Hiển thị các bài đăng có nhãn lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng

TÂM LINH VÀ TÂM AN



Nguyễn Thị Hậu

Mùa lễ hội  
Không biết từ bao giờ khoảng thời gian sau Tết âm lịch – tháng giêng kéo dài qua hết tháng hai, tháng ba thậm chí qua tới tháng tư – được gọi là ‘mùa lễ hội”?
“Mùa lễ hội” tương đương thời gian của một vụ mùa nên cũng có sự co giãn về thời gian theo cơ cấu thời gian nông nghiệp, nông thôn. Lễ hội diễn ra liên tục về thời gian  từ lúc nông nhàn sau Tết âm lịch đến đầu mùa mưa bước vào thời vụ mới. Lễ hội diễn ra liên tục trong không gian: từ làng này qua làng khác, lễ hội liên làng, lễ hội của một vùng… chủ thể của lễ hội là cộng đồng của một làng, của một vùng. Nhiều lễ hội nổi tiếng không phải vì có đông người từ xa về tham dự hay vì có các quan về chủ trì, mà vì sự độc đáo của phần Hội, ở ý nghĩa nhân văn của phần Lễ. Chính vì vậy được cộng đồng chủ thể của lễ hội gìn giữ, không làm biến chất, biến dạng vì hiểu giá trị của lễ hội làng, vùng mình chính là sự khác biệt, độc đáo.

Từ khoảng mươi năm nay lễ hội bỗng dưng nở rộ dồn dập vào sau Tết, khi mà cơ cấu thời gian hiện nay của xã hội đã là thời gian công nghiệp và đô thị - giờ hành chính. Hơn 800 lễ hội cấp quốc gia và cấp tỉnh (chưa tính những lễ hội chưa được thống kê) diễn ra trong khoảng  ba tháng, tức là một phần tư của một năm, lại là quý đầu năm, thời điểm cần phải bắt đầu, khởi động kế hoạch của một năm mới. Thử thống kê số lượng người đến các lễ hội này bao nhiêu phần trăm là công chức, viên chức nhà nước? Chắc chắn tỷ lệ không nhỏ, bởi vì, ngoài việc đi lễ hội để thỏa mãn tâm lý “cầu cạnh” các vị thánh thần ban cho tài lộc chức tước thì việc công chức viên chức nghỉ việc đi lễ hội có bị trừ mất đồng lương nào đâu (và thu nhập thêm, nếu có), thậm chí còn “trốn” được nhiều việc mà… không làm cũng chẳng ai chết (“dân có cần nhưng quan chưa vội” – ca dao mới).

Chưa nói đến những giá trị đích thực của lễ hội còn hay mất, chưa nói đến hình thức lễ hội còn là truyền thống hay không… chỉ cần nhìn hiện tượng các địa phương đua nhau “nâng cấp” lễ hội cả về quy mô và hình thức, có thể nhận biết mục đích chính của hiện tượng lễ hội tổ chức tràn lan đến mức không kiểm soát được, như thừa nhận của ngành Văn hóa: Thực chất ở rất nhiều lễ hội đó là sự thương mại hóa. Không thể phủ nhận, khi Lễ hội trở thành một sản phẩm văn hóa thì mục đích thương mại không thể không đặt ra, nhưng mục đích thương mại phải đặt sau, đặt dưới mục đích bảo tồn giá trị văn hóa của lễ hội, tức là bảo tồn di sản văn hóa cho đời sau, bên cạnh việc quảng bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam đến thế giới.
Việc các phương tiện thông tin và ngành du lịch đua nhau quảng bá rầm rộ về “mùa lễ hội” cũng góp phần kích thích tâm lý “lễ hội” của người dân và xu hướng thương mại hóa các lễ hội.

Quá khứ nào đang trở lại?
Từ năm 2010 nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã chỉ ra, Lễ khai ấn đền Trần và nhiều lễ hội khác hiện nay phục hồi lại không còn giữ đúng về hình thức và nội dung đã được lưu truyền hay ghi chép trong sử sách.Thế nhưng vì sao mỗi năm lại mỗi phát triển hòanh tráng, lãng phí thời giờ tiền bạc công sức của xã hội, biến chất về ý nghĩa mang nặng yếu tố tiêu cực hơn?

Hiện nay tâm lý truyền thống "tháng Giêng là tháng ăn chơi" sống lại và phát triển nhờ hàng lọat lễ hội mở ra với mật độ dày đặc trong một thời gian không dài, quy mô tổ chức ngày càng lớn ngòai phạm vi làng xã. Hầu hết lễ hội đều do các cấp chính quyền nhà nước tổ chức và cử hành nên phần Nghi lễ (trước đây trang nghiêm, giản dị, vừa phải) thì nay trở thành phần chính được cử hành hoành tráng, biến ý nghĩa của Nghi lễ dân gian truyền thống thành sự thể hiện và đáp ứng những nhu cầu “chính thống” của xã hội hiện đại. Do đó không lạ khi Lễ Khai Ấn đền Trần được nhiều người coi là lễ cầu xin thăng quan tiến chức! Đây là tâm lý của một bộ phận không nhỏ của công chức nhà nước nên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý xã hội nói chung.

Người xưa nói “ấn tín” là để chỉ đạo đức, trách nhiệm của người giữ ấn. Nhưng nay những “công bộc của dân” mấy ai quan tâm đến việc tạo dựng và gìn giữ uy tín đạo đức? Mặt khác, việc các công chức nhà nước bỏ nhiệm sở đổ xô đi lễ Khai Ấn và nhiều lễ hội khác, cho thấy mặc dù chúng ta luôn nói đến Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nhưng không biết đến bao giờ tác phong văn minh công nghiệp mới trở thành nếp sống của toàn xã hội?
Cũng vậy, những lễ hội có những hành vi chém giết động vật, tranh cướp “lộc thánh”… nếu trước đây là biểu trưng văn hóa của một làng xã nhỏ hẹp thì nay lại mang tính thực dụng của cả xã hội. Không thể không nhận thấy sự phổ biến của việc nhúng tiền vào máu động vật bị giết hay rải tiền lẻ ở đền, chùa để cầu may, việc để cho con trẻ chứng kiến, người lớn thì reo hò nhìn con vật chết dần một cách bất nhẫn trong lễ hội và thực trạng xã hội: những hành vi “buôn thần bán thánh” coi thường đạo đức luật pháp, dửng dung, trơ lỳ cảm xúc trước bất công, trước hành vi bạo lực của con người với con người, như những vụ “mất chó giết người đền mạng”, cô bảo mẫu đáng trẻ nhỏ, thanh niên nam nữ đánh người già cả… xảy ra ngày càng nhiều.

Việc tiếp tục tổ chức rầm rộ những lễ hội với hàng trăm ngàn người dân ùn ùn kéo đến làm cho ý nghĩa của lễ hội ngày càng biến dạng, thực chất nó chỉ phản ánh thực trạng xã hội hiện nay. Đó là:
1/ Các lễ hội truyền thống không còn giá trị đích thực, chúng ta sẽ làm mất di sản văn hóa của chính chúng ta.
2/ Các giá trị tinh thần tốt đẹp của truyền thống mất đi, con người sẽ phải tìm đến và tin vào những giá trị “ảo”, dần dần sẽ làm băng họai xã hội!
Và 3/ Nhà nước không thể quản lý được các lễ hội nếu cứ tổ chức tràn lan và tùy tiện như vậy, những tệ nạn đã xuất hiện trong các lễ hội sẽ rất khó bị dẹp bỏ, chưa kể nó sẽ biến tướng và xuất hiện thêm những tệ nạn mới.

Mỗi thời đại có hệ giá trị của thời đại mình, nhất là những giá trị văn hóa. Có nên làm “sống dậy” một vài giá trị văn hóa của quá khứ nhưng không còn hợp thời, thậm chí “giá trị” ấy còn dung dưỡng khuyến khích những hành vi tâm lý xấu trong xã hội hiện này?
Quá khứ phải là nguồn mạch trong lành để nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện tại và tương lai, chúng ta không thể biến quá khứ thành “ao tù nước đọng” chứa đựng thêm những rác rưởi ngày nay, bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu chứ không phải sống trong một cái làng tù túng ngày xưa.

Lên đường để đến tâm an
Mùa xuân cũng là mùa lễ hội. Phong tục tổ chức lễ hội vào thời gian “nông nhàn” khiến cho trong Nam ngoài Bắc khắp đình, chùa, đền, miếu... tấp nập người đi lễ. Ngày xưa lễ hội những ngày này, dù vào “tháng Giêng ăn chơi” nhưng không nặng tính thực dụng mà chủ yếu để giải trí, du xuân gặp gỡ mọi người và thăm viếng nơi danh lam thắng cảnh. Những lời khấn cầu đầu năm ngoài sự mong muốn những điều may mắn tốt lành còn nhằm bày tỏ lòng thành tâm thiện với Thần, Phật.

Trải qua mấy chục năm chiến tranh, ở miền Bắc nhiều phong tục tập quán liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo bị xóa bỏ vì coi là “mê tín dị đoan”. Nhưng sau chiến tranh, nhất là từ khi “đổi mới” về kinh tế, trong xã hội “làm giàu” trở thành mục tiêu của nhiều người thì nhiều tục lệ đã phục hồi và ngày càng phát triển theo hướng thực dụng.
Điều đáng nói là việc cầu xin tài lộc chức tước lan tràn mọi lúc mọi nơi, đến mức không thể kiểm soát! Bây giờ vào ngày lễ tết đền chùa nào cũng mù mịt khói nhang tràn ngập đồ lễ vàng mã tiền lẻ rải như rác... Người ta cho rằng lễ càng “hoành tráng” thì thần, phật càng chứng giám phù hộ, cơ may như những hợp đồng làm ăn béo bở, chức tước danh vị sẽ vào tay mình, tránh được những rủi ro thậm chí nếu vi phạm luật pháp sẽ không bị phát hiện và được bao che khỏi sự trừng trị của cơ quan chức năng...

Từ đó đã nảy sinh hiện tượng “buôn thần bán thánh”, “mua chuộc thần phật”, “kinh doanh tâm linh”... Phục vụ cho nhu cầu này nên chùa chiền được trùng tu, xây mới tràn lan, ngày càng hoành tráng, truyền thông rầm rộ về những ngôi chùa xác lập một “kỷ lục” nào đó về quy mô kiến trúc trang trí, sự có mặt của các vị quan chức thăm viếng cúng dường, tổ chức lễ hội cấp quốc gia... Chùa càng to càng “giàu có” thì càng đông “tín đồ”, tiếng đồn “linh nghiệm” càng nhiều. Người ta ồ ạt theo những tour “du lịch tâm linh” vội vã chạy từ chùa này sang chùa khác cho đủ mấy “kiểng chùa” mà không có nơi nào đủ thời gian mà lắng lòng thanh tịnh.

Trong khi đó ở đâu cũng có chùa làng. Những ngôi chùa đơn sơ giản dị, gần gũi với dân cư trong vùng, nhiều chùa nuôi trẻ mồ côi người già cơ nhỡ... nhưng ít người thăm viếng, thỉnh thoảng có người “từ thiện” đến giúp đỡ chút đỉnh. “Phật tại tâm” sao còn phân biệt chùa giàu chùa nghèo, phân biệt chùa lớn chùa nhỏ? Sự phân hóa “đẳng cấp” một cách sâu sắc không chỉ có ngoài xã hội mà đã hiện diện trong các ngôi chùa phản ánh nhu cầu tâm linh đã bị tâm lý “thực dụng” lấn át. Xưa trong truyện cổ tích khi khó khăn người ta thường cầu xin ông Bụt giúp đỡ, nay lại coi Phật như ông Bụt vạn năng có thể giúp cô Tấm trở thành hoàng hậu hay giúp anh nông dân có cây tre trăm đốt để trả thù phú ông nên người ta lên chùa cầu xin không thiếu thứ gì... Và phải chăng vì quan niệm “Bụt chùa nhà không thiêng” nên hay phải đi cầu Phật chùa xa cho “linh”?

          Nhiều người đã biết rằng, đi lễ chùa đầu năm hay vào ngày rằm, mùng một hàng tháng là để tỏ lòng thành kính với Đức Phật, con người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát lợi lộc vật chất cho mình mà tìm đến giáo lý Phật Giáo để giác ngộ, xuất phát từ bản thân làm việc thiện “tu nhân tích đức”... Trong xã hội ai cũng hướng thiện và làm việc đức thì ngày càng có nhiều điều tốt đẹp cho tất cả mọi người, trong đó có mỗi người. Đó là tâm thức cần có khi đến với các tôn giáo trong đó có Phật giáo.

Mùa lễ hội nào cũng kết thúc, mọi người lại trở về với công việc và sinh hoạt thường ngày. Nhưng điều quan trọng là sau mỗi lần lên chùa vào đền thành kính khấn vái, chúng ta có hành xử tử tế, làm ăn lương thiện và chăm chỉ hơn không, bởi vì nói cho cùng, lười biếng thì không Thần nào cứu giúp, ác tâm thì không Phật nào độ trì... Có tâm có đức thì mới có linh. Vô tâm thất đức thì dù có cầu cúng đến đâu cũng không thể mang lại sự bình an trong tâm hồn. Tâm bất an là nguyên nhân mọi sự bất ổn của cá nhân và xã hội.


Kết quả hình ảnh cho lễ hội lộn xộn

ĐAU BỤNG UỐNG NHÂN SÂM…

Nguyễn Thị Hậu

Chuyện xưa kể rằng, có thày lang kia được mời chữa bệnh đau bụng cho một người, thày giở sách thuốc ra tra thấy ghi “đau bụng uống nhân sâm” bèn làm theo. Kết quả người bệnh chết. Người nhà túm thầy đưa lên quan huyện, thầy bảo tôi chỉ làm theo sách dạy. Quan bắt mở sách ra xem, thì ra câu ấy còn hai chữ viết ở trang sau, là “đau bụng uống nhân sâm… tắc tử”.

Ngỡ chỉ là chuyện cười của cái thời mà tuyệt đại bộ phận dân chúng mù chữ nên chỉ quen nghe chứ không biết đọc, số rất ít người biết chữ thì chỉ học thuộc lòng và khi cần thì nói lại cho người khác nghe. Mà sự truyền đạt này tùy thuộc vào việc hiểu chữ đến đâu… Thế nên mới xảy ra chuyện dở cười dở khóc, chẳng biết kết tội thày lang đã gây ra “hậu quả nghiêm trọng” thế nào ngoài việc chê trách cái sự học “không đến nơi đến chốn”.

Nhưng mới mấy ngày đầu năm nay thôi đã thấy nhiều hiện tượng kiểu “thày lang nhân sâm” xuất hiện. Từ tấm bandroll quảng cáo có chữ “văn hóa vật thể phi quốc gia” (tuy người có trách nhiệm nói rằng đó là ảnh photoshop nhưng tôi thì tin là thật, bởi đã nhiều lần những văn bản sai đều bị đổ cho “cậu đánh máy”!) đến tấm ảnh “tịch điền” cắt cúp phần trên “cho đẹp” nên mấy cờ phướn có dòng chữ Hán chỉ còn một nửa đều là những chữ “bất” mang nghĩa tiêu cực. Không khéo vì chuyện này mà tòa soạn trở nên “bất ổn” chứ chả đùa! Trong thời đại thông tin chỉ cần sơ xảy vì thiếu hiểu biết chút thôi thì những bandroll hay bức ảnh như thế dễ trở thành việc “tắc tử” do truyền thông hay mạng xã hội.

Rộng hơn, cứ mỗi tháng giêng “hội hè miên man” thì tình trạng lễ hội bị biến tướng hoặc phục dựng vô căn cứ càng trở nên phổ biến. Năm nay Lễ Khai ấn đền Trần đã “nhân bản” thêm ở nhiều địa phương khác, đến mức một chuyên gia khảo cổ học sau nhiều lần lên tiếng trong các hội thảo khoa học thì lần này đã phải thẳng thừng trên báo chí  “Việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử!”, không chỉ để khẳng định một sự thật mà còn cảnh báo cho những lễ hội khác, dưới danh nghĩa “bảo tồn, phát huy di sản văn hóa” nhưng thực chất là phiên bản, thậm chí là dị bản đang sinh sôi nảy nở nhằm vào mục tiêu lợi nhuận là chính trong mùa lễ hội.

Nếu chỉ nhìn hiện tượng phần lớn lễ hội vô cùng bát nháo, lộn xộn thậm chí mất kiểm soát từ việc chen chúc cướp giật “lộc” của Phật, Thánh… đến việc công khai “hiến tế” động vật bằng  cách thức cổ xưa nhất…  Nhiều người dễ dàng buông lời chê bài thậm chí thóa mạ cả “đám đông” lễ hội lẫn ban tổ chức và người tham dự. Nhưng nếu nhìn vào thực chất, tất cả hiện tượng đó đều có chung một cái gốc: đó là sự hiểu biết không đến nơi đến chốn vốn di sản văn hóa cha ông để lại, từ đó việc thực hành gìn giữ vốn quý đã làm sai lạc ý nghĩa ban đầu của nó. Khi kiến thức có bằng cách học “đi tắt”, lấy bằng cấp là để “đón đầu” quy hoạch bổ nhiệm,  sự hiểu biết chỉ đủ để kiếm lợi thì nhiều lễ hội là biểu trưng văn hóa tốt đẹp đã trở nên thực dụng và xấu xí trong quan niệm văn hóa của thời đại toàn cầu.

 Có câu nói của một nhà cách mạng nổi tiếng thường được giảng dạy trong chương trình “quản lý nhà nước” khi nói về nguyên nhân của những hậu quả xấu dù việc làm có mục đích tốt: “Nhiệt tình + Ngu dốt = Phá hoại”. Nếu như ngày xưa dân chúng mù chữ thì “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” là cần thiết và tốt đẹp thì ngày nay, phần lớn nhân dân đã phổ cập kiến thức phổ thông và hiểu biết nhiều hơn, vì vậy muốn “vi sư” thì cần biết “vạn chữ”, muốn “vi quan” cũng phải hiểu “ngàn chữ”, nếu không thế thì xã hội sẽ còn tiếp diễn chuyện dài nhiều tập “đau bụng uống nhân sâm…”.

Viết đến đây chợt nhớ cũng khoảng này năm ngoái, ở tỉnh nọ xảy ra một tai nạn cũng thuộc loại dở khóc dở cười. Anh kia bắt được trong nhà một con chuột, “thấy ghét” và cũng muốn tiêu diệt con vật có hại, bèn tẩm xăng đốt. Kết quả: nó chạy vào xe hơi, xe nổ, nhà anh cháy rụi!
Cái ác thường song hành cùng cái dốt, đã thế lại sốc nổi “nhiệt tình thái quá” thì hậu quả hại đến chính mình như vậy là điều không thể tránh khỏi!

Sài Gòn 2.2017



NHỮNG CÁI “NHẤT” ĐẾN TỪ ĐÂU?

http://www.thesaigontimes.vn/129049/a.html

Nguyễn thị Hậu

Xin nói ngay, cái “nhất” muốn nói đến ở đây là hiện tượng đua nhau lập những “kỷ lục” TO NHẤT mà không biết để làm gì? Bánh chưng bánh dày lớn nhất, bánh tét dài nhất, ly cà phê to nhất, tô hủ tíu bự nhất, tượng đài Mẹ chiến tranh hoành tráng nhất, xây chùa lớn nhất, tạc tượng Phật to nhất Đông Nam Á, tháp truyền hình cao nhất khu vực… Và có lẽ không muốn nhưng  dự án đốn chặt 6700 cây xanh ở Hà Nội và thực tế chỉ trong hai, ba ngày đã chặt đến 500 cây, có lẽ cũng là một kỷ lục tàn phá môi trường nhanh nhất!

Tất nhiên, người ta đã viện ra nhiều ý nghĩa mục đích rất cao cả cho những việc làm công trình tiêu tốn tiền muôn bạc tỷ kia, nhưng tất cả điều đó không thể biện minh cho sự hoang phí và không thể che dấu được sự phô trương và hãnh tiến!

Nhưng, có phải chỉ ở những lễ hội, những cuộc thi các cấp quốc gia tỉnh thành… người ta mới ham cái “nhất”, hay nói cách khác, ham muốn phải “hơn người”? Nhìn quanh, không hiếm những hiện tượng cũng đầy tính hình thức và sự lãng phí như vậy.

Ngày Trái đất, trong khi nhiều nước chỉ đơn giản kêu gọi người dân thực hành tiết kiệm điện qua những phương tiện truyền thông phổ biến như báo chí, truyền hình, truyền thanh, hoặc các tổ chức xã hội thông tin với nhau qua mạng xã hội, tức là tận dụng những gì đã có để kêu gọi tiết kiệm điện, thì chúng ta lại “tổ chức” những hoạt động như tập trung ở nơi công cộng, đốt nến, rồi băng rôn khẩu hiệu… đầy đường. Lãng phí công sức thời gian của bao người, tiền của xã hội… để rồi cũng không biết rằng, số tiền “tiết kiệm” điện trong ngày hôm đó có “thu đủ bù chi” hay không?

Chuyện thi thả diều thì thi diều đẹp diều bay cao chứ sao phải làm diều “to nhất” để gây ra tai nạn đau lòng?

Bệnh thành tích trong giáo dục cũng là một kiểu phô trương. Trường nào số học sinh giỏi cũng có tỷ lệ cao chót vót, nhưng kỳ thi nào cũng là một sự ám ảnh với cả học sinh lẫn phụ huynh vì “toàn học sinh giỏi thì không thể trượt ”;  Ở các cơ quan nhà nước ngày lễ kỷ niệm nào đó nhất định phải có huân chương các hạng cho tập thể và cá nhân, nhất là cho lãnh đạo. Mỗi dịp bình bầu thi đua hoặc là cuộc sát phạt nhau hoặc là sự xuê xoa vì số lượng công chức “hoàn thành nhiệm vụ” nhiều đến mức ai nghe cũng phải buồn cười; các cuộc điều tra “tỷ lệ hài lòng về dịch vụ công” bao giờ cũng có kết quả hoàn hảo như ở một đất nước “thiên đàng” nào đó; và “tràn đầy tự hào” khi thi thoảng được ai đó xã giao ngợi khen vài câu, hay khi lọt vào bảng xếp hạng “quốc tế” về một cái gì đó như là “kỳ quan” hay “hạnh phúc” chẳng hạn.

Tất cả những giả dối lãng phí như “chuyện thường ngày” tưởng là nhỏ nhưng chính là những bậc thang để đi đến thói quen, nhu cầu thích làm ra những kỷ lục to lớn nhất không để làm gì ngoài sự lãng phí khủng khiếp. Hàng năm Việt Nam vẫn là nước phải đi vay tiền, đi xin viện trợ các kiểu, còn trong nước thì nhiều tỉnh còn có những thôn xóm thiếu đói quanh năm thì việc đua nhau thi thố công nhận những “kỷ lục” những cái “nhất” không giống ai như vậy chẳng khác nào khuyến khích sự giả dối và và hoang phí vô độ.

Từ thời xa xưa qua truyền thuyết bánh chưng bánh dày ông bà mình đã cảnh báo “bệnh” phô trương giàu sang lãng phí, đề cao sự thiết thực và quý trọng những thứ bình thường giản dị nhất như hạt lúa hạt đậu: Vua Hùng đã cho bánh chưng bánh dày giải nhất chứ không phải là nem công chả phượng hay những sơn hào hải vị. Lang Liêu chất phác nhưng hiểu giá trị của lúa gạo được vua cha truyền ngôi chứ không phải những công tử khoe khoang của ngon vật lạ. Trong một xã hội nông nghiệp như thời Hùng Vương, lúa gạo do chính con người làm ra là thành quả đáng tự hào nhất để tôn vinh và “sánh vai” cùng những bộ lạc gần xa chứ không phải những thứ đi vay mượn của người khác hay chiếm đoạt của tự nhiên.

Đấy mới là bài học lịch sử mà con cháu cần phải nhớ.



LỄ HỘI VÀ NHÂN VĂN

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/le-hoi-va-nhan-van-20150307224114393.htm


Mùa lễ hội năm nay mới bắt đầu đã làm cho xã hội phải đồng loạt lên tiếng vì những hành vi phản cảm đang diễn ra ngày càng phổ biến và mức độ ngày càng trầm trọng.

Quốc gia nào dân tộc nào cũng có những lễ hội truyền thống. Đó là di sản văn hóa chứa đựng giá trị tinh túy và luôn được gạn lọc những gì không còn phù hợp với thời đại mới. Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ thường diễn ra ở những nơi trang nghiêm như: trong hoặc trước cửa đình, chùa... Tham gia và điều hành phần lễ là các bậc cao niên có uy tín trong cộng đồng, được cộng đồng kính trọng và tuân thủ sự điều hành trong lễ hội. Ý nghĩa của lễ là để giao tiếp với thần linh thông qua các nghi thức tín ngưỡng thể hiện nguyện vọng hay ký ức của một cộng đồng. Lễ hiến tế là một phần quan trọng của lễ hội, sau lễ hiến tế là một bữa ăn chung cả làng, như là sự sẻ chia những gì thần linh ban tặng.

Phần hội diễn ra ở một “không gian mở” rộng lớn hơn, cho toàn thể cộng đồng và người ngoài cộng đồng có thể tham gia, “vui như hội” vì đây là không – thời gian nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của con người thông qua các trò chơi dân gian thể hiện sự khéo léo, khỏe mạnh, cũng có những trò mang tính chất “phá luật” như “linh tinh tình phộc” (tắt đèn thì trai gái “tự do”)…  Nhìn chung lễ hội xưa mang đậm dấu ấn của nông nghiệp trồng lúa với cộng đồng cư dân “làng” hẹp về không gian và nhỏ về quy mô. Thông tin về các lễ hội xưa cũng hạn hẹp do truyền thông kiểu “truyền miệng”, chỉ có một vài lễ hội nổi tiếng khắp vùng như Hội Gióng hội Lim… 

Lễ hội có những mặt tích cực như bảo lưu các giá trị truyền thống của làng, nhắc nhở ý thức về cội nguồn, tưởng nhớ tổ tiên, anh hùng dân tộc… các trò trong hội thể hiện ý thức về đồng loại, cố kết con người vào cộng đồng, thể hiện ý thức về mỹ tục và thể hiện tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao của từng cá nhân, của cộng đồng.

 Tâm thức trong lễ hội xưa thể hiện tinh thần “dân chủ làng xã”, qua dịp lễ hội mọi người gần gũi nhau hơn. Lễ hội thường vào thời gian “nông nhàn” con người được nghỉ ngơi. Đây là dịp con người nhìn lại và giải toả những phiền muộn, lo âu, bày tỏ với thần linh những mong muốn về cuộc sống tốt đẹp hơn. Những trò “cướp lộc” trong lễ hội phản ánh rõ một nhận thức là rất ít người có được sự “may mắn” từ thần linh ban cho, còn lại những ai không có được may mắn ấy thì càng cố gắng làm ăn.
Vì vậy những hành vi trong lễ hội thời xưa là mang tính biểu trưng của văn hóa.

Ngày nay lễ hội có phạm vi không gian rộng hơn nhiều, càng rộng hơn về phạm vi ảnh hưởng vì phương tiện truyền thông hiện đại “ngay và luôn”. Gọi là “hội làng” nhưng phần lớn là người từ nơi khác đến tham gia, không phải ai cũng hiểu ý nghĩa và những hành vi mang tính tượng trưng của lễ hội xưa. Ngoài ra còn cần phải nói đến tâm lý thực dụng, thậm chí có phần tham lam của nhiều người dự lễ hội. Biết rằng “lộc” không đáng gì nhưng “kém miếng giữa làng” thì khó chịu, “sự may mắn” bị đánh đồng với “cái lợi” cho cá nhân nên quyết cướp giựt cho bằng được, không được thì xô xát, chửi mắng đánh nhau. Do đó lễ hội có trò “cướp, giết” sẽ không thể kiểm soát được do tâm lý đám đông dễ làm lây lan hành vi vô văn hóa.

Do quy mô lễ hội lớn hơn nên mục đích ý nghĩa của lễ hội không còn thuần túy tinh thần như trước. Dễ nhận thấy nhất là sự thương mại hóa lễ hội khá phổ biến. Để phục vụ mục đích thương mại nhiều lễ hội biến dạng về hình thức và cả nội dung, do đó tính nhân văn của lễ hội ngày càng biến mất.

Theo TS Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo, “Chủ nghĩa nhân bản hiện đại đã tiến những bước dài trong ứng xử với tự nhiên, xã hội, cá nhân và cộng đồng. Các hành vi bạo lực bị lên án, các hành vi lệch lạc bị chỉ ra và ngăn cấm... Do đó, việc duy trì bản sắc văn hóa cũng cần được đặt trong khuôn khổ thế giới là một cộng đồng liên đới, có trách nhiệm chung, vừa duy trì sự đa dạng, vừa đạt được sự đồng thuận theo các chuẩn mực quốc tế. Sự tuân thủ các chuẩn mực quốc tế phải được coi là trình độ đạt đến hay chưa đạt đến văn minh. Như thế, sự duy trì tục hiến sinh phải được đặt trong bối cảnh đó”.

Duy trì các lễ hội truyền thống và những hoạt động trong lễ hội cũng phải đặt trong bối cảnh một xã hội đang “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến” bên cạnh việc gìn giữ “bản sắc văn hóa dân tộc”. Nếu cứ duy trì những lễ hội đầy rẫy hành vi bạo lực tham lam thì chính chúng ta đang “giết chết” di sản văn hóa. Di sản văn hóa sẽ không còn giá trị nếu nó không vun đắp tính nhân văn của cộng đồng và lòng nhân ái, trắc ẩn của mỗi con người.

Sài Gòn ngày 5.3.2015




QUÁ KHỨ NÀO ĐANG TRỞ LẠI?


Từ năm 2010, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra lễ khai ấn đền Trần và nhiều lễ hội khác đã không còn giữ đúng hình thức và nội dung đã được lưu truyền hay ghi chép trong sử sách. Thế nhưng vì sao mỗi năm các lễ hội này lại càng phát triển hoành tráng, lãng phí thời giờ, tiền bạc, công sức của xã hội, biến chất về ý nghĩa, mang nặng yếu tố tiêu cực hơn?

** “Công bộc của dân” làm ảnh hưởng tâm lý toàn xã hội

Hiện nay tâm lý truyền thống “tháng Giêng là tháng ăn chơi” đã sống lại và phát triển nhờ hàng loạt lễ hội mở ra với mật độ dày đặc trong một thời gian không dài, quy mô tổ chức ngày càng lớn, ngoài phạm vi làng xã. Hầu hết lễ hội đều do các cấp chính quyền nhà nước tổ chức và cử hành nên phần nghi lễ trước đây trang nghiêm, giản dị, vừa phải thì nay trở thành phần chính, được cử hành một cách chính thức. Ý nghĩa của nghi lễ đã thể hiện, đáp ứng những nhu cầu “chính thống” của xã hội. Do đó không lạ khi lễ khai ấn đền Trần lại trở thành lễ cầu xin thăng quan tiến chức. Đây là tâm lý của một bộ phận không nhỏ công chức nhà nước nên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý xã hội nói chung. Người xưa nói “ấn tín” là để chỉ đạo đức, trách nhiệm của người giữ ấn. Nhưng nay những “công bộc của dân” mấy ai quan tâm đến việc tạo dựng và gìn giữ uy tín, đạo đức?

Mặt khác, việc các công chức nhà nước bỏ nhiệm sở đổ xô đi dự lễ khai ấn và nhiều lễ hội khác cho thấy mặc dù chúng ta luôn nói đến công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhưng không biết đến bao giờ tác phong văn minh công nghiệp mới trở thành nếp sống của xã hội ta?

** Đánh mất các di sản văn hóa, xô con người vào chỗ vô đạo đức

Những lễ hội có các hành vi chém giết động vật, tranh cướp “lộc thánh”… nếu trước đây mang tính biểu trưng văn hóa thì nay lại mang tính thực dụng. Việc nhúng tiền vào máu động vật bị giết hay rải tiền lẻ ở đền, chùa để cầu may; việc để cho con trẻ chứng kiến, người lớn thì reo hò nhìn con vật chết dần không thể hiện sự “thiêng liêng” như ý nghĩa vốn có. Nếu nhìn rộng hơn ra xã hội, ta không khó để nhận ra những hành vi “buôn thần bán thánh”, coi thường đạo đức luật pháp, dửng dưng, trơ lỳ cảm xúc trước bất công, trước hành vi bạo lực của con người với con người, như những vụ “mất chó, giết người đền mạng” xảy ra gần đây.

Nếu cứ tiếp tục tổ chức rầm rộ lễ khai ấn và những lễ hội thế này thì việc hằng năm người dân ùn ùn kéo đến lễ hội sẽ không chỉ làm cho ý nghĩa của lễ hội tiếp tục biến dạng mà thực chất nó phản ánh thực trạng và những “nhu cầu” xã hội hiện nay. Đó là: Các lễ hội truyền thống không còn giá trị đích thực, chúng ta đang làm mất di sản văn hóa của chính chúng ta. Các giá trị tinh thần tốt đẹp của truyền thống mất đi, con người sẽ phải tìm đến và tin vào những giá trị “ảo”, dần dần sẽ làm băng hoại xã hội! Và Nhà nước đã cho thấy không thể quản lý được các lễ hội nếu cứ tổ chức tràn lan và tùy tiện như vậy. Những tệ nạn đã xuất hiện trong các lễ hội sẽ rất khó bị dẹp bỏ, chưa kể nó sẽ biến tướng và xuất hiện thêm những tệ nạn mới.

Quá khứ phải là nguồn mạch trong lành để nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện tại và tương lai. Chúng ta không thể thải những rác rưởi vào đó để biến quá khứ thành “ao tù nước đọng”, bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu chứ không phải sống trong một cái làng tù túng ngày xưa.
TS NGUYỄN THỊ HẬU
http://phapluattp.vn/t…/qua-khu-nao-dang-tro-lai-535129.html

ĐỪNG ĐỂ DI SẢN BỊ BIẾN DẠNG

(Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 15/5/2014)

Cho đến nay Việt Nam đã có 8 di sản văn hoá được Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009), Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và đền Sóc (2010) , Hát xoan (2011). Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Phú Thọ) (2012) và mới đây là Đờn ca tài tử Nam Bộ (ngày 05/12/2013).

Trong khoảng vài chục năm nay, các chính sách văn hóa của UNESCO mang lại cho thế giới sự quan tâm đến việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là ở các quốc gia Châu Á và Thái Bình Dương. Việc UNESCO công nhận nhiều loại hình di sản đã làm cho kho tàng văn hoá của nhân loại ngày càng phong phú, đa dạng, đồng thời tạo ra những nỗ lực liên tục trong việc bảo tồn di sản, và nâng cao thu nhập từ du lịch cho những nước đang phát triển.

Tuy nhiên, việc hàng loạt di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) được Unesco vinh danh nhưng không đi cùng thái độ cương quyết, mạnh mẽ trong việc đưa ra những khuyến cáo về việc khai thác tràn lan và không đúng hướng, những cảnh báo về tác hại của sự biến đổi môi trường văn hoá đối với việc bảo tồn di sản văn hoá, cùng với những biện pháp “chế tài” nếu như những khuyến cáo này không được lưu ý và thực hiện. Chính điều này đã làm nên tình trạng ở nhiều nước đang phát triển và chậm phát triển, Di sản văn hoá như những chiếc bong bóng nhiều màu sắc rực rỡ, nhanh chóng phồng to khi được bơm lên và có thể chúng bay lên, nhưng sẽ xẹp dần, chưa kể nếu lỡ chỉ một mũi kim chạm vào chiếc bong bóng ấy sẽ vỡ toang!

Giá trị của những di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam được Unesco công nhận là điều không thể bàn cãi, nhất là đối với một quốc gia có 54 tộc người với những nền văn hoá dặc sắc như Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là, sau ồn ào của lễ hội đón tấm bằng công nhận “Di sản văn hoá thế giới” thì những di sản này được bảo tồn và bảo vệ như thế nào? Sau nhiều lễ hội khác mà trong đó những di sản văn hoá này được “sân khấu hoá” để trình diễn một cách xa lạ với ngay cộng đồng sáng tạo và lưu truyền nó… thì không gian văn hoá chứa đựng và lưu truyền “di sản văn hoá” đang hàng ngày bị biến đổi ra sao? Đó chính là những câu hỏi mà những người thực sự quan tâm không thể không đặt ra.

Ai cũng biết, di sản văn hóa phi vật thể tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản, nếu chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể. Yếu tố quan trọng nhất đối với sự tồn tại và giá trị của di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở ảnh hưởng, vai trò và tác động của nó trong đời sống cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể chỉ thực sự có giá trị khi nó được người dân tiếp nhận, nuôi dưỡng và trở thành một bộ phận không thể tách rời của bản lĩnh văn hóa và đời sống tinh thần của mỗi thành viên.

Đơn cử, gần đây có tin tỉnh Bạc Liêu đã chi một số tiền lớn cho việc tổ chức Lễ hội Đờn ca tài tử Nam bộ và xây dựng một số công trình văn hoá như Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Trung tâm Văn hoá nghệ thuật, Nhà hát “nón lá”… Không thể phủ nhận vai trò của những thiết chế văn hoá trên trong việc “bảo tồn và phát huy giá trị” di sản văn hoá, tuy nhiên, chức năng đó cũng là mục tiêu là lâu dài và chỉ thực hiện được nếu Đờn ca tài tử Nam bộ “sống khoẻ, sống đẹp” trong môi trường đã sản sinh ra nó: thiên nhiên, con người và văn hoá Nam bộ.

Thử hình dung, sau Lễ Đón nhận danh hiệu “Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại” một cách hoành tráng ở TPHCM, bằng festival cũng rầm rộ không kém ở Bạc Liêu, nhiều tỉnh Nam bộ đã xây dựng tour du lịch “về miệt vườn nghe đờn ca tài tử”, rồi việc “tận dụng” di sản văn hoá để phục vụ cho bất kỳ lễ/ hội, phong trào nào của địa phương… Đờn ca tài tử đang được bay lên bằng tất cả những động thái đó nhưng thực sự hiệu quả ra sao? Người dân được tạo điều kiện sống như thế nào để họ có thể lưu giữ, duy trì sinh hoạt văn hoá này? Đồng thời họ được hưởng lợi như thế nào từ việc lưu giữ và quảng bá cho di sản văn hoá của chính họ? Liệu di sản văn hoá có bị biến dạng không khi phải phục vụ nhu cầu hàng ngày của nhiều đối tượng du khách khác nhau? Những cuộc biểu diễn đờn ca tài tử trên sân khấu chứ không phải trong những sinh hoạt dân giã đám hiếu đám hỉ ở làng quê, những bài ca được sáng tác theo “phong trào” với những lời ca khô cứng, sáo rỗng chứ không phải những lời ca mộc mạc sinh động do những nghệ nhân “hát cương” quanh mâm cơm, trên bộ ván gõ với ly trà chén rượu, trên ghe xuồng thơm khói bếp cà ràng, lời hát kể lại câu chuyện sinh hoạt đời thường… Đừng để kiểu trình diễn sân khấu hoá “giết chết” cái hồn nhiên chân thật rất mực “Nam bộ” của đờn ca tài tử.

Vài năm trước đây vào ngày Hội Lim người ta còn tổ chức cho những 3500 người nam phụ lão ấu cùng “đồng ca” quan họ thì hỡi ôi, người yêu quan họ đến mấy cũng phải thốt lên quan họ ở chúng em ra về… và sau này nhiều người chua xót nói: muốn nghe quan họ đừng về Hội Lim. Bảo tồn quan họ đâu chỉ là việc nhiều người biết hát quan họ? Bảo tồn quan họ còn là bảo tồn không gian văn hóa quan họ, từ cảnh quan lễ hội làng quan họ đến phương cách trình diễn. Bảo tồn di sản văn hóa mà mang nặng tư duy hình thức như theo phong trào, kiểu như xác lập một “kỷ lục ghi net” không biết để làm gì hay những cuộc bầu chọn không thực chất, thì sẽ chỉ phát sinh những việc làm hủy hoại di sản văn hóa mà thôi.

Đó chính là những mũi kim tiềm ẩn trong môi trường văn hoá làm cho Di sản của chúng ta trở nên “mong manh”, dễ bị tổn thương và không thể bay cao, bay xa. Tiếc thay nhiều nhà “nghiên cứu” và quản lý văn hoá dường như không mấy quan tâm đến những “mũi kim” như thế đang hiện diện ngay trong công việc của chính họ.

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...