Listen to a maiden's prayer!
Thou canst hear though from the wild,
Thou canst save amid despair…
Beneath thy guidance reconciled;
Hear for a maid a maiden's prayer,
And for a father hear a child!
Ave Maria!







TTCT - Trên một hành trình dài, bắt đầu từ Warsaw và Krakow (Ba Lan) sang Budapest (Hungary), qua Prague (Cộng hòa Czech) và Vienna (Áo), tôi chứng kiến sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống từ các di sản hiện diện ngay trong lòng các đô thị ấy.
| Quảng trường trung tâm Praha - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
Những thành phố kể trên đều là thủ đô từ thời trung cổ nên hệ thống thành cổ, cung điện, lâu đài, công trình công cộng được xây dựng qua vài thế kỷ được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ hay những lâu đài lớn (của một dòng họ quý tộc) thường ở trên đồi hay sườn núi với tường thành xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm, xung quanh là khu phố buôn bán...
| Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị, ở đó lịch sử hiện diện qua từng viên gạch trên đường phố, ở đó ký ức đô thị được lưu giữ trong từng ngôi nhà, từng hàng quán... bằng âm nhạc cổ điển, bằng tác phẩm của các danh họa... Đó chính là vẻ đẹp của quá khứ dành tặng tương lai. |
Trong thành cổ Buda ở Budapest, khu vực khai quật khảo cổ học liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất... Có hố khai quật xong được lấp lại và trồng cỏ tạo thành vườn hoa nho nhỏ, có hố được giữ lại để khách có thể nhìn tận mắt các tầng văn hóa của di tích. Hiện vật tìm thấy được trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài ấy.
Công trường đang khai quật có mái che bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong thì tất cả các lớp kiến trúc được bảo tồn làm bằng chứng cho từng giai đoạn xây dựng vào những niên đại khác nhau. Khu di tích nào cũng có một mô hình bằng đồng đặt gần lối ra vào, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể khu di tích qua các công trình kiến trúc còn nguyên và những phế tích do khảo cổ học khai quật.
Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt vì Thế chiến 2 đã biến Warsaw thành những đống đổ nát, trong đó có thành cổ xây dựng từ thế kỷ 12, 13. Sau năm 1945, Ba Lan xây dựng lại Warsaw và tòa thành cổ như trước chiến tranh.
Trong thành, trên đường phố hẹp hay quảng trường rộng còn nguyên những viên đá nhỏ được lát thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc... vừa đẹp vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Tôi đã nhìn thấy một công nhân tỉ mỉ gắn lại vài viên đá bị bật lên trong khi người qua lại đi chậm và nhẹ chân hơn.
| Lâu đài cổ ở Krakow - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
Những người đánh xe ngựa trong trang phục xưa đều là hướng dẫn viên nhiệt tình và thú vị, chính họ kể lại những câu chuyện xưa về thành cổ, về từng địa điểm, từng nhân vật lịch sử... Thành cổ lúc nào cũng nhộn nhịp du khách nhưng vẫn duy trì một nhịp sống bình thản, êm đềm.
Tháng 10, khi mùa du lịch cao điểm ở châu Âu đã qua, nơi đây vẫn không hề vắng khách. Những người làm bảo tồn và du lịch ở đây sáng tạo nhiều hình thức tham quan, đáp ứng nhu cầu, điều kiện khác nhau của du khách: tham quan toàn bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần như hầm mộ trong lâu đài hoặc nơi liên quan đến một nhân vật nổi tiếng (như tour tham quan các phòng trong cung điện mùa hè ở Vienna, nơi hoàng hậu Sisi từng sống).
Có rất nhiều di tích tham quan miễn phí, nhất là những nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của tổng thống Hungary với đội danh dự duyệt binh trong khi du khách đứng xem trong sân dinh tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự.
| Di tích khảo cổ bảo tồn bên cạnh tòa nhà đang sử dụng ở Warsaw - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
| Di tích khảo cổ trong thành cổ Buda - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
Bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, ngược lại những “bảo tàng mở” ấy mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú, hấp dẫn nhất.
Các đô thị ấy cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của quá trình “đô thị hóa, hiện đại hóa” và phát triển kinh tế sau chiến tranh, nhưng các di sản văn hóa được gìn giữ trân trọng trước hết là cho chính mình và rồi “hữu xạ tự nhiên hương” trở thành di sản của thế giới. Thành công ấy có được từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.
Vòi nước công cộng ở Prague (mới)
Vòi nước c63 ở Berlin
Ở thành cổ Buda
Trên đường phố ở Budapest
Sưu tầm trên mạng
Ở Roma (ảnh Trương Quý)
Trong các thành phố châu Âu ta dễ dàng bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.
Ngày xưa người ta xây những vòi nước công cộng dành cho kẻ lỡ độ đường hoặc chính người trong cộng đồng sử dụng. Thường bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò, hò hẹn gái trai. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.
Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Miệng vòi có khi đúc thành hình miệng thú. Dòng nước từ vòi chảy nhè nhẹ thẳng xuống cống thóat nước phía dưới. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: chúng được sơn chống rỉ, bệ gang hay bệ đá phía dưới được quét dọn thường xuyên không có rác làm nghẹt cống. Xung quanh vòi nước cũng sạch sẽ. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.
Hệ thống cấp nước ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: nước từ nguồn trên núi, từ sông hay suối, hoặc từ giếng bơm… đều được dẫn đến tháp nước chung của một thành phố (nếu thành phố lớn thì có nhiều tháp nước). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung.
Không chỉ có vòi nước công cộng, các thành phố châu Âu còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.
Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố này từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình … Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: Khi cộng đồng chú ý đến nhu cầu của từng con người thì mỗi con người cũng có ý thức gìn giữ không gian ấy cho cả cộng đồng.
Một ngày thu tôi đến Prague. Thành phố hiện lên đẹp như trong bộ phim cổ tích “Ba hạt dẻ dành cho lọ lem” của Tiệp Khắc (tên cũ của Cộng hòa Sec và Slovakia) tôi xem hồi xưa, khoảng thập niên 70 thế kỷ trước. Từ trên tầng tháp của Nhà thờ Con Gà nhiều người mải mê ngắm nhìn toàn cảnh Prague hiện ra dưới tầm mắt. Quảng trường trung tâm có hàng ngàn du khách, đúng mười hai giờ trưa đồng hồ thong thả hồi chuông, chú gà vàng hiện ra từ tòa tháp cao nhất, và những vị thần lần lượt đi qua ô cửa nhỏ… Một thoáng cổ tích trong nhịp sống sôi động của thành phố du lịch nổi tiếng.
Cũng như nhiều thành phố châu Âu, Prague có những cây câu bắc ngang con sông Vlata chia đôi thành phố. Bạn đưa tôi đến “cầu tình yêu”,cây cầu nổi tiếng bởi những bức tượng dọc hai thành cầu, còn nổi tiếng hơn vì là nơi mà du khách truyền nhau rằng “cầu gì được nấy”. Trời mùa thu thời tiết thất thường, vừa nắng vàng rực rỡ đấy mà chỉ một cơn gió lạnh trời đã đầy mây xám, rồi lác đác những hạt mưa… Thoáng chốc sau mây tan bầu trời lại xanh thắm, xanh như thể là ngày thu cuối cùng… Từ cây cầu này toàn cảnh lâu đài trên đồi trở nên hiện ra hùng vĩ, đẹp mê hồn. Dưới kia, con sông Vlata trong vắt dịu dàng trôi giữa đôi bờ những lâu đài, nhà thờ, rặng cây, đường phố…Ave Maria! maiden mild!
Listen to a maiden's prayer!
Thou canst hear though from the wild,
Thou canst save amid despair…
Chị đứng đó trong bộ đồ trắng giản dị, say đắm cất tiếng hát, đôi bàn tay chắp trước ngực rồi mở rộng như muốn gửi tiếng hát đến tận trời xanh. Giọng hát chị khi trẻ thơ như Robertino, khi nồng nàn như Celine Dion… Chị cứ hát, không biết xung quanh mình có ai dừng lại lắng nghe ai lơ đãng đi qua. Dòng sông dưới kia, những đám mây trên bầu trời kia, cả cơn gió cuối thu cả những dòng người qua lại nơi đây… trong khỏanh khắc tất cả như ngừng lặng. Mẹ như rất gần, tưởng như ta có thể chạm vào đôi bàn tay mềm mại của Mẹ, như được thành trẻ thơ trong đôi mắt dịu hiền của Mẹ. Bỗng thấy cuộc đời như trong sạch hơn, con người tốt đẹp hơn, như vừa rũ bỏ hết những nỗi muộn phiền…
Đặt khẽ vài đồng tiền vào hộp nhỏ dưới chân chị, tôi bước đi. Tiếng hát vẫn vút lên
We bow us to our lot of care,
Beneath thy guidance reconciled;
Hear for a maid a maiden's prayer,
And for a father hear a child!
Ave Maria!
Đến bên bức tượng thiêng nổi tiếng, tôi đặt tay lên, nhắm mắt, và cầu nguyện.
Đi rất xa rồi mà tiếng hát vẫn theo tôi…
Ave… Maria…
Quảng trường trung tâm Praha
Phố cổ Krakow“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Cứ mỗi chuyến đi lại càng thấm thía sự đúc kết của ông bà mình.
1.Chuyện thiên hạ.
Do thói quen nghề nghiệp (trước đây) nên đi đâu tôi cũng chú ý đến bảo tàng. Nhiều lần tham quan các bảo tàng lịch sử, văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó lịch sử được phản ánh toàn diện hơn. Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…), tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu; các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch… Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc chống chiến tranh đồng nghĩa với việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình.
Có một bảo tàng (1) về “Thời vừa qua”. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”… Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này chỉ mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất. Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” chỉ mang lại sự hận thù quá khứ thì nguy cơ sẽ đưa đến sự thù hận trong tương lai.
2. Chuyện nhà mình.
Chuyến đi này tôi gặp một số người Việt đang sinh sống tại Cộng hòa Sec. Là công nhân kỹ thuật, người xuất khẩu lao động, sinh viên, nghiên cứu sinh… họ đã ở đó trên dưới 20 năm. Những ngày xa nhà, gặp gỡ vài người trong số họ mang lại cho tôi những trải nghiệm mới, những sự thật khác với những gì tôi vẫn biết về họ.
Nếu chỉ nghe những câu chuyện “làm quà” về cộng đồng người Việt ở Đông Âu, như hàng năm chuyển về nước bao nhiêu kiều hối, “soái” nào có bao nhiêu tài sản, khu vực nào “đánh” hàng nào, chợ nào vừa bị cháy mà không tìm ra nguyên nhân, hung thủ, “đại gia” nào vừa bị trấn lột, thậm chí cả những mánh khóe buôn lậu lách luật trốn thuế…thì hình như hầu hết những người Việt đều làm ăn phi pháp, không có được thiện cảm của cộng đồng cư dân sở tại, càng không có sự “sang trọng” và vẻ “trí thức” của “xã hội văn minh”. Nhưng nếu tìm hiểu cuộc sống của họ từ sự quan tâm và chia sẻ thật sự bạn sẽ được biết về nhiều mảnh đời cơ cực nhưng đầy lòng tự trọng, có thể làm đủ mọi việc để sống nhưng không bán rẻ nhân cách. Một thời gian dài phải làm đủ nghề xoay đủ cách để có thể tồn tại trong xã hội có những biến động gay gắt, là dân “nhập cư” họ còn phải đối mặt với vô số khó khăn trong cuộc sống và công việc làm ăn, đối phó với sự kỳ thị của một số “người tây” và “người ta”. Có người từng thất bại, có người từng thành công… nhìn chung đến giờ cuộc sống tương đối ổn định, gia đình con cái nền nếp. Người thành đạt đóng góp cho xã hội bằng kết quả công việc của mình, người bình thường thì bằng những việc làm nhỏ bé và bình dị… thể hiện cụ thể ý thức cộng đồng nên phần đông họ được sự quý mến của cư dân và nể trọng của chính quyền nơi họ sống. Quả thật, trong xã hội nào cũng vậy, “học làm sang” không khó nhưng làm để cho người ta trọng thì khó hơn nhiều!
Và cứ vậy sau mỗi chuyến đi với những gì thu nhận được, tôi còn thấm thía hơn sự đúc kết của thiên hạ “một nửa sự thật không phải/ chưa phải là sự thật”.
(1) “Nhà khủng bố” ở Budapest (Hungary). Xem thêm: http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=380
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...