Hiển thị các bài đăng có nhãn nước Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nước Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

CẦU KÊNH ĐỘC ĐÁO TRÊN SÔNG LOIRE

 Nguyễn Thị Hậu

Nhiều lần đến Pháp tìm hiểu, nghiên cứu về bảo tồn di sản đô thị - trong đó có di sản công nghiệp – nhưng tôi đã không biết rằng, tại Pháp có hàng trăm cây cầu kênh đào (Pont canal) được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước. Cho đến năm nay tôi mới may mắn được đến tham quan cây cầu kênh nổi tiếng nhất: cầu kênh Briare - mang tên kênh đào Briare dưới thời vua Henri IV (thế kỷ 16), được coi là kênh đào cổ xưa nhất nước Pháp,

Được thông luồng cho giao thông đường thủy vào năm 1642, kênh đào Briare dài 54 km kết nối các con sông ở vùng sông Loire với vùng sông Seine. Tuy nhiên do sự thay đổi của địa hình vùng thung lũng sông Loire nên tàu thuyền đi lại trên kênh phải qua nhiều cửa đập khá nguy hiểm. Vì vậy Cầu kênh Briare đã được xây dựng từ năm 1890 đến năm 1896 trên sông Loire. Cầu kênh – pont canal – là một cây cầu đồng thời cũng là một con kênh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa bằng tàu thuyền, lưu thông từ các kênh hai bên bờ sông Loire qua cầu kênh này, do đó an toàn hơn và rút ngắn đáng kể đường thủy kết nối các con sông.

Cầu kênh Briare được xây dựng trên 14 trụ cầu cao 11,5 m, dài 662m và chiều rộng mặt cầu 11m, bao gồm lối đi bộ hai bên và lòng kênh. Từ hai bên bờ sông Loire hay chỉ cần đứng ở trụ đầu cầu, có thể nhìn thấy cấu trúc đặc biệt bên dưới của cầu kênh. Các trụ cầu đỡ một dầm thép lớn, dầm thép này nâng đỡ toàn bộ một kênh dẫn nước bằng thép có thể chứa đến 13.000 tấn nước, kênh thép rộng 6m và sâu 2,2m, cho phép tàu thuyền có mớn nước sâu 1,8m lưu thông qua lại. Hai bên kênh có đường đi bộ và hàng đèn trang trí rất đẹp. Từ xa đã nhìn thấy mỗi đầu cầu có hai cột trang trí giống như ở cầu Alexandre III nổi tiếng ở Paris.

Cầu kênh Briare được khánh thành vào ngày 16 tháng 9 năm 1896. Trong các công ty tham gia xây dựng có một cái tên rất nổi tiếng và quen thuộc với nhiều người Việt Nam: Các mố cầu và cầu tàu được xây dựng bởi kỹ sư Gustave Eiffel. Từ năm 1896  cầu kênh Briare là cầu dẫn nước dài nhất trên thế giới, cho đến khi cầu Magdeburg Water dài 918 mét bắc qua sông Elbe (Đức) khánh thành vào năm 2003. Tuy nhiên hiện nay nó vẫn là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới. Cầu kênh Briare nổi tiếng bởi trình độ xây dựng và việc ứng dụng kỹ thuật, vật liệu mới, những kỹ sư và công ty danh tiếng đã tạo nên vẻ hoàn mỹ của cây cầu. Cầu kênh Briare được công nhận là Di tích lịch sử của Pháp vào năm 1976.

***

Cầu kênh Briare hiện nay chủ yếu phục vụ tàu thuyền du lịch, nhưng có rất nhiều du khách đến đây và đi bộ băng qua cầu trên đường hai bên kênh, ở đó có tầm nhìn rộng và độc đáo sang hai phía của sông Loire. Ban ngày từ trên cầu nhìn xuống sông Loire đang trôi phía dưới, mùa nước cạn những bãi cát nhô lên giữa sông trờ thành bãi tắm cho người dân và du khách. Một bên là thành phố nhỏ với những con đường và những ngôi nhà xinh xắn, tháp chuông nhà thờ cao vút nổi bật trên nền trời xanh thẳm. Bên kia là những cánh rừng nhỏ xen giữa đồng ruộng. Khi hoàng hôn buông xuống, 62 ngọn đèn dọc hai bên cầu và 4 tháp đèn ở hai đầu cầu sáng bừng lên, phản chiếu trên mặt kênh rực rỡ. Đồng thời toàn bộ cây cầu trở thành một dòng sáng lung linh huyền ảo vắt qua sông Loire, đẹp như cổ tích. Cầu kênh Briare được coi là một viên ngọc quý của di sản công nghiệp giao thông đường thủy, một thắng cảnh sông nước của nước Pháp.

Hai bên đầu cầu nổi tiếng với những nhà hàng địa phương, cửa hàng bán đồ lưu niệm sản phẩm của thợ làm guốc, thợ mộc, thợ làm bánh trong vùng, đặc biệt có một cửa hàng Socola nổi tiếng. Các quán hàng luôn đông khách từ trong tiệm ra ngoài sân, họ ngồi đây nghỉ ngơi sau khi đi bộ qua cầu ngắm sông Loire và thành phố. Thỉnh thoảng có một chiếc tàu từ từ đi qua cầu kênh rồi neo đậu ở những âu thuyền gần đó. Khoảng khắc độc đáo này đã thu hút rất nhiều du khách ra chụp hình và selfie cùng với chiếc tàu và cả cầu kênh.

Quanh khu vực cầu kênh có nhiều điểm tham quan phù hợp để đi bộ: nhà thờ Eglise Saint-Etienne, Lâu đài-Bảo tàng Gien và Chateau des Pecheurs cũng là điểm đến thú vị. Trong hành trình tham quan nơi này có một bảo tàng nhỏ ngay đầu con đường dẫn đến cầu kênh. Bảo tàng kể chuyện về thị trấn Briare nằm ở ngã tư của sông Loire, kênh Briare và kênh bên Loire (Canal latéral à la Loire) – nay đã phát triển thành một thành phố nhỏ nhưng vẫn yên tĩnh và đậm nét cổ xưa. Lại có một bảo tàng nhỏ khác khác trưng bày về gạch men và nghệ thuật Mosaic (Musee des Emaux et de la Mosaïque). Hoặc cũng có thể tham quan quanh vùng bằng những chiếc thuyền 12 chỗ ngồi khởi hành từ cảng Chatillon-sur-Loire. Chuyến tàu đưa du khách khám phá nhiều địa điểm tuyệt vời của sông Loire và một số kênh nối liền với nó.

Sản phẩm du lịch từ và cùng với cầu kênh Briare rất đa dạng, cách tổ chức du lịch đồng bộ, thuận tiện cho du khách đến đây bằng bất cứ phương tiện nào và dự tính ở lại trong thời gian bao lâu. Từ một cây cầu vốn có chức năng giao thông, nhưng khi chức năng chính đã suy giảm thì với cấu trúc độc đáo “kênh trên sông”, địa phương đã khéo tổ chức “khai thác và phát huy giá trị” bằng du lịch. Vừa đánh dấu trên bản đồ du lịch quốc tế một “di tích lịch sử công nghiệp” độc đáo, vừa tạo các hoạt động kinh tế khác cho cộng đồng địa phương. Quan trọng nhất là đã bảo tồn được một cây cầu đánh dấu sự phát triển quan trọng về kỹ thuật và mỹ thuật của công trình giao thông ở Pháp vào cuối thế kỷ 19.

***

Khởi đầu là từ các nghiên cứu về lịch sử thời đại công nghiệp ở nước Anh. Từ năm 1990 Unesco bắt đầu ghi nhận các cơ sở công nghiệp vào danh sách di sản văn hóa thế giới, mà nổi bật nhất là Con đường di sản công nghiệp châu Âu – một tuyến đường du lịch nổi tiếng xuyên qua nhiều quốc gia . Gần đây khái niệm Di sản công nghiệp đã được phổ biến rộng rãi hơn, do quá trình hiện đại hóa ở nhiều đô thị đã phá hủy hoặc phế bỏ nhiều công trình công nghiệp, thậm chí đó là những công trình từng mang lại sự phồn thịnh cho đô thị đó.

Không chỉ trong phạm vi đô thị mà nhiều công trình dân sinh nhưng quy mô vĩ đại cũng được xếp vào loại hình di sản công nghiệp. Đi khắp châu Âu có thể nhìn thấy những “cầu dẫn nước” trên cao xây dựng bằng đá dài hàng chục hàng trăm cây số, từ ngàn năm trước đã đưa nước nguồn trên vùng núi cao về các thành phố, có thành phố xây dựng bể chứa nước to như một cung điện ngầm dưới mặt đất. Trong thời cận đại, kỹ thuật “dẫn nước bằng cầu” thời trung cổ được tái hiện qua những cây “cầu kênh” nổi tiếng ở Pháp, đồng thời phát triển thêm chức năng lưu thông cho tàu thuyền. Tất cả những thành tựu khoa học kỹ thuật mới đều được ghi nhận, tôn vinh qua sự bảo tồn bền vững.

Ở Việt Nam, cuối thế kỷ 19 những cơ sở vật chất của nền công nghiệp mới bắt đầu có mặt. Sau hơn một thế kỷ phát triển, dù quy mô không lớn nhưng “văn minh công nghiệp” đã để lại một hệ thống di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội. Trong đó nhiều công trình gắn bó với đời sống của cộng đồng dân cư, thành "thương hiệu" của một số thành phố, là đặc trưng cho một giai đoạn phát triển của địa phương hoặc quốc gia. Mặc dù những công trình này hình thành trong thời kỳ thuộc địa nhưng hiện nay là tài nguyên văn hóa có giá trị để khai thác du lịch, làm cơ sở kiến thức để hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển của thế giới. 

Trên thực tế tại Việt Nam, khái niệm "di sản công nghiệp" chỉ mới manh nha gần đây, mặt khác, trải qua chiến tranh và trong quá trình phát triển, nhất là thời kỳ “hiện đại hóa” từ đầu thế kỷ XXI, nhiều di sản công nghiệp ở các đô thị đã bị phá hủy. Nguyên nhân đầu tiên là do hạn chế về nhận thức, về quan điểm đánh giá giá trị di sản đô thị, di sản công nghiệp. Thứ hai là do việc cải thiện và bảo vệ môi trường nên cần thiết phải di dời cơ sở công nghiệp ra khỏi đô thị, việc di dời đồng thời cũng là hủy hoại những tài sản vật chất của ngành công nghiệp. Thứ ba là diện tích các cơ sở công nghiệp khá lớn, vị trí ngày càng trở nên “đắc địa”, trở thành “đối tượng” mà những nhà đầu tư bất động sản rất quan tâm. Vì vậy, các cơ sở công nghiệp cũng như nhiều di sản ở đô thị trở nên “yếu thế” giữa việc “bảo tồn” hay “phát triển”.

Tại TP. Hồ Chí Minh, những cây cầu sắt cổ như cầu xe lửa Bình Lợi, các cây cầu trong vùng Chợ Lớn, Khu công xưởng Ba Son, Nhà máy đóng tàu Caric, hệ thống bến cảng… đã không kịp và không được bảo tồn đúng với giá trị và ý nghĩa của nó. Một phần lịch sử công nghiệp và lịch sử thành phố không còn di tích để minh chứng. Đó là một mất mát rất lớn cho thế hệ mai sau. Nhưng không chỉ thế, đó còn là thiệt thòi ngay cho hiện tại, bởi đã vứt bỏ bao nhiêu “vàng mười” di sản!

 





 

 

 

 

 

 

 

TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng  ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.
Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés. Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.
Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố, có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.
Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.
Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remy trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Barberin, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

THÀNH PHỐ AMBOISE VÀ LÂU ĐÀI CLOS LUCE

 NƠI LEONARDO DA VINCI TRẢI QUA NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI

Nguyễn Thị Hậu

Thung lũng sông Loire (Val de Loire - Pháp) đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới do những giá trị văn hóa độc đáo về lịch sử và kiến trúc. “Khu vườn cổ tích khổng lồ của nước Pháp” hiện còn một hệ thống khoảng 40 tòa lâu đài xây dựng từ thời trung cổ, gắn liền với những chủ nhân nổi tiếng và một thời kỳ lịch sử sôi động của nước Pháp. Thành phố nhỏ Amboise là một thành phố điển hình của Pháp. Tại đây lâu đài của dòng họ Amboise xây dựng vào năm 1471. Các vị vua từ Charles VII đến Francois I đã từng sống ở lâu đài Hoàng gia. Mặc dù một số đồ nội thất đã bị phá hủy trong Cách mạng, nhưng lâu đài vẫn giữ lại một bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật được trang trí đẹp mắt từ thời kỳ Gothic đến thời Phục hưng. Kiệt tác kiến ​​trúc này là điểm sáng trong kiến ​​trúc Phục hưng Pháp. Từ lâu đài Amboise, bạn có thể đến Château du Clos Lucé ở gần đấy. Đây là nơi mà năm 1516 vua Francis I đã tặng cho danh họa Leonardo Da Vinci khi nhà vua mời ông đến sống ở Pháp. Danh họa nổi tiếng người Ý đã sống tại đây cho đến khi ông qua đời vào năm 1519.

Lâu đài này còn có tên là Clos Lucé, được xây dựng xung quanh một tòa tháp hình bát giác. Mặt ngoài của tòa nhà rất thanh lịch, trang trí bằng gạch màu hồng và travertine trắng, phản ánh kiến ​​trúc tiêu biểu của thế kỷ XV. Từng là “nhà nghỉ mùa hè” của hoàng gia Pháp, có kiến trúc độc đáo và những chủ nhân nổi tiếng nên lâu đài được xếp hạng “di tích lịch sử” khá sớm, nhờ vậy đã tránh được việc phá dỡ hoặc xây dựng lại. Từ năm 1954, tòa lâu đài và toàn bộ khuôn viên trở thành bảo tàng về một giai đoạn cuộc đời và sự nghiệp của Leonardo da Vinci. Bảo tàng được chủ sở hữu cuối cùng của tòa lâu đài là gia đình The Saint-Bris gìn giữ, sưu tầm tài liệu hiện vật và thực hiện trưng bày rất công phu. Từ đó đến nay lâu đài đã trùng tu lớn vài lần, được bảo quản thường xuyên, trở thành một điểm du lịch nổi tiếng với hàng trăm ngàn khách mỗi năm.

Lâu đài nằm giữa một khu vực rộng 7 ha có công viên, rừng và sông. Được xây dựng kiên cố, mặt ngoài làm bằng gạch hồng và đá trắng hầu như không thay đổi từ thời Phục hưng, một lối đi của thành lũy cũ sát bức tường cao bao quanh. Trong lâu đài vẫn còn các phòng sinh hoạt và tiện nghi hàng ngày của Leonardo da Vinci và của những chủ nhân khác, kể cả phòng thí nghiệm, phòng làm việc, đọc sách... Một số phòng được phục hồi vào năm 2011 với các chi tiết và đồ đạc cổ như thời Leonardo da Vinci ở đó. Trong lâu đài trưng bày bản sao ba bức tranh nổi tiếng là Mona Lisa, The Virgin and Child, St. Anne và St. John the Baptist mà khi từ Ý qua Pháp Leonardo Da Vinci đã mang theo. Hiện nay các bức tranh quý giá này đang trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris.

Đặc biệt tầng hầm là nơi có các phòng làm việc của danh họa, tại đây ta thấy Leonardo Da Vinci còn là một nhà phát minh, một kỹ sư và một người thợ tự tay vẽ và thiết kế nhiều loại máy móc và các bộ phận của nó. Trong phòng thí nghiệm trưng bày 40 mô hình được phục dựng từ các phác thảo và bản vẽ, đồng thời trình chiếu những hình ảnh 3D sinh động rất hấp dẫn về các phát minh của ông để người xem có thể biết chúng hoạt động như thế nào. Tại đây còn lưu bản vẽ “cầu thang xoắn kép” nổi tiếng được xây dựng tại tòa lâu đài hoành tráng Château de Chambord gần đó, mô hình xe đạp, máy bay và nhiều thiết bị máy móc khác, thậm chí có cả quy hoạch một thành phố và một kênh đào để thuận tiên cho việc đi lại vì thời đó chủ yếu là giao thông đường thủy.

Công viên rộng xung quanh có nhà hàng, quán cà phê, nơi nghỉ ngơi dạo chơi của du khách... Nơi đây thường xuyên triển lãm bằng những phương tiện hiện đại nhiều phát minh của Leonardo da Vinci trong các hoạt động của cộng đồng địa phương, qua đó bảo tàng và nhà danh họa luôn được người dân địa phương tự hào và yêu quý, cũng như niềm tự hào về những lâu đài tuyệt đẹp và nghề làm rượu vang truyền thống của vùng thung lũng sông Loire. Nhờ sự trân trọng và bảo tồn di sản tốt nên vùng này đã đón hàng triệu lượt du khách mỗi năm, kể cả khi các lâu đài đang trùng tu thì lượng khách đến đây cũng không hề giảm sút.

***

Vùng Thung lũng sông Loire với hệ thống lâu đài cổ, trong đó có Château du Clos Lucé -  bảo tàng về Leonardo Da Vinci - chỉ là một số trong hàng chục ngàn bảo tàng, nhà lưu niệm danh nhân, nhân vật lịch sử ở Pháp và nhiều nước châu Âu. Hệ thống này vô cùng phong phú và đa dạng vì hầu như những nhà văn hóa nổi tiếng trên mọi lĩnh vực (nghệ sĩ, nhà văn, nhà khoa học, nghệ nhân của nghề thủ công truyền thống...) đều có nhà lưu niệm hay bảo tàng tại một lâu đài hay ngôi nhà họ từng sinh ra và lớn lên, hoặc nơi khác mà họ sinh sống lâu dài. Tại đó lưu giữ và trưng bày hiện vật về dòng họ, gia đình, cuộc đời và những thành tựu của danh nhân. Một số người có “nhà lưu niệm” ở nhiều địa phương vì nơi đó gắn với một giai đoạn, sự kiện hay thành tựu đặc biệt... Hầu hết các tòa nhà và khu vườn hay công viên, thậm chí khu rừng xung quanh... thuộc gia đình dòng họ danh nhân hoặc sau đó thuộc về người khác, nhưng đều được bảo tồn khá tốt về cảnh quan tự nhiên, kiến trúc công trình và nội thất, đồ đạc hiện vật giữ nguyên vị trí và được bảo quản cẩn thận. Những lâu đài, dinh thự, tòa thành ở đâu cũng có thể coi là nơi lưu niệm hay bảo tàng của các nhân vật lịch sử hay của dòng họ nổi tiếng một vùng.

Bên cạnh đó là hệ thống bảo tàng danh nhân thuộc nhà nước. Có thể vì công trình hay tòa nhà đó không còn ai trong gia đình dòng họ sở hữu, hoặc đã hiến tặng cho nhà nước, có thể do nhà nước hoặc chính quyền địa phương thành lập kỷ niệm những danh nhân lớn của cả nước hay tiêu biểu của địa phương. Dù bảo tàng quy mô lớn hay nhỏ, sở hữu tư nhân hay nhà nước thì cơ quan văn hóa nhà nước vẫn là nơi chịu trách nhiệm về nghiệp vụ (nghiên cứu, hướng dẫn, tư vấn trùng tu, sửa chữa, trưng bày, giới thiệu...), đồng thời chính quyền tạo điều kiện thuận lợi để di tích tham gia vào du lịch, hoạt động văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, chú trọng những hoạt động hướng đến và gắn bó với cộng đồng địa phương.

Những chuyến đi của tôi đến nước nào cũng luôn có chương trình tham quan và làm việc tại di tích, bảo tàng, nhà lưu niệm danh nhân... Từ đó tôi nhận thức được một vài điều bổ ích đối với hoàn cảnh Việt Nam: sự gắn kết chặt chẽ giữa truyền thống tôn vinh danh nhân văn hóa, giữ gìn di sản, chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, tài sản trên đất đai và hệ thống luật pháp liên quan đến di sản văn hóa đồng bộ... là yếu tố quan trọng, thậm chí là quyết định, hạn chế được sự phá hủy di tích, di sản. Cơ chế “xã hội hóa” trên cơ sở phát huy nguồn lực xã hội bằng hệ thống luật pháp và quản lý nhà nước là điều kiện để cộng đồng thực hiện và phát triển kinh tế di sản. Nhà nước và tư nhân, cộng đồng cùng có lợi, trước mắt là kinh tế nhưng lâu dài là giá trị di sản ngày càng được tích lũy lớn hơn. Đặc biệt, việc cộng đồng địa phương được coi là chủ thể của các bảo tàng, nhà lưu niệm danh nhân đã giúp nâng cao sự hiểu biết về lịch sử - văn hóa địa phương, qua các phương tiện truyền thông hiện đại người dân trở thành những kênh thông tin quảng bá và thu hút du khách, từ đó phát triển thêm nhiều sản phẩm văn hóa, kinh tế của địa phương. 

Sài Gòn 15.8.2020


 P/S. NGHĨ VỀ “NHÀ LƯU NIỆM DANH NHÂN” ở VN

Trong hệ thống bảo tàng VN có một số “bảo tàng danh nhân”. Trong số đó, di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An) và Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội có lẽ là nơi được nhiều người dân biết đến. Ở các địa phương có Khu lưu niệm một số vị lãnh đạo, nhân vật lịch sử, nhà văn hóa nổi tiếng... Những bảo tàng/nhà lưu niệm thường do chính quyền các cấp lập ra và hoạt động chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, cơ quan văn hóa địa phương quản lý và vận hành. Giá trị kiến trúc của các công trình không cao, đồ đạc hiện vật ít ỏi... nên nghèo nàn về nội dung và trưng bày. Ngoài ra có thể coi hệ thống đền, đình thờ cúng những nhân vật lịch sử ở các địa phương gần giống loại hình này, nhưng thuộc về cộng đồng và sinh hoạt theo truyền thống dân gian. Hầu hết những địa chỉ văn hóa này không trở thành sản phẩm du lịch.

Tại các thành phố nhu cầu về nhà lưu niệm, bảo tàng danh nhân là có thật và ngày càng cấp bách. Thành phố là nơi sinh sống và hoạt động của hầu hết danh nhân văn hóa thời cận - hiện đại, khi họ mất đi thì phần lớn tư liệu hiện vật phân tán hoặc bị mất, có trường hợp chính ngôi nhà của họ cũng bị chia năm xẻ bảy hoặc thuộc về người khác, việc xây dựng thành “bảo tàng” hay “nhà lưu niệm” là vô vọng như trường hợp Vân Đường Phủ của học giả Vương Hồng Sển ở TPHCM. Nhiều trường hợp khác không có nhà riêng để có thể xây dựng thành nhà lưu niệm, hoặc nếu có thì chỉ gia đình và số ít bạn bè biết đến. Trừ một vài nhà lưu niệm được du khách quan tâm - như Trung tâm nghệ thuật Điềm Phùng Thị tại thành phố Huế - còn lại hình thức kỷ niệm danh nhân phổ biến nhất là nhân dịp bao nhiêu năm ngày sinh, ngày mất sẽ tổ chức hội thảo khoa học rầm rộ tại một nơi trang trọng, có đầy đủ ban ngành tham dự... rồi sau đó được lưu niệm bằng “Kỷ yếu hội thảo”.

Hình: internet

Lâu đài hoàng gia Amboise 

 Chateau Royal d'amboise - Cung điện hoàng gia Amboise

 Từ lâu đài Amboise, bạn có thể đến Lâu đài Clos Lucé

 Lâu đài Clos Lucé

 

 

 

 

 

 

 

SẼ CÒN GẶP LẠI NƠI NÀY


Cà phê  Paris

 Khi đến bất cứ thành phố nào tôi cũng thường chú ý đến những quán cà phê.
Không phải là một tín đồ trung thành của lọai nước uống màu nâu thơm phức này nhưng cà phê luôn “quyến rũ” tôi, trước hết là vì nó giúp cho tôi tỉnh táo sau chặng đường dài hay chuẩn bị cho một ngày quay cuồng vì công việc. Và, điều này quan trọng hơn, quán cà phê là nơi tôi thường gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, và những người bạn mới quen. 
Có thể đó là một tiệm cà phê sang trọng danh tiếng khắp thế giới, có thể là một tiệm nhỏ bên đường có bán cả bánh ngọt và thức ăn nhanh, mà cũng có khi là quán hàng bàn ghế bày ngòai lề đường dưới những cây dù màu sắc nhã nhặn hay sặc sỡ. Sự khác nhau giữa nơi này và nơi khác có lẽ là ở hương và vị ly cà phê, là phong cách phục vụ, là cách trưng bày trang trí, là những người cùng ngồi với tôi ở đó. Sự khác nhau còn ở thời gian tôi đến đó ngắn hay dài ngày, vào mùa nào trong năm. Và bạn có tin không, hương vị cà phê mỗi mùa mỗi khác đấy, nhất là ở những nơi có đủ bốn tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông như những thành phố ở châu Âu.

Một ngày thu tôi trở lại Paris. Chuyến tàu từ Rotxterdam đến Paris băng qua màn mưa, ánh nắng thi thỏang hiện ra rồi nhanh chóng trốn sau đám mây xám âm u. Giang nói với tôi: phía trời hửng sáng kia là Paris đấy, hy vọng Paris đẹp trời vì thời tiết ở Pháp không thất thường như ở Hà Lan hay Bỉ. Khi tôi đến Paris không mưa tầm tã nhưng gió lạnh đã tràn về. Trưa chủ nhật, khu trung tâm Paris tìm không ra nơi đậu xe, anh chị T. phải chạy xe vòng vòng gần một tiếng mới tìm ra một chỗ hiếm hoi trước quán ăn đối diện Notre Dame. Thật may mắn vì đứng nơi đây có thể nhìn thấy tòan cảnh Nhà thờ Đức bà Paris.

Gió hun hút đôi bờ sông Seine bứt tung những chiếc là vàng rải dọc vỉa hè. Những kiốt sách cũ vẫn thế, nhưng hình như những người chủ quán không còn nét hồn hậu như xưa. Vài năm trước tôi qua Paris cũng đến đây tìm mua sách cũ, khi ấy nhiều người bán rất say mê chính những gì họ bán, một cuốn sách bán đi, một tấm bưu thiếp có người mua, một bức tranh có ngừơi chủ mới… người bán dường như phải chia tay với người bạn thân thiết, họ gửi gắm cho người mua cả tình yêu của mình đối với Paris, với nước Pháp. Vẫn đông khách ngắm nghía những tấm bưu thiếp, bức tranh, những cuốn sách cũ. Một Paris cổ xưa hiện lên cụ thể và đa dạng trên từng quầy sách. Tôi và G. trầm trồ trước những bức ảnh đen trắng, những bức ký họa chì chân dung những quý cô quý bà Paris duyên dáng. Cái duyên của những người phụ nữ thấm đẫm sự tinh tế và sang trọng của một Paris cổ xưa…

Quán cà phê nhỏ phía sau Notre Dame. Anh chị T. chọn bàn ngòai vỉa hè dưới cây dù nhỏ vì biết tôi thích như thế. Ngồi cà phê ở Paris thì ngồi ngòai vỉa hè mới cảm nhận hết không khí đặc trưng của Paris : dòng người nối nhau trên đường, những cặp tình nhân thong thả tay trong tay, những cửa hàng đồ lưu niệm tấp nập người ra vào. Bạn sẽ bảo : Ừ thì nơi nào chả thế, bất cứ thành phố du lịch nào mà không có những quán cà phê như vậy ? Nhưng với tôi gió trên những con phố này, những hàng cây lá vàng xào xạc nơi đây, dòng sông Seine lăn tăn sóng dưới kia, ly cà phê nhỏ thơm thơm, những người bạn thân quý ngồi bên tôi… tất cả làm cho ly cà phê không đường càng ngọt ngào hơn, ấm áp hơn…

Một vòng đồi Montmartre, mưa như rây trên những mái nhà ngói cũ, trên những bức tường dây leo xanh lá đỏ, trên những con đường dốc lát đá nhỏ vuông vắn từng viên. Khung cửa nhỏ ấm áp, tiếng nhạc nhè nhẹ, tiệm đồ gốm xinh xắn, ngày cuối tuần du khách rất đông … Từ nhà thờ trung tâm nhìn xuống Paris lô nhô ngút mắt.. Nghỉ chân trong quán cà phê nhỏ. Mưa đã tạnh mà Paris dưới kia sao vẫn mờ như sương… 
 
Mỗi lần cà phê ở Paris luôn mang lại cảm giác lạ mà quen. Cám xúc là lạ khi trở lại bởi tôi luôn giữ trong mình ấn tượng một Paris của những bài thơ những trang tiểu thuyết đã đọc từ thời thơ ấu. Nhưng sự thấp thỏm vì giờ chia tay đang đến gần thì quen lắm, Paris như muốn niu giữ người ra đi khi chiều nay mưa mùa thu đến sớm…

Ly cà phê chợt đắng…

Tôi còn nợ mùa hè nước Pháp

Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…
Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng J ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.

Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés.  Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.

Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố,  có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng  có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.

Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.

Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những  ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remi trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Bacboranh, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.

Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…

Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

Những cánh đồng vắng bóng nông dân

Cuối tháng Bảy. Trải dài những con đường tôi đi qua nước Pháp là cánh đồng mênh mông lúa mì đang vào mùa thu hoạch. Một màu vàng nâu ấm áp của ruộng lúa chín, của rơm được bó ép thành những cuộn tròn khối vuông rải rác trên đồng vắng lặng. Thi thoảng nhìn thấy một hai chiếc máy gặt liên hợp thong thả làm việc, vậy thôi, không thấy bóng dáng người nông dân nào dù những ngôi làng nhỏ liền kề cánh đồng vẫn đông người qua lại…
Mùa này cũng là mùa hướng dương nở rộ. Vẫn những cánh đồng vàng rực rỡ sáng chiều ngả theo ánh mặt trời. Vẫn thi thoảng có vài chiếc máy chạy giữa cánh đồng hoa bạt ngàn, và không thấy ai ngoại trừ người lái máy.

Cánh đồng khô ráo với những sắc vàng in trên nền trời xanh đắm đuối của mùa hè nước Pháp, khắp nơi là màu xanh của lá và sắc màu rực rỡ của hoa, từ thành phố đến nông thôn, từ dọc đường quốc lộ đến đường làng, từ ban công vỉa hè phố cổ đến khung cửa sổ ngôi nhà làng quê bình yên. Thiên nhiên khắp nơi, con người như lọt thỏm vào màu sắc và không khí trong lành tự nhiên, mặc dù đây đó vẫn những khối bê tông kính ốp cao lớn đồ sộ.
Có thể dễ dàng nhận ra một làng quê nước Pháp như ốc đảo xanh giữa cánh đồng vàng. Ở đó từ xa đã thấy nhô lên cao vút tháp chuông nhà thờ cổ, xây bằng đá xám xù xì hay bằng loại gạch đỏ son đều nhuộm màu thời gian trầm lắng, ở đó có tháp nước cao vượt trên những nóc nhà. Bây giờ nhiều nơi còn có vài chiếc quạt điện gió cao ngất ngưởng thong thả quay từng vòng… Nông thôn có lẽ chỉ khác thành phố là nhà trải dọc đường làng như xương cá, những ngôi nhà gạch nhà gỗ, rèm trắng nhẹ nhàng lay trên khóm hoa nhiều màu sắc. Tầng áp mái như những con mắt dõi theo khách qua đường. Đi qua những làng quê như vậy tôi nghĩ, chẳng cần gì hơn, kể cả internet, để có được một khoảng không gian yên ả tránh xa những bề bộn nơi thị thành.

Mùa hè, khách du lịch đông như kiến, ở Paris, ở Toulouse, ở bất cứ làng cổ hay lâu đài nào tôi đến. Không chỉ là khách du lịch nước ngoài, người Pháp cũng đi thăm quan chính nước mình, và cả nông dân cũng nghỉ hè đúng vào mùa thu hoạch lúa. Tại sao không, khi mà chỉ cần một chiếc máy đã thay thế cho hàng chục hàng trăm người nông dân?
Không chỉ nước Pháp, nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp từ lâu rồi, máy móc thay thế sức lao động của người, của trâu ngựa từ hàng chục năm nay. Nông dân, kể cả trồng lúa, trồng cây công nghiệp hay chăn nuôi, cũng từ lâu rồi làm việc như những người công nhân điều khiển máy móc chứ không còn phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Con đường hiện đại hóa ở nhiều nước có thể khác nhau ở ngành mũi nhọn, nhưng không nước nào không công nghiệp hóa từ nông nghiệp, bởi vì, có khi nào có nơi nào trên thế giới này loài người không cần lương thực và những nông sản khác?

Xe cứ chạy vút qua những cánh đồng nước Pháp vắng bóng nông dân. Nhớ thương quá chừng những cánh đồng mênh mông miền Tây Nam bộ cũng thưa thớt bóng nông dân… Thanh niên đổ lên thành phố và các khu công nghiệp-khu chế xuất hay đi làm thuê ở nước ngoài. Lúa cứ chín rục nhưng còn ai về gặt? Hạt lúa nuôi dân ta hơn bốn ngàn năm vẫn oằn lưng gánh bao trách nhiệm: xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, dự trữ lương thực… nhưng được trồng trên nhiều cánh đồng vẫn “con trâu đi trước cái cày đi sau”… Khu công nghiệp càng nhiều thì càng vắng bóng nông dân nhưng người đổ đến làm ở đó thì chưa hẳn là công nhân bởi rời đất ra họ đã có nghề nghiệp gì đâu.
Tỉnh nào cũng hiện đại hóa bằng khu công nghiệp nhiều ngành nghề dịch vụ nhưng hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực chế tạo sản xuất máy móc nông nghiệp. Chế tạo ra máy này máy kia là do những người nông dân ít học tự mày mò vì công việc làm ăn của chính họ thôi thúc, sản xuất thành công rồi đăng ký bản quyền sáng chế cũng còn lắm thủ tục nhiêu khê…

Thời kỳ văn minh Đông Sơn ở đồng bằng sông Hồng, nông nghiệp trồng lúa nước với kỹ thuật dùng cày và sức kéo của trâu, bò là kỹ thuật tiên tiến. Hơn bốn ngàn năm đã qua, hiện nay và nhiều thế kỷ nữa nước ta vẫn là một quốc gia Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn, đó là một “hằng số” kinh tế và văn hóa. Nếu không lấy NÔNG làm đầu và làm trọng tâm thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ không bao giờ đủ sức làm “đòn bẩy” cho sự phát triển của đất nước.

Mỗi chúng ta ai không có một nhà quê, ai không có gốc gác nông dân, ai không ước mơ một ngày nào đó trên những cánh đồng lưu vực sông Cửu Long, sông Hồng cũng sẽ vắng bóng nông dân, nhưng làng quê lúc đó sẽ trù phú khang trang hơn gấp nhiều lần, thế hệ nông dân mới sẽ có học thức không thua kém ai, và có thể họ cũng sẽ “rời xa mảnh đất của mình” nhưng không phải vì không còn đất mà vì họ đã có nghề nghiệp đủ sống đàng hoàng, nếu ở lại quê hương chí ít cũng trở thành công nhân nông nghiệp làm việc trên những chiếc máy cày máy cấy máy gặt liên hợp.
Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam xứng đáng và cần phải được như thế!

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu









Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...