Hiển thị các bài đăng có nhãn quê ngọai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quê ngọai. Hiển thị tất cả bài đăng

RƯNG RƯNG NHỚ “MIỀN NƯỚC NỔI”

Nguyễn Thị Hậu

Sau nhiều năm nước về muộn, năm nay từ giữa tháng chín nước đã về miền Tây, tuy không cao nhưng người dân vui mừng đón mùa nước nổi. Nước lên từ từ, cá đồng có thời gian sinh trưởng, nguồn sống của người miền Tây dồi dào hơn, đồng thời cũng phải đỡ vất vả “chạy lũ” như những năm nước về đột ngột với lưu lượng lớn.

Mấy bữa trước bạn gọi điện: “nhà mới tát đìa, cá rô cá trê nhiều quá trời, làm sao gởi lên cho chị được? Gởi chị thì gởi cả thùng chớ 1,2 kg ai nhận? Dưới này cá đồng có vài chục ngàn một ký, trên Sài Gòn nghe nói tới mấy trăm? Hay chị ở nhà đi, em gởi cá lên chị bỏ mối cũng kiếm bạc triệu mỗi ngày!”. Tôi cười, trời ơi tui mà biết buôn bán thì đâu có chờ tới giờ này?

Vậy mà bữa qua bạn đã nhắn: em gửi chị thùng cá theo xe đò đó, họ sẽ mang tời tận nhà nhen! Chưa kịp nhắn lại thì thùng cá đã tới cửa. Một thùng xốp bự nặng đến chục ký, cuốn băng keo chắc chắn như đi vòng quanh thế giới. Mở thùng ra thì nào cá linh, cá rô, ba khía, chuột đồng… còn tươi bọc trong bịch xốp giữa lớp nước đá, nào bông súng còn nguyên những nụ tím hồng, đọt nhãn lồng màu xanh tươi xếp đầy phía trên…

Như sợ tôi không nhớ cách nấu nướng, bạn còn dặn: chị nấu canh chua cá linh bông súng, cá rô kho tộ ăn với đọt nhãn lồng luộc sơ. Ba khía nhớ ướp ớt tỏi đường chút dấm với bột nêm, mai mốt ăn với cơm nóng cơm nguội đều ngon. Chuột đồng ướp gia vị rồi rôti, bây giờ về miền Tây cũng ít nơi còn đặc sản này…

Cả một trời hương vị miền Tây mùa nước nổi ùa về, bỗng rưng rưng nỗi nhớ quê nhà…

***

Nhiều năm trước năm nào tôi cũng về quê vào mùa nước nổi. Có năm từ bến xe về nhà theo đường lộ mà nước ngập hơn nửa bánh xe máy, có năm phải đi đò theo con rạch mới hồi mùa nắng còn cạn trơ đáy, giờ nước đã ngấp nghe mặt cầu ván. Nhà có đám giỗ, đám cưới hay tiệc tùng vào mùa này thì cực nhưng mà vui. Sông rạch nước ngập cá tôm đầy chợ, tươi chong, rau đồng mơn mởn nhiều loại tươi tốt vào mùa này như bông điên điển, hẹ nước, bông súng, bông sen, sầu đâu, đọt choại, bồn bồn… Hồi đó đám tiệc ở quê còn do nhà tự nấu, chưa đặt dịch vụ như bây giờ. Sáng sớm lội nước ra chợ mua thức ăn, các sạp hàng có khi nổi lềnh bềnh trên mặt nước, người bán người mua luôn hít hà chắt lưỡi không phải vì thức ăn đắt hiếm, mà vì quá nhiều quá ngon mà lại rẻ rề. Đám tiệc hay bữa ăn gia đình cũng dễ dàng chế biến được những đặc sản.

 Đám giỗ ông ngoại tôi vào tháng chín âm lịch. Người lớn kể rằng ông mất vào mùa nước lớn, gia đình và bà con lối xóm lội nước đưa ông ra đồng. Từ đó năm nào ngày giỗ ông cũng lấy nước năm đó để mà so sánh, năm nay nước hơn hay kém…  Xong ngày chánh giỗ đãi đằng bà con, ngày “hậu thường” chỉ còn người nhà, thế nào mấy dì mấy mợ cũng làm nồi lẩu mắm “ăn đỡ ngán”, dù từ mấy ngày trước phụ nữ trong nhà đã phải lo lắng và luôn tay chuẩn bị mọi thứ từ nồi xoong chén đĩa, bàn ghế đến các mòn dưa chua, củ kiệu, có năm còn gói bánh tét bánh ít, làm bánh ngọt… có ai ăn uống được gì đâu. Chỉ cần mua mớ tép mớ cá linh, một rổ gần chục loại rau đồng tươi mướt về là có ngay nồi lẩu mắm ngon lành, có khi còn đổ bánh xèo, món khoái khẩu những ngày mưa se lạnh. Trời ơi là ngon! Bảo sao cứ đến mùa nước nổi là người miền Tây lại cồn cào nỗi nhớ. Ai cũng nói, nhớ nhà bắt đầu từ nỗi thèm những món ăn dân dã quen thuộc, bởi đó là cánh đồng, dòng sông, là mùa nắng mùa mưa chốn quê nhà.

***

Mùa nước nổi mang theo phù sa làm tươi mới những cánh đồng, mang về sông rạch bao nhiêu cá tôm cua ốc… Cuộc sống ở đồng bằng sinh động hẳn lên. Khi nước "nhảy" khỏi bờ là lúc người dân dùng nhiều loại ngư cụ như giăng câu, thả lưới, đặt lờ, lọp, dớn… để khai thác thủy sản trên những cánh đồng mênh mông nước. Dân mưu sinh bằng việc đánh bắt cá tôm và nhiều sản vật tự nhiên, tuy cực nhưng bù lại có miếng ăn miếng để, có đồng ra đồng vô, nên thật ra mùa nước nổi không phải là mùa đói kém. Tuy nhiên, trước hết phải có một ngôi nhà chắc chắn, rồi một chiếc xuồng với những dụng cụ đơn sơ là có thể “sống khỏe”. Nhiều nơi ở miền Tây phổ biến chiếc xuồng “năm quăng” làm từ gỗ tạp, chỉ dùng một mùa nước là quăng bỏ, các xưởng ghe xuồng làm ra bán rất chạy vào mùa nước nổi, vì phù hợp với túi tiền của nhiều người.

Khoảng hai mươi năm trước khái niệm “sống chung với lũ” xuất hiện trên truyền thông với ám ảnh tiêu cực. Nhưng có ở miền Tây mới biết, người miền Tây không chỉ nhìn thấy những thiệt hại trong ‘mùa lũ” bởi họ hiểu đó là quy luật của tự nhiên. Thích nghi với mùa nắng mùa mưa, tận dụng mùa nước nổi mang lại nguồn lợi, đó là lối sống “thuận thiên” của cư dân đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành từ hàng trăm năm qua.

 TC DU LỊCH TPHCM, 10.2022





 

 

 

 

 

TÀU LÁ CHUỐI và NHỮNG TẾT XA QUÊ

Gia đình tôi là người miền Nam tập kết ra Bắc. Từ 1954 đến năm 1975 trở về quê hương đồng bằng sông Cửu Long chúng tôi đã có 21 cái Tết xa ngôi nhà của ông bà nội ngoại. Vậy nhưng trong những năm ấy dù ở Hà Nội hay nơi sơ tán thì ngày Tết của gia đình tôi bao giờ cũng thấm đẫm hương vị Tết Nam bộ. Hương vị ấy có một đặc trưng rất riêng, ấy là mùi bánh tét gói bằng lá chuối.

Những năm sống trên đất Bắc ba tôi thường ăn Tết xa nhà, cùng đoàn Cải lương Nam bộ ông đi khắp nơi biểu diễn phục vụ đồng bào, chiến sĩ. Vì vậy ngày Tết thường chỉ có mấy mẹ con tôi cùng láng giềng trong khu tập thể, phần lớn các gia đình cũng đều vắng đàn ông. Nhưng nếu Tết nào ba tôi không đi xa thì nhà tôi như “câu lạc bộ Thống nhất”, nhiều chú bác tập kết ghé về đây ăn Tết vì chắc chắn sẽ có bánh tét, thịt kho tàu, dưa giá củ kiệu và nhiều món ăn Nam bộ khác.
Năm nào cũng vậy, từ khoảng rằm tháng chạp má tôi đã hỏi thăm nơi nào bán lá chuối, rồi mấy ngày sau đó dù mưa phùn lạnh thấu xương bà cũng đạp xe đi các chợ tìm mua chuẩn bị cho việc gói bánh tét. Nhưng người ta thường bán lá chuối đã rọc, vì vậy bà phải dặn trước mới mua được mấy bó lá chuối còn nguyên cả tàu lá. Má tôi rọc tàu lá cẩn thận để không bị rách, cọng chuối thì bà chẻ ra thành những sợi dây, buộc thành bó gọn gàng. Nếu trời hửng nắng, buổi trưa bà tranh thủ mang lá và dây chuối ra phơi cho hơi héo. Còn nếu vẫn mưa phùn gió bấc thì trước khi gói bánh bà tự tay hơ lá và dây trên bếp lửa gần tàn. Bà không để ai làm việc này vì nếu hơ không khéo, lá bị héo gói bánh không đẹp, dây bị giòn hoặc không đủ dai, khi “cột” bánh sẽ đứt. Hơ dây xong bà khéo léo buộc đầu hai sợi với nhau để đủ độ dài cột bánh nhiều vòng cho chặt.
Tôi hỏi: Sao má không cột bánh tét bằng lạt người ta bán sẵn ở chợ? – Vì lạt dễ làm rách lá chuối. Bánh chưng gói bằng lá dong thì mới buộc bằng lạt được. Lá chuối dễ rách nên sau khi hơ lửa, má tôi không rửa mà dùng mấy chiếc khăn mềm, nhúng nước vừa đủ ẩm, nhẹ nhàng lau mấy lần cho thật sạch. Sau đó xé thành những miếng lá to nhỏ khác nhau, xếp vào thành từng xấp. Gói bánh tét không có khuôn, một “đòn” bánh tét cần khoảng 5,6 miếng lá lớn và 4 miếng nhỏ để bọc hai đầu, chừng chục sợi dây cột chặt. Dây vụn lá vụn và những miếng lá xấu thì xếp vào đáy nồi luộc bánh.
Có năm má tôi còn gói cả bánh ít cũng bằng lá chuối. Gói bánh ít thì miếng lá chuối bên trong được cắt nhỏ vừa đủ quấn thành hình phễu, khi “bắt bánh” (đặt cục bột đã nặn nhân và xoa một ít mỡ cho khỏi dính) vào trong “phễu” lá gói lại theo hình tháp thì lá không rách, bột không bị chảy khi hấp bánh. Miếng lá ngoài còn tươi màu xanh mướt, gói bẻ góc làm thành chiếc bánh có hình tam giác cân gọn gàng, không cần cột dây mà khi hấp chín vẫn không bị bung ra.
Lá chuối còn được dùng khi nặn nhân bánh tét. Nồi đậu xanh nấu chín đánh nhuyễn để hơi se se, má tôi dùng muôi múc ra đổ trên miếng lá chuối, dàn thành hình gần chữ nhật mỏng đều chừng gần đốt tay. Mỡ lợn đã ướp chút muối, đường, nếu được phơi nắng thì miếng mỡ trong veo, cắt thành từng miếng dài gần gang tay, dày khoảng đốt ngón tay, đặt vào giữa dọc theo miếng đậu xanh. Cầm hai bên miếng lá chuối nhanh tay úp lại và nhẹ nhàng lăn cho nhân tròn đều, chỉ phút chốc nhân bánh tét đã thành hình trụ tròn, cục mỡ nằm chính giữa. Lúc này đậu xanh cũng đã nguội nên từ từ nhấc ra đặt lên cái đĩa lớn cũng lót lá chuối cho khỏi dính.
Đậu xanh chín thơm phức quyện với mùi lá chuối hấp dẫn vô cùng! Hấp dẫn hơn là sau khi nặn nhân bánh tét xong, má vét đậu xanh hơi xém ở đáy nồi, cho vào miếng lá chuối ấy và nắm lại cho tôi ăn, chao ôi là ngon!
Nhà tôi thường nấu bánh tét trong cái thùng tôn, bình thường dùng đựng đồ ít dùng đến, như một cái “kho” nhỏ ở góc nhà. Sáng ngày 29 Tết anh Hai tôi lấy ra cọ rửa sạch sẽ, sắp sẵn mấy cục gạch lớn thành cái bếp trước cửa nhà, chẻ đống củi đã mua từ vài tháng trước. Buổi chiều mấy má con vo gạo nấu đậu, tối bắt đầu gói bánh. Đến khuya là có thể nổi lửa nấu bánh. Bánh tét nhỏ hơn bánh chưng và xếp vào nồi cũng khác, khi bánh chín lấy ra không phải ép cối đá như bánh chưng mà lại treo lên cho bánh chắc lại. Vì vậy nhà tôi không nấu bánh chung với nhà ai được. Hơi nước sôi mang theo mùi bánh mùi lá chuối thơm ngọt ngào làm cho đêm đông ấm hơn và ngắn hơn. Sáng sớm 30 Tết đã có thể vớt ra những đòn bánh no tròn bốc hơi nghi ngút.
Những năm đi sơ tán về miền quê Sơn Tây mạn gần Phú Thọ, nhà nào cũng trồng chuối nên má tôi chỉ cần hỏi xin là được cả ôm những tàu chuối to và đẹp, thoải mái rọc lá xé lá mà không lo bị thiếu. Tôi còn nhớ mãi những lần má tôi gói bánh tét ở nơi sơ tán, bà con ở đó rất ngạc nhiên hỏi “vì sao bác ở miền Nam mà lại biết gói cái bánh tày quê cháu?”. Bà trả lời “tôi cũng chỉ biết ông bà dạy sao thì làm theo vậy”. Má tôi cũng ngạc nhiên không kém khi thấy những cái “bánh chưng tày” tròn dài như đòn bánh tét, chỉ khác là nhân bằng đậu xanh không đồ chín và không có cục mỡ, như vậy để được lâu hơn, bác chủ nhà nói vậy. Nhưng bánh tày để người trong nhà ăn, không để lên bàn thờ mà chỉ cúng bánh chưng vuông.
Sự giống nhau của bánh tày và bánh tét do cùng nguồn gốc hay do hiện tượng đồng quy văn hóa thì cũng mang lại nhiều điều thú vị. Nghiên cứu lịch sử tôi nhận thấy cần tìm hiểu thêm những hiện tượng văn hóa như thế, vì nó sẽ cho biết nhiều “sự thật” mà sử học bỏ qua không ghi chép hoặc không chú ý.
Từ khi về Sài Gòn má tôi vẫn gói bánh tét bánh ít “để tết nhất con cháu biết mà làm”. Nhưng vài năm nay má tôi không được khỏe nên nhà tôi không gói bánh tét nữa, dù hai chị em tôi gói bánh thành thạo, các con gái biết cột bánh rất khéo, vì cứ bàn việc gói bánh tét là bà lại lo lắng đủ chuyện đến mất ngủ, như ở thời bao cấp ngày xưa...
Bây giờ ít nhà tự gói bánh vì có nhiều dịch vụ tiện lợi, ăn uống no đủ hơn nên bánh chưng bánh tét giò chả đâu còn là đặc biệt dù ngày Tết vẫn không thể thiếu. Mà Sài Gòn cũng chỉ còn vài nơi bán lá dong lá chuối hay lạt tre, còn dây bằng cọng chuối thì hầu như không còn nhìn thấy... Vậy mà mỗi khi Tết gần kề tôi vẫn hay đi chợ tìm nơi bán lá chuối, mua một xấp lá về để trong bếp cho thấy lại cái mùi Tết hồi những năm còn xa quê...

TẾT ĐẦU TIÊN TRÊN QUÊ HƯƠNG



Nguyễn Thị Hậu
          Mùa xuân Bính Thìn 1976 gia đình tôi được ăn cái tết đầu tiên ở quê hương sau 21 năm “ngày Bắc đêm Nam”. Đó là những ngày tết tại Sài Gòn và Cao Lãnh vô cùng đáng nhớ của tôi.
Từ đầu năm 1975 ba má tôi – những cán bộ miền Nam tập kết – đã lên đường về Nam theo một kế hoạch rất khẩn trương và bí mật. Trước đó trong những năm từ 1965 – 1972 ba tôi nhiều lần đưa các đoàn nghệ thuật đi phục vụ chiến trường dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, với tâm nguyện là được trở về quê hương Nam bộ. Nhưng do tình hình chưa thuận lợi nên sau vài tháng hay nửa năm là ông cùng các nghệ sĩ lại quay ra Bắc cùng với lời động viên của cấp trên “tình hình chưa chín muồi, các đồng chí về hậu phương chuẩn bị sức khỏe tốt hơn và các tác phẩm nghệ thuật hay hơn, khi điều kiện thuận lợi nhất định sẽ được ra tiền tuyết và trở lại quê hương!”.

Tháng Năm 1975 cả gia đình tôi được đoàn tụ ở Sài Gòn. Mỗi người một công việc trong không khí bề bộn nhưng cũng rất náo nức của những ngày hòa bình đầu tiên. Cả gia đình tôi vẫn ở nhờ một gian phòng trong một biệt thự là trụ sở cơ quan của ba tôi. Sau đó vài tháng thì chuyển về căn nhà nhỏ ở vùng Phú Nhuận. Bà con đến thăm và giúp cho một số đồ đạc cần thiết. Vậy là chúng tôi thực sự “an cư” trong ngôi nhà của mình sau mấy chục năm ở trong một căn phòng tập thể nhỏ hẹp. Nhưng quan trọng hơn đây là ngôi nhà chúng tôi đón cái tết sum họp đầu tiên đầy đủ cha mẹ con cái và có cả gia đình nội ngoại.

Từ Giáng sinh năm 1975 đến tháng chạp năm đó không khí Sài Gòn bỗng nhiên se lạnh, dường như giới tuyến 17 không còn chia cắt hai miền nên thời tiết cũng được giao hòa. Trên đường phố Sài Gòn xuất hiện những chiếc áo gió, khăn quàng, thậm chí cả áo len áo khoác khiến tôi tưởng như mình còn ở mùa đông Hà Nội. Gần tết Bính Thìn ba má tôi bàn nhau: Năm nay mấy ngày Tết ba má, anh Hai đều phải trực “bảo vệ” cơ quan, vì vậy cho hai chị em tôi về Cao Lãnh ăn Tết với bà ngoại và các dì các cậu. Vậy là ngày 23 tháng Chạp hai chị em tôi ra bến xe miền Tây đi xe đò về quê ngoại. Đường về miền Tây nườm nượp xe hơi xe máy, sau bao năm chiến tranh loạn lạc nhiều người mới lần đầu về quê ăn cái tết hòa bình.

          Thị xã Cao Lãnh khi ấy còn nhỏ bé yên bình nhưng ngày giáp tết dãy phố quanh nhà lồng chợ rực rỡ sắc vàng hoa mai trước mỗi ngôi nhà, sắc đỏ đèn lồng ở những cửa hiệu của người Hoa. Chợ Tết đông đúc chen chân không lọt, ê hề trái cây thịt cá bánh kẹo... nhiều nhất là dưa hấu chất thành từng đống cao, trái nào trái nấy rất lớn, chắc nịch, vỏ tươi xanh mà ruột đỏ rực. Hàng hóa đồ dùng, quần áo giày dép.... cuối năm đổ đống bán rẻ như cho, phong bao lì xì và đồ trang trí nhà cửa rực rỡ mời gọi người mua... Cả thị xã nhộn nhịp từ sáng sớm đến đêm khuya, khác ngày thường chỉ chập tối là đường phố đã vắng. Trên sông Cao Lãnh ghe xuồng qua lại không ngớt, ghe trái cây, bông kiểng nhiều nhất, rồi ghe chiếu mới, ghe than ghe bếp ông lò... chiều tối đèn điện sáng rực cả một khúc sông.

Về ngoại tôi mới biết thêm phong tục tập quán ngày tết quê mình: Bàn thờ chưng một cành mai hoặc bông vạn thọ, cúc đại đóa, một cặp dưa hấu, bánh tét bánh ít, mâm mứt và bánh ngọt, chai rượu. Nhà nào cũng trồng vài cây mai ở sân, trước cổng, sau rằm tháng chạp người ta lặt hết lá mai để sát tết cả cây mai nở bung rực rỡ đón xuân về. Bà ngoại nhắc mấy dì nhớ mua bịch muối, đổ đầy mấy lu nước, chặt quày dừa tươi để cúng giao thừa. Mấy cậu cháu tôi ra khu mộ gia đình, rửa mộ sạch sẽ, trồng hoa, thắp nhang cho ông ngoại. Cậu Út tôi nói vui “mời tía dìa ăn tết với má, bả giục tui đi đón ông dìa nè”. Khói nhang thơm ngát như ông ngoại cùng theo về nhà.
Bên chái bếp có mấy cây mận hồng đào chua chua ngọt ngọt, mợ tôi hái xuống, cắt đôi, rửa sạch, ngâm đường cho thấm và “sên” trên bếp trấu riu riu làm mứt mận, sau bữa ăn có một ly mứt mận dầm nước đá mát ngọt sẽ đánh tan cảm giác ngán thức ăn thịt nếp ngày tết. Rồi nhà nào cũng nhộn nhịp nữ công gia chánh: mấy dì mấy cô pha bột nướng bánh kẹp, quết bánh phồng, nướng bánh bông lan, mấy chị em mang hết nồi xoong ra sông chùi rửa sáng bóng. Rồi mua thịt đầu heo về làm dưa làm giò thủ, phơi củ cải cà rốt làm dưa món, cắt lá chuối ngâm nếp ngâm đậu gói bánh tết bánh ít, lại còn quầy chuối chín chờ gói bánh tét nhân chuối đỏ thắm ngọt thơm.

Ngày hai chín Tết kho nồi thịt heo hột vịt nước dừa, làm chảo thịt khìa, nồi khổ qua dồn thịt hay nồi măng tươi hầm chân giò, mua giò lụa chả quế nem chua, chuẩn bị gà vịt cho mâm cúng chiều Ba mươi và đêm giao thừa... Sáng mùng Một cả nhà lên nhà lớn thắp nhang bàn thờ ông bà và chúc thọ bà ngoại, chị em tôi được ngoại lì xì một phong bao đỏ tươi, dày hơn phong bao các anh em khác, “tội nghiệp, hai đứa nhỏ lớn xa nhà bây giờ mới được về ăn tết với ngoại”.
***
Ngày mùng Hai tết hai chị em tôi lại theo xe đò lên Sài Gòn cho biết không khí Tết của thành phố. Nhiều đường phố vẫn còn vắng nhưng khu trung tâm thì náo nhiệt suốt từ ngày 23 tết. Những ngôi nhà mặt tiền treo lá cờ đỏ sao vàng và cờ nửa xanh nửa đỏ sao vàng. Chợ hoa Nguyễn Huệ đã kết thúc vào chiều ba mươi, trả lại con đường rộng rãi thoáng đãng tràn gió mát từ sông Sài Gòn qua những kiot bán hoa, văn phòng phẩm, báo chí, vật lưu niệm... Bùng binh cây liễu và đài phun nước luôn tấp nập người chụp hình, rất nhiều tà áo dài, quân phục bộ đội, nhiều người không quen biết nhưng sẵn sàng chụp chung tấm hình trong ngày tết hòa bình. Nhiều gia đình chở nhau cả nhà trên chiếc xe gắn máy, lá cờ gài trên tay lái, chùm bong bóng nhiều màu cầm tay. Thỉnh thoảng có chiếc xe jeep cắm cờ mặt trận chạy vòng vòng trên đường phố, trên xe là mấy chú bộ đội giải phóng quần áo tinh tươm nai nịt gọn gàng.

Trước tết má tôi ra chợ Cũ mua cặp bánh tét và vài món đồ nguội để sẵn trong nhà. Sau mấy ngày trực tết ở cơ quan, khi chị em tôi ở quê lên cả nhà mới ăn tết với một giỏ đồ ăn mà bà ngoại và mấy dì mấy mợ gửi lên Sài Gòn. Vui nhất là cái bánh tét má tôi mua... chỉ có nếp mà không có nhân thịt đậu, “bánh tét giả” – má tôi cười nói. Đây đó trong hẻm phố tiếng pháo râm ran, vang vang điệu nhạc xuân xen nhạc cách mạng rộn rã, khắp nơi cũng mai vàng cúc thắm. Lần đâu tiên tôi được xem múa lân với tiếng trống tiếng chập cheng rộn rã, chú lân leo lên cao và đớp được chiếc túi màu đỏ có tiền lì xì đầu năm của gia chủ. Ai nấy đều phấn khởi: năm nay chắc sẽ hên nhiều.

Khác với Hà Nội, người Sài Gòn thường đi chơi tết: đến các khu vui chơi giải trí, đi xem phim nghe ca nhạc, đi ăn hàng quán... Thảo cầm viên Sài Gòn là nơi tụ hội náo nhiệt nhất, không chỉ có người Sài Gòn mà người các tỉnh lên thành phố đều muốn “vô sở thú” nhất là trong những ngày tết. Trong đó có nhiều loài hoa đẹp, thú lạ, đủ loại hàng quán, lại còn có xiếc mô tô bay, có thợ chụp hình dạo lấy ngay, vẽ chân dung, cắt giấy hình người...
Còn trong Chợ Lớn thì đường phố đỏ xác pháo, nhà nào cũng câu đối đỏ, đèn lồng và hình rồng trang trí ở cửa. Các ngôi chùa nghi ngút khói nhang suốt mấy ngày tết, người đến lễ Phật cầu may đông đúc nhộn nhịp, ra về ai cũng cầm trên tay một cây nhang đại là lộc đầu năm. Hàng quán ở Chợ Lớn bán suốt ngày đêm, tết lại càng đông khách. Đại lộ Nguyễn Tri Phương, Châu Văn Liêm, đường Nguyễn Trãi... và những đường nhỏ, những con hẻm sâu hun hút không lúc nào ngớt người qua lại.

Bác Hai – hàng xóm nhà tôi, một người Khmer Trà Vinh lưu lạc lên Sài Gòn từ năm 1960, sinh sống bằng nghề thợ tỉa vườn thuê cho những biệt thự trong vùng Phú Nhuận – trong bữa tối mùng 3 tết ngồi lai rai với ba tôi, nói: hòa bình rồi nên tết này Sài Gòn nhộn nhịp từ sáng tới khuya, chớ hồi chiến tranh vùng Phú Nhuận này chừng 6g chiều là vắng hoe, gần sân bay Tân Sơn Nhứt càng vắng. Láng cháng coi chừng bị cảnh sát xét hỏi liền... Thôi thì đói no gì cũng hết giặc giã rồi, mơi mốt tui dìa quê làm ruộng, anh Bảy rảnh xuống chơi tui đưa đi thăm chùa Miên quê tui, đẹp lắm...
Mùng 4 rồi mùng 5 tết người các tỉnh lại đổ vào thành phố... Nhịp sống Sài Gòn trở lại bình thường. Qua cái tết hòa bình đầu tiên nhiều người nghĩ rằng, hơn hai mươi năm chiến tranh đã kết thúc, một năm mới và tương lai đang đến sẽ là hai chữ Bình An và Hạnh phúc.

Bài trên báo Người Lao động xuân Canh Tý 2020

 Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và văn bản

Gian bếp của ngoại



Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

Mỗi lần về quê vào dịp Tết, sau khi lên nhà trên thắp nhang bàn thờ ông bà, tôi thường xuống ngay gian bếp, nơi ngoại tôi luôn ở đó với nụ cưới móm mém chờ tôi chạy vào ngồi kế bên ngoại, thơm sực mùi trầu.
Gian bếp của ngoại nằm ngang so với nhà trên, từ nhà trên đi xuống qua một hành lang dài mái tôn có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Nhà bếp mái ngói cũ nâu thâm lác đác những chiếc lá của cây mận hồng đào sau bếp. Ngoại nói cây mận này ngoại trồng hồi má tôi sinh tôi, nay cũng đã tuổi “U 50” rồi mà vẫn rất sai trái. Vào mùa gần Tết từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành, mỗi đêm gió chướng lại rụng lộp bộp, trẻ con khoái lượm những trái mận chín rụng, ăn giòn và ngọt như đường phèn.

Cũng như nhiều gian bếp trong những ngôi nhà miệt vườn Nam bộ, gian bếp của ngoại rộng rãi, sáng sủa, cửa ra vào hai cánh bằng gỗ luôn rộng mở. Cửa sổ sát mé con rạch Cái Tôm đón từng cơn gió mát rượi ngày hai lần nước lớn, lúc nước ròng thoảng mùi bùn non và tiếng cá quẫy… Ngay cửa bếp là sàn nước rửa chén bát và làm đồ ăn. Bước vô, một đầu gian bếp là khuôn bếp, cao khoảng 0,8m, dài 1,2m rộng 0,5m, đóng bằng cừ tràm lâu ngày đen bóng. Ba “ông lò” luôn sạch than tro, phía trên có cà ràng chặn khói, bên cạnh là ống thổi, kẹp gắp than, miếng lót nhắc nồi. Phía trên khuôn bếp cậu Út tôi làm một mái tôn có ống hút khói, tránh cho ngoại và mợ Út khỏi cực khi mùa mưa dầm củi ẩm ướt. Phía dưới khuôn bếp xếp củi đã chẻ nhỏ, từng bó lá dừa chặt đầu đuôi bằng nhau, gọn gàng. Trên vách là hai hàng đinh treo những chiếc nồi, xoong, chảo lớn nhỏ thường được mợ Út tôi chùi rửa sạch sẽ. Nhớ những lần ở quê có đám tiệc, tôi luôn phải “chỉ huy” con gái tôi và mấy đứa cháu mang nồi xoong chảo ra sông chùi rửa bằng trấu và tro bếp. Khi những chiếc nồi xoong bóng loáng treo trong bếp theo thứ tự lớn nhỏ chuẩn bị cho việc nấu nướng vào ngày mai, thì tụi nhỏ móng tay đứa nào cũng đen thui, dùng chanh rửa hoài không sạch hết.

Kế bên khuôn bếp là tủ đựng thức ăn, phía dưới để các loại chai lọ hộp đựng gia vị. Gian giữa của bếp đặt tủ chén bát, ống đũa muỗng treo bên cạnh tủ. Một bàn ăn tròn có thể gập lại một nửa lại cho gọn. Mấy chiếc ghế gỗ, một giá gỗ thấp để đặt nồi cơm. Bữa cơm hàng ngày nhà ngoại thường ăn dưới bếp, trừ khi có khách lạ hay có đám tiệc thì dọn cơm ở nhà trên. Khách quen thân tới nhà vào bữa thường được ngoại mời cơm luôn, nếu chưa ăn khách vui vẻ cùng ăn, còn nếu khách ăn rồi thì tới ngồi trên bộ ván uống nước trà, hay ngả lưng trên chiếc võng treo tòng teng bên cửa sổ. Gian còn lại kê bộ ván ngựa, nơi ngoại thường ngồi với ô trầu hay giỏ đồ may bên cạnh, vào buổi trưa là nơi ngả lưng của ông ngoại sau khi đã sương sương vài ly trong bữa cơm trưa… Má tôi kể, hồi xưa mỗi lần giận ông ngoại là ngoại… xuống bếp ngủ. Một đêm, hai đêm…ông ngoại phải xuống năn nỉ, và sau đó má tôi lại có thêm một đứa em, vì vậy nhà ngoại có cậu Út tới thứ 12 lận!

Có dịp đi nhiều vùng miền trong nước, tôi nhận thấy gian bếp của ngoại tôi, của những gia đình Nam bộ thật đặc biệt. Bước vào gian bếp có thể nhận biết sự vén khéo của những người phụ nữ trong gia đình vì tuy là nhà bếp nhưng luôn sạch sẽ, thoáng mát. Đồ đạc sắp xếp thật tiện lợi, nhất là khuôn bếp đứng, khi nấu nướng không mất công đứng lên ngồi xuống, đồ dùng đặt để đúng tầm tay, dãy nồi xoong luôn chùi rửa sạch bong, không sợ quệt lọ nồi dơ bẩn quần áo, dường như nhờ đó người phụ nữ khi làm bếp cũng thong thả ung dung hơn…

Bếp là nơi sinh hoạt của cả gia đình vào mọi thời điểm trong ngày. Ban ngày nhà trên thường khép cửa, mọi người đi vắng, khi trở về thì vào bếp trước, cửa bếp hầu như không bao giờ đóng. Lúc rảnh rỗi, ông ngoại, hay sau này là cậu Út tôi, cũng thường ở dưới bếp, ngồi trên chiếc võng đong đưa bàn công chuyện nhà với bà ngoại hay với mợ Út. Bếp là nơi ngoại và mợ Út có “toàn quyền quyết định” những việc bếp núc, đám tiệc, giỗ chạp, hiếu hỉ bà con lối xóm… Bếp là nơi cả nhà quây quần hai bữa cơm trưa tối, nơi mỗi chiều ông ngoại, cậu Út ngồi lai rai con khô nướng quyện mùi khói lá dừa ngọt ngào. Nếu có khách đột xuất thì món nhậu cũng được mợ Út tôi chế biến rất nhanh. Trong bếp nhà ngoại tôi còn thường có sẵn một vài món ăn như nồi cháo trắng, chảo cơm chiên vào buổi sáng, tô bánh lọt nước dừa lúc xế trưa, hay nồi khoai, bắp nấu vào buổi tối…

Bếp là nơi những người quen thân hay ghé vô ngồi chơi, đôi khi cũng bàn công chuyện (và nếu người quen ghé nhà mà được mời lên nhà trên uống nước nói chuyện thì hoặc là có việc quan trọng, hoặc coi chừng, tình cảm hai bên đã có điều gì sứt mẻ…). Nhà ngoại tôi nằm kế rạch Cái Tôm gần chợ Cao Lãnh nên đôi khi vào ban đêm, có khách lỡ đường ngủ nhờ, trên bộ ván mát rượi nơi nhà bếp khách vẫn cảm thấy quen thuộc và ấm cúng như ở nhà mình.

Gần Tết, các con tôi lại háo hức: mẹ, bữa nào về quê ngoại đi, mẹ! Ừ, về quê để đắm mình trong từng cơn gió chướng như thoảng hương sen từ Đồng Tháp Mười gửi tới, để nằm trong gian bếp của ngoại mà lắng nghe từng trái mận trở mình chín ngọt ngoài kia, để hít sâu vào lồng ngực mùi thơm khói lá dừa nướng bánh phồng bánh tráng… Ừ, về quê lần này mấy đứa phụ mẹ và ngoại gói bánh tét bánh ít nghen… Nhưng không phải chùi xoong nồi nữa, mẹ nhỉ, vì nhà ngoại bây giờ đã có bếp gas. Con gái Út của tôi vừa nói vừa thở phào, nhẹ nhõm…

Chợt giật mình, quê ngoại giờ đã là thành phố Cao Lãnh, làng xóm đô thị hóa khá nhanh, liệu vài năm nữa các con tôi có còn thích về quê…?

(Ngoại mất từ năm 1980. Gian bếp của ngoại bây giờ không còn nữa…)
 TC Phụ Nữ Mới xuân Kỷ Hợi 2019




MIỀN TÂY TRỜI RỘNG SÔNG DÀI


Hương miền Tây

Từ Sài Gòn đi về quê ngoại Cao Lãnh bây giờ có thêm một con đường đi qua huyện Mộc Hóa (Long An) và huyện Tháp Mười (Đồng Tháp). Đây là con đường đi qua một phần Đồng Tháp Mười, có từ lâu nhưng là đường nhỏ ngoằn nghèo và không liền lạc, gần đây được nối liền, nắn thẳng và nhiều đoạn được đắp mới.

Cũng như những con đường ở miền tây Nam bộ, trên đường có hàng chục cây cầu lớn, rất đẹp, tĩnh không cao, hầu hết bắc qua những dòng “kinh xáng” thẳng tắp, nước phèn trong xanh hai bên bờ còn chưa mọc kín dừa nước cỏ lác - những dòng kinh thoát nước và xả phèn vào mùa nước nổi của miền hạ lưu Mê Kông. Với độ tĩnh không cao như thế những con kinh xáng là đường giao thông nối liền vùng sâu của Đồng Tháp Mười ra đến đường lộ mới. Ghe xuồng chở lúa, chở phân bón, hàng hóa xuôi ngược trên kinh, và rồi không lâu nữa, ngay dưới chân cầu trên con đường tạm đi vòng khi xây dựng cầu sẽ là nơi đổ hàng lên xuống xe vận tải, về thành phố hay trở vô vùng bưng biền, đúng theo “quy luật” hình thành chợ búa (bến) của hàng trăm ngàn cái chợ như thế khắp miền Tây. Những cây cầu mới chắc không còn làm ai đó than rằng Lâu nay muốn qua thăm em nhưng ngại vì cầu tre lắc lẻonhư lời một bài hát quen thuộc.

Từ trên những cây cầu có thể phóng tầm mắt nhìn xa hơn. Có cánh đồng lúa non xanh ngát, có đầm sen lớn nhỏ hoa trắng hoa hồng xen giữa bưng lầy đầy cỏ lác, có rừng tràm rừng đước mới trồng, cây thẳng hàng  ngay ngắn, và lấp lánh cánh cò trắng bay về đậu rợp trên ngọn tràm ngọn đước. Chỉ vài năm nữa thôi, hy vọng sẽ có thêm những “sân chim” mới ở nơi đất lành này.

Con đường đi qua vùng lúa đang mùa gieo sạ. Hình như là “cánh đồng mẫu lớn” vì trên đó cắm nhiều tấm bảng cho biết 4 loại phân bón được sử dụng ở đây. Cánh đồng bát ngát xanh, chỉ cần hạ cửa kính xe hơi là có thể hít đầy lồng ngực hương lúa non thơm lạ lùng, hương thơm không thể so sánh với bất cứ mùi hương nào, làm ta nghẹn ngào thương đất, thương lúa, thương người… Có nơi đang gieo sạ bằng những chiếc máy đơn sơ nhưng đỡ đần được cho bao công lao động. Màu đất bùn đen cũng thơm thơm mùi phù sa mới của mùa nước nổi vừa qua. Có nơi nước chưa rút hết, dưới ánh mặt trời cuối chiều hiện rõ màu nước lợ giao nhau của lớp phèn đọng hàng ngàn năm với phù sa theo mùa nước nổi tràn về.

Tôi rất dị ứng với ai đó bây giờ cứ luôn miệng, rằng “mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long” hay than thở “quê em mùa nước lũ”… Đừng biến ngôn ngữ văn chương báo chí thành “hiện thực” để rồi ứng xử với mùa nước nổi miền Tây Nam bộ như ứng xử với mùa lũ sông Hồng. Bởi vì, cho dù chế độ nước của sông Mê Kông có sự thất thường hơn trước do biến đổi khí hậu, do bị tàn phá nơi đầu nguồn bằng hàng chục nhà mát thủy điện lớn nhỏ… thì mùa nước về vẫn theo quy luật thời gian, là mùa làm ăn sinh sống của người dân đồng bằng Nam bộ, là mùa “đổi mới” những cánh đồng nhờ con nước rửa phèn và phủ lên lớp phù sa mới.

 Nhiều lần về miền Tây Nam bộ vào mùa nước nổi, đi trên kinh rạch dọc ngang, đi vô vùng Tháp Mười trên những chiếc xuồng “năm quăng” (xài một năm/ một mùa nước thì quăng, vụt bỏ vì đóng bằng gỗ tạp, rẻ tiền), tôi chỉ ước ao, thay vì cứ cứu trợ gạo mắm nước tương mì gói, chính quyền và doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm hãy làm những chiếc xuồng chắc chắn cho người dân sử dụng kiếm sống lâu dài nhiều mùa nước, thay vì xây dựng “khu dân cư chạy lũ” tốn kém mà không nhiều hiệu quả, hãy làm những ngôi nhà sàn mà cọc bằng bê tông mái tôn cho bền vững để dân không phải tất bật chạy lên những khu đất trống hơ trống hoác giữa đồng, rồi không làm được gì để sống lại kéo nhau về giữa đồng, bám trụ trong những ngôi nhà lá nhỏ nhoi trên biển nước.

Con đường chạy qua vài khu dân cư như những thị trấn nhỏ, có cả một nhà máy “bột giấy” xây dựng vài năm nay nhưng im lìm như chưa từng hoạt động. Sao không xây dựng ở đây những nhà máy xay sát lúa gạo nhỉ? Là vùng lúa mới, đường xá kinh rạch thuận tiện giao thông chuyên chở, nếu rút ngắn thời gian vận chuyển thì giảm thiểu mức độ hư hao của lúa, đỡ thiệt thòi cho người trồng lúa, bởi vì vẫn còn đó một nghịch lý: được mùa ép giá rớt giá, thất mùa lên giá nhưng không đủ lúa ăn lấy gì để bán? Mùa nào nông dân cũng là người thua thiệt!

Đường dài gần trăm cây số hai làn xe chạy nhưng cũng vắng, chỉ có xe tải, vài chiếc xe du lịch nhỏ, hầu như không có xe khách vì hai bên đường chỉ là những cánh đồng ngút mắt mà ít có khu dân cư tràn ra mặt tiền như nhiều con đường mới mở khác. Thi thoảng có vài “quán võng” bán cà phê hay là quán nhậu, luôn có chỗ dành chỗ treo một hàng võng đung đưa, người đến quán có thể nằm nghi lưng nghe câu vọng cổ hay những bản nhạc bolero thân thuộc của người miền Tây. Về miền Tây mà chưa thưởng thức hai điều này thì coi như chưa đến miền Tây, phải không?

Phía đông cơn mưa sầm sầm kéo tới. Trong cơn mưa cuối mùa mãnh liệt lạ thay gió vẫn đẫm hương lúa non, hương đất, hương sen, hương lá rừng tràm… Những mùi hương trong lành đầy sức sống như những con người miền Tây giản dị.

Về miệt Hậu Giang
Lâu lắm tôi mới có dịp về miệt Hậu Giang.

Nam bộ có một từ rất hay: miệt. Miệt vườn, miệt ruộng, miệt U Minh, miệt Cà Mau… nghe xa ngái mà như trải dài trước mắt. Từ Sài Gòn đi về miền Tây qua gần 250km thì miệt Hậu Giang cũng đang hiện ra ngút ngát trước mắt tôi: cánh đồng, dòng kinh, con đường, xóm làng xanh mướt…

Cung đường mới từ Cần Thơ về thành phố Vị Thanh của tỉnh Hậu Giang qua nhiều địa danh rất lạ theo số đếm như Một Ngàn, Bảy Ngàn, Bảy Ngàn Rưỡi, Mười Ngàn… Trong một cuốn sách nhà văn Sơn Nam cho biết: những địa danh này gắn liền với kênh xáng Xà No – con kinh quan trọng nhứt vùng Hậu Giang do người Pháp cho đào từ đầu thế kỷ XX - nối từ Cần Thơ qua Kiên Giang, vùng trồng lúa quan trọng ven sông Hậu. Từ kinh lớn này có những con kênh sườn, cứ cách 500m thì đào một kênh nhỏ, 1.000m đào một kênh lớn và đào theo lối “xôm lươn” (nằm lệch nhau), vì vậy mới có những địa danh như trên. Do vậy chỉ khoảng 40 km thôi mà có tới 27 cây cầu kiên cố chưa kể những cống hộp trên con đường này. Hệ thống kinh “xôm lươn” mang nước từ sông Hậu vô tưới mát những đồng lúa bạt ngàn, rồi từ đây ghe xuồng lại chở lúa ra kinh Xà No nơi có những chiếc xà lan lớn đang chờ ăn lúa đưa về Cần Thơ, Kiên Giang, Sài Gòn và nhiều nơi khác. Cho tới giờ tuy đã có hệ thống đường bộ khá hoàn chỉnh nhưng kinh Xà No vẫn được coi là “con đường lúa gạo” của miệt Hậu Giang.

Xe chạy giữa những đồng lúa chín vàng, có nơi gặt xong chỉ còn thân rơm khô dần dưới nắng tháng sáu. Đây đó những thửa ruộng vừa gieo sạ xong, mầm mạ đã nhú lên đều khắp. Có đoạn đường mờ khói đốt đồng, mùi khói phảng phất thơm mùi lúa chín… Mùa lúa Hậu Giang nhưng chỉ thấy thấp thoáng vài cái lán của thợ gặt dựng ở bờ ruộng, treo mấy bộ quần áo phất phơ trong gió chiều… Nông dân bây giờ lên thành phố làm công ty, làm khu chế xuất  hết rồi. Ruộng nhà ai không chạy máy gặt được thì rất khó thuê người: trước đây tiền công gặt chỉ một hai trăm ngàn cho một công ruộng nhưng bây giờ năm trăm ngàn cũng khó kiếm người. Gặt xong phải thuê tuốt lúa phơi khô đóng bao, rồi công vác lúa từ đồng ra ghe hay ra xe tải… cộng lại cũng gần cả triệu. Vậy mà “lái” còn chê không mua vì lúa không khô không đều… Người nông dân cầm chắc là lỗ cho dù trúng mùa.
Cứ một đỗi thì nhìn thấy chiếc máy gặt đập thong thả vòng quay trên “cánh đồng mẫu lớn”. Máy gặt và xuốt (tuốt) lúa vô bao đều đặn, ít hư hao nên gần tới mùa thì “lái” đã vô tận ruộng, trả giá đặt cọc rồi khi lúa chín cho ghe cho xe về tận nơi nhận lúa. Có tiền cọc thì đi mướn máy về làm. Một chiếc máy thay cho hàng chục người, ai mà không ham, nhưng đâu phải ai cũng được sở hữu “cánh đồng mẫu lớn” để có thể dùng máy?

Những chiếc máy trên cánh đồng lúa vàng vắng bóng người, và vắng những đàn sáo mỗi sáng mỗi chiều bay về đồng lúa Hậu Giang quấn quýt bên người, vắng cả những đàn vịt chạy đầy đồng ăn lúa trên cánh đồng vừa gặt xong mà chỉ còn mấy bầy vịt vài chục con ăn quẩn ven bờ… Đêm qua vừa có cơn mưa lớn nhưng mới sáng sớm trời đã nóng nực báo hiệu một ngày nắng gắt.
***
Vị Thanh là một địa danh không xa lạ với tôi, bởi nhiều lần tôi đã được nghe ba má tôi kể về những ngày kháng chiến chống Pháp ở đây. Nhiều lần đi ngang qua thị trấn Vị Thanh êm đềm nhưng chưa có dịp ghé lại cho đến lần này.

Từ hơn mười năm trước khi thành lập tỉnh Hậu Giang  thì Vị Thanh được nâng cấp là thành phố của tỉnh. Từ khu phố cũ nằm dọc đôi bờ kinh Xà No giờ đây Vị Thanh mở rộng đến 118 km2, nhiều đường phố mới, những kiến trúc hiện đại, khu hành chính lớn được xây dựng ở hai bên đại lộ lớn nhất thành phố. Trụ sở một cơ quan lớn còn có cả sân bay trực thăng để khi cần “khảo sát vùng lúa Hậu Giang”. Về phía Đông – Đông Bắc (giáp Vị Thủy của Hậu Giang và Giồng Riềng của Kiên Giang) khu vực các trường cao đẳng, bệnh viện của thành phố đang được xây dựng… Vị Thanh ngày nay mang dáng dấp của một thành phố hiện đại với mười mấy con đường chính, đại lộ có dải phân cách và vỉa hè rộng trồng cây xanh đã lên cao, hệ thống đèn giao thông, biển báo hoàn chỉnh.

Tuy là thành phố nhưng Vị Thanh vẫn giữ được vẻ hiền hòa và có phần lặng lẽ của thị xã Vị Thanh ngày trước. Vào những ngày cuối tuần phần đông cán bộ công chức của tỉnh, của thành phố đều về Cần Thơ hoặc xuống Kiên Giang, thậm chí Cà Mau, vì nhà cửa vợ con của họ vẫn còn ở đó. Đây là tình trạng chung của nhiều tỉnh trước nhập sau lại chia tách: một phần cán bộ của tỉnh Hậu Giang cũ mà trung tâm là Cần Thơ về tỉnh Hậu Giang mới. Tỉnh mới, cơ sở vật chất chưa có gì, điều kiện làm việc của vợ chồng rồi chuyện học hành của con cái chưa thuận lợi, vậy là họ cứ một chốn đôi nơi suốt hơn mười năm qua.

Ngày trong tuần thành phố còn đông người đi lại, các quán ăn quán nhậu tấp nập vui vẻ, nhưng từ chiều thứ sáu thì Vị Thanh trở lại dáng vẻ một “thành phố buồn” mà dân số nhiều năm nay chưa vượt con số trăm ngàn. Những con đường vắng bóng người, ghe xuồng, xà lan đi trên kinh Xà No có khi còn nhiều hơn  xe máy xe hơi chạy trên đại lộ hai bên bờ.  Thành phố có một hồ sen rộng, mùa này sen nở trắng hồ, có thể thoải mái ngồi quán cà phê hay thong thả từng bước ven hồ để cảm nhận hơi thở đẫm hương sen tinh khiết… Cái hồ này mà nằm ở Sài Gòn thì quán cà phê quán nhậu sẽ vây quanh không có chỗ ngồi ngắm sen, còn ở Hà Nội thì sẽ “trắng” những tấm lưng trần sau manh yếm mỏng mải mê tạo dáng chụp hình, ai ngó đến sen?

Mấy ngày ở đây tôi được ăn những món ăn đồng quê thức ăn tươi rói: lươn nấu canh chua bông súng, tép bạc xào bông hẹ, cá kèo kho rau răm, cá bống kho tiêu… rồi baba nấu chuối mẻ, và đặc biệt là cá thác lác ướp tẩm gia vị, để nguyên con với lớp da dày chiên giòn mà miếng cá dai như chả cá đã được nạo quết. Bạn muốn mua đặc sản này của Vị Thanh mang về Sài Gòn, thậm chí về Hà Nội cũng không khó, vì nó sẽ được nhà hàng đóng hộp ướp đá lạnh, cho vào thùng xốp dán băng keo kín mít có thể giữ lạnh trong 30 giờ để cá và chả vẫn tươi ngon.

Cách Vị Thanh không xa là thị xã Ngã Bảy của huyện Phụng Hiệp. Lúc mới nâng cấp thành thị xã nó được người ta đặt cho cái tên mới là Tân Hiệp nhưng không lâu sau thì phải trở lại tên Ngã Bảy vì… người dân không chịu. Chợ nổi Ngã Bảy nổi tiếng từ lâu, không chỉ là một nơi giao thương hàng hóa độc đáo mà còn vì phong vị văn hóa miền sông nước Hậu Giang. Cũng nghe đâu người ta đã “dẹp” chợ vào một địa điểm khác cách đó 2-3 km với lý do “trật tự an toàn giao thông đường thủy”, nhưng rồi chợ mới không ai mua bán nên cũng chẳng ai đến tham quan du lịch… Rồi chợ nổi Ngã Bảy lại được phục hồi.

Thật tình tôi cứ tiếc. Giá mà thành phố của tỉnh Hậu Giang là thị xã Ngã Bảy thì hay biết mấy, một thành phố kế bên đầu mối của những con sông dòng kinh quan trọng nhất nhì Nam bộ, một thành phố có loại chợ đã trở thành biểu tượng của văn hóa Nam Bộ, chẳng phải là độc đáo nhất hay sao?
 Từ trên những rạng đông con chim sáo nó bay ra đồng… tình phù sa tuy đục mà trong”… Về miệt Hậu Giang chưa xa đã thấy thương nhớ lạ lùng…

Sông nước miền Tây

Người miền Tây mỗi khi đi Sài Gòn thì kêu bằng “lên thành phố”. “Thành phố” gần như trở thành danh từ riêng để chỉ Sài Gòn dù miền Tây có nhiều đô thị sầm uất, như Cần Thơ – được coi là thủ phủ miền Tây, như Long Xuyên – thành phố bên bờ sông Hậu, như Mỹ Tho bên sông Tiền – một “đại phố” từ thủa mới hình thành…

Trên những con đường tỏa khắp miền Tây có đến hàng ngàn cây cầu lớn nhỏ bắc qua hàng trăm con sông, kinh, rạch… chằng chịt.  Giữa các tỉnh hầu như đều có ranh giới tự nhiên là những dòng sông, trên trục lộ chính cứ qua một bến phà lớn một cây cầu dài là vào địa phận một tỉnh khác. Chỉ mươi năm trước qua sông Tiền sông Hậu còn phải có chuyến phà bến bắc  thì nay đã có những chiếc cầu dây văng đẹp như mơ: cầu Mỹ Thuận nối Tiền Giang và Vĩnh Long, từ đó qua cầu Cần Thơ là vào Tây Đô, cầu Rạch Miễu nối Mỹ Tho với Bến Tre, qua cầu Hàm Luông là vào đất Trà Vinh… Mai mốt xây xong cầu Vàm Cống nối Đồng Tháp và Long Xuyên, rồi qua cầu An Hòa vào Rạch Giá…  thì quốc lộ Một gần như liền lạc không còn cảnh ngăn sông cách bến. Hồi gần hai mươi năm trước, khi khánh thành cầu Mỹ Thuận, đoạn quốc lộ hai đầu cầu kẹt xe hàng tuần, dưới sông thì đặc kín ghe xuồng… bà con các tỉnh kéo nhau về đây để tận mắt được nhìn thấy câu cầu dây văng đầu tiên và lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, cây cầu trong mơ của bao nhiêu đời người miền Tây.

          Đường lên thành phố bây giờ chủ yếu là đường bộ. Quốc lộ Một như “xương sống” từ Sài Gòn về tới Cà Mau, đi qua hoặc tỏa nhánh vào các thành phố, thị tứ bằng những tỉnh lộ… gần đây tuy được mở rộng nhưng phần lớn vẫn là “độc đạo” chật hẹp, xe hơi xe máy ngày đêm cứ đan vào nhau, tai nạn nghiêm trọng không ngày nào không có. Ở vùng sâu còn bao nhiêu cây cầu thô sơ, sức tải yếu, hàng ngàn cầu khỉ chênh vênh… tuy là hình ảnh thân thuộc lâu đời của quê hương nhưng trở ngại cho lưu thông hàng ngày, cho sự phát triển của địa phương. Để có thể làm đường xây cầu ở khắp miền Tây thì rất tốn kém và cần nhiều thời gian nữa…
Nhiều lần đi dọc đường miền Tây tôi luôn tự hỏi, tai sao không sử dụng và phát triển giao thông đường thủy – một lợi thế tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long đã được cư dân tận dụng từ hàng trăm năm nay?

Sông Cửu Long chảy vào Nam bộ dài khoảng 250km theo hai nhánh lớn là Tiền Giang và Hậu Giang. Sông Tiền qua Châu Đốc, Sa Đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long rồi tỏa nhánh qua Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh đổ ra biển bằng Cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Sông Hậu cũng qua Châu Đốc rồi qua Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và ra biển bằng cửa Định An, Ba Thắc và Tranh Đề. Hàng trăm kinh đào và sông rạch tự nhiên đã tạo nên hệ thống đường thủy nối liền chứ không chia cắt miền đồng bằng rộng lớn. Cùng với đường biển, Nam bộ có cả một nền văn minh sông nước trong đó phương tiện đi lại và giao thông đường thủy là một nét văn hóa đặc sắc.

Ngày trước ghe thương hồ và chợ nổi là những “đầu mối” mang hàng hóa từ miệt vườn, miệt thứ, miệt u minh… đi ra nơi thị tứ, lên thành phố. Ngày nay đi dọc các con sông ta còn thấy nhiều “chành” lúa gạo, trái cây, gần đây có những chành gốm… là nơi tập kết thu mua và chuyên chở sản phẩm đi khắp nơi. Thế mạnh của miền Tây là nông sản: trái cây, lúa gạo, thủy hải sản… quanh năm mùa nào thức ấy. Phần lớn là hàng hóa tươi sống cần vận chuyển nhanh để đảm bảo chất lượng bên cạnh việc phục vụ nhu cầu lớn của thị trường cả nước và xuất khẩu. Mặc dù đã có một số nhà máy chế biến nông sản, thủy hải sản tại địa phương nhưng việc đưa sản phẩm đến vùng miền khác còn nhiều trở ngại. Vì vậy giao thông là yêu cầu hàng đầu cho miền Tây, tuy đã có những loại xe chuyên dụng bảo quản trái cây tôm cá… nhưng chỉ cần một sự cố gây kẹt xe tắc đường là nguy cơ hàng hóa hư hỏng, dẫn đến nhiều hệ lụy khác.

Theo thời gian, đồng bằng sông Cửu Long ngày càng trở thành vùng nông nghiệp quan trọng nhất nước. Vậy nhưng hiện nay nơi đây vẫn chỉ “độc đạo” quốc lộ Một với mật độ lưu thông dày đặc.  Trong khi miền Tây chờ đợi một tuyến đường cao tốc như nhiều nơi ở miền Bắc đã có, chờ đợi việc phục hồi và xây mới tuyến đường sắt từ Sài Gòn đi các tỉnh, nên chăng cần sử dụng đường thủy nhiều hơn để giảm tải cho đường bộ, để có thể thuận tiện hơn khi đi vào vùng sâu vùng xa thu mua nông sản, để góp phần lưu giữ một nét văn hóa độc đáo của miền sông nước? Tất nhiên, những phương tiện như ghe, tàu, xà lan… cần được hiện đại hóa, đáp ứng về tốc độ, an toàn, bảo quản hàng hóa, không làm ô nhiễm nước sông … Đường thủy cần được bảo đảm an toàn, an ninh, hạn chế nạo vét khai thác cát hay xả chất thải gây ô nhiễm môi trường.

 “Từ nghìn đời vẫn dòng sông quê hương
Vẫn tàu ta đi muôn dặm nẻo đường
Mà đêm nay tàu nhổ neo rời bến
Nghe dạt dào sông nước trong đêm…”
Những bài hát về sông nước Nam bộ luôn có lời ca tha thiết mà giai điệu thể hiện sự sôi động của một vùng đất giàu tiềm năng với những con người chịu thương chịu khó và lạc quan trong cuộc sống.

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

 Hình ảnh có liên quan








GIAN BẾP CỦA NGOẠI



Mỗi lần về quê vào dịp Tết, sau khi lên nhà trên thắp nhang bàn thờ ông bà, tôi thường xuống ngay gian bếp, nơi ngoại tôi luôn ở đó với nụ cưới móm mém chờ tôi chạy vào ngồi kế bên ngoại, thơm sực mùi trầu.

Gian bếp của ngoại nằm ngang so với nhà trên, từ nhà trên đi xuống qua một hành lang dài mái tôn có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Nhà bếp mái ngói cũ nâu thâm lác đác những chiếc lá của cây mận hồng đào sau bếp. Ngoại nói cây mận này ngoại trồng hồi má tôi sinh tôi, nay cũng đã tuổi “U 50” rồi mà vẫn rất sai trái. Vào mùa gần Tết từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành, mỗi đêm gió chướng lại rụng lộp bộp, trẻ con khoái lượm những trái mận chín rụng, ăn giòn và ngọt như đường phèn.

Cũng như nhiều gian bếp trong những ngôi nhà miệt vườn Nam bộ, gian bếp của ngoại rộng rãi, sáng sủa, cửa ra vào hai cánh bằng gỗ luôn rộng mở. Cửa sổ sát mé con rạch Cái Tôm đón từng cơn gió mát rượi ngày hai lần nước lớn, lúc nước ròng thoảng mùi bùn non và tiếng cá quẫy… Ngay cửa bếp là sàn nước rửa chén bát và làm đồ ăn. Bước vô, một đầu gian bếp là khuôn bếp, cao khoảng 0,8m, dài 1,2m rộng 0,5m, đóng bằng cừ tràm lâu ngày đen bóng. Ba “ông lò” luôn sạch than tro, phía trên có cà ràng chặn khói, bên cạnh là ống thổi, kẹp gắp than, miếng lót nhắc nồi. Phía trên khuôn bếp cậu Út tôi làm một mái tôn có ống hút khói, tránh cho ngoại và mợ Út khỏi cực khi mùa mưa dầm củi ẩm ướt. Phía dưới khuôn bếp xếp củi đã chẻ nhỏ, từng bó lá dừa chặt đầu đuôi bằng nhau, gọn gàng. Trên vách là hai hàng đinh treo những chiếc nồi, xoong, chảo lớn nhỏ thường được mợ Út tôi chùi rửa sạch sẽ. Nhớ những lần ở quê có đám tiệc, tôi luôn phải “chỉ huy” con gái tôi và mấy đứa cháu mang nồi xoong chảo ra sông chùi rửa bằng trấu và tro bếp. Khi những chiếc nồi xoong bóng loáng treo trong bếp theo thứ tự lớn nhỏ chuẩn bị cho việc nấu nướng vào ngày mai, thì tụi nhỏ móng tay đứa nào cũng đen thui, dùng chanh rửa hoài không sạch hết.

Kế bên khuôn bếp là tủ đựng thức ăn, phía dưới để các loại chai lọ hộp đựng gia vị.
Gian giữa của bếp đặt tủ chén bát, ống đũa muỗng treo bên cạnh tủ. Một bàn ăn tròn có thể gập lại một nửa lại cho gọn. Mấy chiếc ghế gỗ, một giá gỗ thấp để đặt nồi cơm. Bữa cơm hàng ngày nhà ngoại thường ăn dưới bếp, trừ khi có khách lạ hay có đám tiệc thì dọn cơm ở nhà trên. Khách quen thân tới nhà vào bữa thường được ngoại mời cơm luôn, nếu chưa ăn khách vui vẻ cùng ăn, còn nếu khách ăn rồi thì tới ngồi trên bộ ván uống nước trà, hay ngả lưng trên chiếc võng treo tòng teng bên cửa sổ. Gian còn lại kê bộ ván ngựa, nơi ngoại thường ngồi với ô trầu hay giỏ đồ may bên cạnh, vào buổi trưa là nơi ngả lưng của ông ngoại sau khi đã sương sương vài ly trong bữa cơm trưa… Má tôi kể, hồi xưa mỗi lần giận ông ngoại là ngoại… xuống bếp ngủ. Một đêm, hai đêm…ông ngoại phải xuống năn nỉ, và sau đó má tôi lại có thêm một đứa em, vì vậy bây giờ nhà ngoại có cậu Út tới thứ 12 lận!

Có dịp đi nhiều vùng miền trong nước, tôi nhận thấy gian bếp của ngoại tôi, của những gia đình Nam bộ thật đặc biệt. Bước vào gian bếp có thể nhận biết sự vén khéo của những người phụ nữ trong gia đình vì tuy là nhà bếp nhưng luôn sạch sẽ, thoáng mát. Đồ đạc sắp xếp thật tiện lợi, nhất là khuôn bếp đứng, khi nấu nướng không mất công đứng lên ngồi xuống, đồ dùng đặt để đúng tầm tay, dãy nồi xoong luôn chùi rửa sạch bong, không sợ quệt lọ nồi dơ bẩn quần áo, dường như nhờ đó người phụ nữ khi làm bếp cũng thong thả ung dung hơn…

Bếp là nơi sinh hoạt của cả gia đình vào mọi thời điểm trong ngày. Ban ngày nhà trên thường khép cửa, mọi người đi vắng, khi trở về thì vào bếp trước, cửa bếp hầu như không bao giờ đóng. Lúc rảnh rỗi, ông ngoại, hay sau này là cậu Út tôi, cũng thường ở dưới bếp, ngồi trên chiếc võng đong đưa bàn công chuyện nhà với bà ngoại hay với mợ Út. Bếp là nơi ngoại và mợ Út có “toàn quyền quyết định” những việc bếp núc, đám tiệc, giỗ chạp, hiếu hỉ bà con lối xóm… Bếp là nơi cả nhà quây quần hai bữa cơm trưa tối, nơi mỗi chiều ông ngoại, cậu Út ngồi lai rai con khô nướng quyện mùi khói lá dừa ngọt ngào. Nếu có khách đột xuất thì món nhậu cũng được mợ Út tôi chế biến rất nhanh. 

Trong bếp nhà ngoại tôi còn thường có sẵn một vài món ăn như nồi cháo trắng, chảo cơm chiên vào buổi sáng, tô bánh lọt nước dừa lúc xế trưa, hay nồi khoai, bắp nấu vào buổi tối… Bếp là nơi những người quen thân hay ghé vô ngồi chơi, đôi khi cũng bàn công chuyện (và nếu người quen ghé nhà mà được mời lên nhà trên uống nước nói chuyện thì hoặc là có việc quan trọng, hoặc coi chừng, tình cảm hai bên đã có điều gì sứt mẻ…). Nhà ngoại tôi nằm kế rạch Cái Tôm gần chợ Cao Lãnh nên đôi khi vào ban đêm, có khách lỡ đường ngủ nhờ, trên bộ ván mát rượi nơi nhà bếp khách vẫn cảm thấy quen thuộc và ấm cúng như ở nhà mình.

Gần Tết, các con tôi lại háo hức: mẹ, bữa nào về quê ngoại đi, mẹ! Ừ, về quê để đắm mình trong từng cơn gió chướng như thoảng hương sen từ Đồng Tháp Mười gửi tới, để nằm trong gian bếp của ngoại mà lắng nghe từng trái mận trở mình chín ngọt ngoài kia, để hít sâu vào lồng ngực mùi thơm khói lá dừa nướng bánh phồng bánh tráng… Ừ, về quê lần này mấy đứa phụ mẹ và ngoại gói bánh tét bánh ít nghen… Nhưng không phải chùi xoong nồi nữa, mẹ nhỉ, vì nhà ngoại bây giờ đã có bếp gaz. Con gái Út của tôi vừa nói vừa thở phào, nhẹ nhõm…

Chợt giật mình, quê ngoại giờ đã là thành phố Cao Lãnh, làng xóm đô thị hóa khá nhanh, liệu vài năm nữa các con tôi có còn thích về quê…?

(2010) Hình: internet

Kết quả hình ảnh cho BÊP lò miền tây

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...