nghĩa khinh tài còn là sự hào hiệp trong việc tiếp đón giúp đỡ người nơi xa đến, không quan tâm đến nguồn gốc “lý lịch” của người đó. Bất kể là ai đến vùng đất này đều được đón tiếp chia sẻ như nhau. Nếu có chuyện gì xảy ra thì thường đứng về phía người thân cô thế cô, chống lại kẻ ỷ mạnh ức hiếp người khác. Thấy việc đúng thì làm không so đo tính toán vì coi đó là làm việc nghĩa.

Là một đô thị lớn nhất nước, Sài Gòn cũng là nơi chứa đựng trong nó sự phức tạp nhất nước, bởi nguồn gốc thị dân và sự biến động dân cư diễn ra hàng ngày, bởi ngành nghề và những cách kiếm sống đa dạng của người dân nơi đây… Bên cạnh những chuyện bất an khiến người ta lo lắng, Sài Gòn còn vô vàn câu chuyện để người ta tin rằng, nghĩa tình ở Sài Gòn không mất đi đâu, nó sẵn sàng hiện ra từ bất cứ ai và bất cứ lúc nào. Mở lòng với Sài Gòn sẽ nhận được nhiều điều tử tế vì Sài Gòn không dửng dưng và lạnh lùng như thông tin thường thấy trên báo chí.

Đó là những gì mà 50 năm qua thành phố đã “bảo tồn và phát triển” được. Dù vật đổi sao dời, người tóc bạc hay người đầu xanh, ai từng sống ở Sài Gòn đều mong muốn những gì tốt đẹp, từ di tích lịch sử đến phẩm chất con người Sài Gòn, được lưu tâm gìn giữ, bởi đó là nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn người Sài Gòn, bồi đắp tình yêu bền chặt với thành phố. Bởi vì nếu không có một Sài Gòn với những di sản văn hóa tốt đẹp thì thành phố Hồ Chí Minh không có nguồn lực phong phú và đa dạng để phát triển mạnh mẽ như hôm nay và trong tương lai. 

TP. Hồ Chí Minh 10.3.2025




 

 

 

 

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...