Hiển thị các bài đăng có nhãn đông âu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đông âu. Hiển thị tất cả bài đăng

CHUYỆN NHỎ NƠI XA



Trên cầu tình yêu.
Một ngày thu tôi đến Prague. Thành phố hiện lên đẹp như trong bộ phim cổ tích “Ba hạt dẻ dành cho lọ lem” của Tiệp Khắc (tên cũ của Cộng hòa Sec) tôi  xem hồi xưa, khoảng thập niên 70 thế kỷ trước. Từ trên tầng tháp của Nhà thờ Con Gà nhiều người mải mê ngắm nhìn toàn cảnh Prague hiện ra dưới tầm mắt. Quảng trường trung tâm có hàng ngàn du khách, đúng mười hai giờ trưa đồng hồ  thong thả hồi chuông, chú gà vàng hiện ra từ tòa tháp cao nhất, và những vị thần lần lượt đi qua ô cửa nhỏ… Một thoáng cổ tích trong nhịp sống sôi động của thành phố du lịch nổi tiếng.
Cũng như nhiều thành phố châu Âu, Prague có những cây câu bắc ngang con sông   Vltava chia đôi thành phố. Bạn đưa tôi đến “cầu tình yêu”,cây cầu nổi tiếng bởi những bức tượng dọc hai thành cầu, còn nổi tiếng hơn vì là nơi mà du khách truyền nhau rằng “cầu gì được nấy”. Trời mùa thu thời tiết thất thường, vừa nắng vàng rực rỡ đấy mà chỉ một cơn gió lạnh trời đã đầy mây xám, rồi lác đác những hạt mưa… Thoáng chốc sau mây tan bầu trời lại xanh thắm, xanh như thể là ngày thu cuối cùng… Từ cây cầu này toàn cảnh lâu đài trên đồi trở nên hiện ra hùng vĩ, đẹp mê hồn. Dưới kia, con sông Vlata trong vắt  dịu dàng trôi giữa đôi bờ những lâu đài, nhà thờ, rặng cây, đường phố… 
Địa điểm du lịch nổi tiếng này quả là được “khai thác” triệt để không gian từ trên cầu đến những cảnh quan xung quanh, nhưng vẫn mang lại cảm giác thảnh thơi nhẹ nhõm cho du khách dạo chơi. Trên cầu là những quầy hàng nho nhỏ bày bán đồ lưu niệm bằng gỗ, bằng da, bằng thủy tinh pha lê “Tiệp” nổi tiếng. Những người họa sĩ vẽ chân dung, du khách cười thích thú khi xem những bức biếm họa ngộ nghĩnh về mình. Và âm nhạc. Những nhóm nhạc chơi những thể loại khác nhau, rộn rã tươi vui khiến người ta bất giác nhún nhảy lắc lư, hay êm dịu gợi nhớ điệu valse sang trọng chốn cung đình… Giữa không gian ấy vút lên giọng hát trong vắt của một người phụ nữ khiếm thị. Cả một “dàn nhạc” ở ngay bên cạnh chị, trong chiếc máy CD trên chiếc bàn nhỏ phía sau.
 Ave Maria! maiden mild!
Listen to a maiden's prayer!
Thou canst hear though from the wild,
Thou canst save amid despair…
 Chị đứng đó trong bộ đồ trắng giản dị, say đắm cất tiếng hát, đôi bàn tay chắp trước ngực rồi mở rộng như muốn gửi tiếng hát đến tận trời xanh. Giọng hát chị khi trẻ thơ như Robertino, khi nồng nàn như Celine Dion… Chị cứ hát, không biết xung quanh mình có ai dừng lại lắng nghe ai lơ đãng đi qua. Dòng sông dưới kia, những đám mây trên bầu trời kia, cả cơn gió cuối thu cả những dòng người qua lại nơi đây… trong khỏanh khắc tất cả như ngừng lặng. Mẹ như rất gần, tưởng như ta có thể chạm vào đôi bàn tay mềm mại của Mẹ, như được thành trẻ thơ trong đôi mắt dịu hiền của Mẹ. Bỗng thấy cuộc đời như trong sạch hơn, con người tốt đẹp hơn, như vừa rũ bỏ hết những nỗi muộn phiền…
Đặt khẽ vài đồng tiền vào hộp nhỏ trên bàn, tôi bước đi. Tiếng hát vẫn vút lên
We bow us to our lot of care,
Beneath thy guidance reconciled;
Hear for a maid a maiden's prayer,
And for a father hear a child!
Ave Maria!
Đến bên bức tượng thiêng nổi tiếng, tôi đặt tay lên, nhắm mắt, và cầu nguyện.
Đi rất xa rồi mà tiếng hát vẫn theo tôi…
Ave… Maria…

Đường mùa thu

 Mỗi ngày, từ vùng Templin qua mấy chặng tàu xe mất gần 3g đến Berlin làm việc rồi cũng ngần ấy thời gian quay về khách sạn. Chiều hôm qua làm việc xong mọi người mải mê mua sắm và chụp hình ở khu trung tâm Berlin đến tối mịt mới về đến Templin. Chuyến xe bus cuối cùng đã hết từ trước đó hơn một tiếng nên từ ga xe lửa đi bộ về khách sạn, khỏang 3km. Con đường nhỏ chỉ đủ 2 làn xe chạy giữa rừng thông, một bên là lối đi nhỏ lát gạch sạch sẽ dành cho xe đạp, bên kia lề đường rộng rãi và những ngôi nhà nhỏ một trệt một lầu. Những gian phòng ấm cúng ngọn đèn vàng, cửa sổ sơn màu sáng buông rèm trắng, bệ cửa đặt những chậu hoa nho nhỏ đủ màu sắc. Bậc tam cấp bằng gỗ tay vịn thanh mảnh, cửa ra vào sơn màu sẫm… Khung cảnh gợi nhớ một truyện ngắn đầy ám ảnh của nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái “Ngồi đợi ở bậc thềm”  dù nơi đây yên bình đến mức có thể ngồi đợi một ai đó ở bậc thềm ngôi nhà xinh xắn này cho đến hết đời… (mà mình thì cũng đã cuối đời rồi còn đâu…)

Con đường mùa thu trải dài qua rừng thông những cành thấp đã rụng hết chỉ còn phần ngọn xanh lá. Mùa thu sẽ qua rất nhanh, thông rụng lá để đón gió lạnh mùa đông và những bông tuyết đầu mùa. Nếu không rụng lá cây khó mà đứng vững trước sức nặng khi tuyết phủ trắng trĩu nặng cành cây.

Con đường mùa thu vun vút qua rừng bạch dương thân trắng lốm đốm nâu đen, dáng thanh mảnh vươn cao, rừng đấy mà bạch dương trông vẫn cô đơn. Mặt đất khô ráo thảm lá vàng trông chỉ muốn ngả lưng xuống đó mà ngắm bầu trời xanh thăm thẳm trên kia, để cho ý nghĩ không đầu không cuối lang thang bất định…

Con đường mùa thu đẩy lùi về phía sau những hàng phong tán lá sum sê, ngọn chớm vàng. Nắng sớm nắng chiều làm màu lá ánh lên như dát vàng. Gió lạnh thế này chỉ vài bữa nữa thôi những cây phong sẽ nhuộm vàng rồi đỏ rực… Mùa Thu ngắn lắm, vì vậy những sắc màu rực rỡ nhất vội vã thu hết cả vào lá vào hoa, vào sắc trời vào mặt nước… Từ sáng đến tối, bất cứ lúc nào cũng có thể nhận thấy những màu sắc phô bày không dấu diếm. “Quý bà mùa thu” đang ở vào độ tuổi đẹp nhất, rực rỡ mà đằm thắm. Sắc đẹp làm người ta ngưỡng mộ và thoáng nao lòng…

Con đường mùa thu thấp thóang hồ nước mỗi sớm hơi sương bốc lên mờ mịt, từ hàng liễu rủ ven hồ bỗng một cánh chim vút bay lên. Xa xa chiếc thuyền nhỏ, chiếc cầu nhỏ… Buổi chiều mặt nước lặng lẽ trong vắt như gương in bóng hàng liểu rủ trông như những bức tranh thủy mặc.

Con đường mùa thu qua những ngôi làng nhỏ. Những ngôi nhà vút qua cũng nhỏ nằm giữa khu vườn xinh xinh trồng hoa, những luống rau, vài cây táo trong sân, hàng rào gỗ sơn nâu, mái ngói xám dốc đứng, cửa sổ tầng sát mái như đôi mắt lặng ngắm con đường thẳng tắp chạy qua chia ngôi làng làm hai nửa.

Con đường mùa thu là tuyến đường sắt trải dài mọi miền đất nước, đường ray và hàng tà vẹt như cũ mòn nhưng những đòan tàu thì hiện đại, rộng rãi, sạch sẽ, tiện nghi làm người đi không ngán ngại thời gian dài di chuyển. Đường sắt cao tốc nối liền các nước rất hiệu quả, còn trong nước thường thấy hệ thống đường sắt khổ 1,4m vận chuyển người và hàng hóa với hệ thống ga tàu có những dịch vụ tiện dụng, đầy đủ thông tin cho hành khách, chỉ tiếc là tòan bằng tiếng Đức, đọc khó vô cùng.

Từ một ga nhỏ quạnh vắng, người đàn ông trung niên bước lên tàu. Tay cầm gậy, tay kia dẫn chú chó bergiê lông loăn xoăn màu vàng nâu. Ông khiếm thị. Chú chó to lớn ngoan ngõan quanh quẩn sát chân ông, thỉnh thỏang dụi đầu vào tay ông chủ như muốn nói rằng mình vẫn ở ngay bên cạnh. Người đàn ông xoa đầu nó và nói thầm gì đấy trông rất âu yếm. Bất giác chú chó ngước nhìn tôi. Chao ôi, một đôi mắt to tròn màu nâu quá đỗi dịu dàng... Chú Vàng ơi, nếu ông chủ không bị khiếm thị thì đôi mắt chú có buốn đến thế…?

Chiều xuống chầm chậm nhưng rồi bóng đêm lướt đến. Tôi xuống ga, đòan tàu chuyển bánh. Không biết người đàn ông và chú chó có đôi mắt buồn còn đi đến tận đâu…
Ngày Thu sắp hết…

 Những vòi nước cổ

Trong các thành phố châu Âu ta dễ dàng bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.
Ngày xưa người ta xây những vòi nước công cộng dành cho kẻ lỡ độ đường hoặc chính người trong cộng đồng sử dụng. Thường bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò, hò hẹn gái trai. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.
Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Miệng vòi có khi đúc thành hình miệng thú. Phía dưới vòi là cống thóat nước, dòng nước từ vòi chảy nhè nhẹ thằng xuống cống. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: chúng được sơn chống rỉ, bệ gang hay bệ đá phía dưới được quét dọn thường xuyên không có rác làm nghẹt cống. Xung quanh vòi nước cũng sạch sẽ. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.
Hệ thống cấp nước ở những thành phố này thời xa xưa gần như có chung một nguyên tắc: nước từ nguồn trên núi, từ sông hay suối, hoặc từ giếng bơm… đều được dẫn đến tháp nước chung của một thành phố (nếu thành phố lớn thì có nhiều tháp nước). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung.
Không chỉ có vòi nước công cộng, các thành phố châu Âu còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – vốn là giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.
Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố này từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng gia đình từng khách bộ hành… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: Khi cộng đồng chú ý đến nhu cầu của từng con người thì mỗi con người cũng có ý thức gìn giữ không gian ấy cho cả cộng đồng.

Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu




Kết quả hình ảnh cho những vòi nước cổ

Chuyện một người Việt mua và bảo tồn một cung điện


1. Trên trang online của báo Gazeta Wrocławska (Ba Lan) ngày 20.10.2012 có đưa tin “Người Việt đã mua Cung điện Wroclaw”. Bài báo cho biết đây là một trong những di tích lớn nhất trước chiến tranh ở thành phố Wroclaw. Cung điện Schaffgotsch còn phổ biến với tên gọi "Pałacyk" đã có một chủ sở hữu mới là một người Việt Nam.

Cung điện – biệt thự Schaffgotsch của một người thuộc dòng họ Hans Ulrich von Schaffgotsch được xây dựng vào những năm 1890. Trên cơ sở một tòa nhà có từ năm 1862, công trình được thiết kế và mở rộng trở thành một cung điện theo phong cách Phục hưng, với một tháp chính, nhiều cửa sổ hình vòm và cửa sổ tầng áp mái... Mặt tiền được ốp gạch đỏ với các chi tiết bằng đá sa thạch trắng, phía sau cung điện có một sân trong nối với một khu vườn rộng thiết kế theo phong cách Anh.

Chủ nhân – người xây dựng cung điện đã qua đời năm 1915. Sau đó công trình trở thành tài sản của thành phố Wrocław. Trong hai cuộc chiến tranh tòa nhà bị hư hại, thành phố đã sửa chữa, trùng tu lại và được sử dụng làm Trụ sở Hiệp hội sinh viên, nơi các câu lạc bộ của sinh viên tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa giải trí...  Năm 1972 một đám cháy xảy ra ở đây. Sau đó tòa nhà lại được cải tạo trong một thời gian dài và hoàn thành vào năm 1975. Từ đó công trình được sử dụng cho các mục đích văn hóa khác nhau (vũ trường, quán ăn, quán rượu, một số dịch vụ và giải trí, thậm chí có cả rạp chiếu phim)... Cho đến năm 2012 tài sản này được bán cho một công ty của người Việt. Có lẽ đây là trường hợp đầu tiên người Việt sở hữu một công trình có giá trị cao, tuy quy mô không lớn nhưng có nguồn gốc và là một di tích lịch sử và văn hóa.

2. Trong một dịp đến Ba Lan tình cờ tôi quen biết gia đình anh chị T. người đã mua lại cung điện Schaffgotsch. Đó là đôi vợ chồng còn trẻ, cư trú ở Ba Lan từ lâu, Khi biết tôi đang quan tâm đến việc bảo tồn di sản đô thị, anh chị đã mời tôi đến thăm thành phố Wrocław nơi có cung điện này.
Wrocław là thủ phủ của tỉnh Dolnośląskie ở Tây-Nam Ba Lan, nằm bên sông Odra. Thành phố có khoảng 1 triệu dân. Trong lịch sử nơi này từng chịu ảnh hưởng văn hóa của người Bohemia, người Áo và người Phổ. Điều đó đã tạo nên những nét đặc sắc của thành phố nhất là trong kiến trúc. Là một thành phố du lịch nhưng Wrocław có nhịp sống yên bình nên nó được người Ba Lan và khách du lịch rất yêu thích.

Cung điện Schaffgotsch nằm trên một con đường nhỏ nhắn và yên tĩnh ngay sát trung tâm thành phố. Khuôn viên trước kia có hai “mặt tiền”: phía cổng chính là đường phố, phía sau là một khu vườn lớn, ngày nay trở thành một công viên của thành phố. Sau hai lần trùng tu nhưng cung điện vẫn còn giữ được phần lớn kiến trúc như ban đầu. Sân trước và sân trong còn nguyên những viên đá lát từ cuối thế kỷ 19. Sảnh chính và cầu thang, những hành lang, từng tầng và các phòng ở mỗi tầng về cơ bản đã được trả lại cấu trúc ban đầu, sau một thời gian dài cũng bị tình trạng cơi nới, chia nhỏ cho những nhu cầu khác nhau.

Hành trình phục hồi và trùng tu của cung điện này – theo lời người chủ sở hữu – đã bắt đầu ngay sau khi hoàn tất thủ tục mua bán. Khởi đầu, đó là lời hứa của anh với chính quyền thành phố “công trình sẽ không bị đập phá hay thay đổi, mà sẽ được trùng tu, tôn tạo để trở về hình thức kiến trúc đẹp nhất của nó, dù nó được sử dụng với bất cứ chức năng nào”. Khi tôi hỏi, vì sao anh dám hứa chắc như vậy khi mà lúc đó anh chưa hề có khái niệm gì về trùng tu di sản văn hóa, khi mà nguồn vốn của anh không phải là dư dả?

Anh T. vui vẻ nói: sống lâu ở Ba Lan tôi hiểu rằng, chính quyền và người dân đất nước này rất yêu quý và tôn trọng các di tích lịch sử. Họ miệt mài sửa chữa, trùng tu di tích từ thời này qua thời khác, ngay cả trong những giai đoạn khó khăn nhất thì công tác bảo tồn di tích chưa bao giờ ngừng nghỉ. Sau chiến tranh phần lớn thủ đô Warshaw bị phá hủy, vậy mà bây giờ chị thấy đấy, Warshaw đã “hồi sinh” gần như toàn bộ những công trình cổ, trở thành tài sản văn hóa và nguồn tài nguyên vô tận cho du lịch. Vì vậy, đối với tôi bảo tồn công trình này cũng là một việc cần làm, như những công việc khác của tôi.

Tuy câu trả lời của anh đơn giản vậy nhưng qua câu chuyện dài, tôi biết anh T. đã thực hiện rất nhiều công việc và tiêu tốn nhiều, cho đến nay vẫn đang đầu tư sửa chữa chứ chưa thể thu lợi nhuận từ công trình.

Bắt đầu từ việc cải tạo hệ thống hạ tầng của công trình: hệ thống điện, nước, khí đốt, sưởi ấm, nhà vệ sinh, nước thải... Đụng đến đâu là phải làm mới đến đấy. Cải tạo hạ tầng để hạn chế hư hại cho tòa nhà do hệ thống này đã xuống cấp nặng nề, đồng thời để có thể sử dụng ngay một phần tòa nhà.
Rồi bắt đầu nghiên cứu đánh giá tình trạng tổng thể, tình trạng từng khu vực, từng bộ phận kiến trúc, thậm chí từng chi tiết trang trí. Công việc này được anh T. hào hứng kể lại. Anh được cơ quan quản lý di sản của Ba Lan nhiệt tình giúp đỡ khi anh tìm hiểu về nguồn gốc và việc trùng tu tòa nhà. Cơ quan quản lý đã gửi hồ sơ cho anh, giới thiệu chuyên gia đến xem xét, khảo sát và đánh giá tình trạng công trình... Rồi từ đó tư vấn phương án trùng tu nào hiệu quả nhất trên nguyên tắc bảo tồn tối đa những gì giữ được, trùng tu với sự cẩn trọng và khoa học nhất có thể.

Đặc biệt, khi biết được xuất xứ vật liệu xây dựng, nhất là gạch lát nền, là sản xuất từ một nhà máy tại Đức, cơ quan quản lý di sản đã giới thiệu anh liên hệ với nhà máy đó. Sau khi người của nhà máy đến khảo sát, nhà máy đã quyết định phục hồi cả một dây chuyền sản xuất loại gạch từ thế kỷ 19 để cung cấp cho anh. Khi tôi đến thăm quan thì phần lớn tầng trệt đã được lát những viên gạch mới sản xuất nhưng nhìn kỹ mới nhận ra. Với những vật liệu khác cũng vậy. Tất nhiên, chi phí cho việc sản xuất loại vật liệu “gốc” không hề nhỏ nhưng quan trọng là anh T. có nhiều “người đồng hành” trong hành trình dài và khó khăn này.

Khi cùng anh leo lên tận tầng áp mái của cung điện, tận mắt tôi nhìn thấy những cây cột, đà, xà... bằng gỗ lớn đã trải qua hơn 200 năm, thấy việc thay thế từng đoạn bị hư hỏng, bị mục... một cách chi tiết, cẩn thận. Từ đó nhìn xuống sân trước sân sau vẫn còn những viên đá nhỏ lát đường cùng thời với xà ngang cột dọc... đồng bộ từ những chi tiết và cấu trúc bên trong chứ không chỉ là việc phục dựng hay trang trí mặt tiền đã làm nên sự hoàn hảo của công trình.

Trong cung điện có khá nhiều bộ phận bị mất hay thay đổi so với ban đầu: hàng loạt tranh tường bị sơn phủ nhiều lớp, một số tác phẩm điêu khác bị tháo dỡ hoặc xây che chắn lại, cầu thang bằng gỗ có lan can sắt uốn hoa văn đẹp đẽ nhưng phần trên đã bị cưa mất, thay thế bằng những thanh sắt xấu xí và  đơn điệu, những chùm đèn pha lê cổ xưa biến mất... Chưa kể nhiều phòng trong cung điện bị cơi nới, tranh, thảm hay cửa hư hỏng nặng... Vài năm nay anh T. đã trùng tu một phần trên lầu phía cánh trái của công trình và cho thuê làm văn phòng hoặc cửa hàng dịch vụ với điều kiện: phải giữ nguyên trạng cấu trúc, cửa hàng phải thiết kế phù hợp với kiến trúc trang trí của tòa nhà. Điều này đã được những người thuê tôn trọng và thực hiện đúng. Thật ra người ta hiểu rõ rằng việc một cửa hàng thương mại hay dịch vụ ở trong một cung điện, lâu đài đã có thêm một giá trị văn hóa “phi vật thể” bên cạnh giá trị kinh tế của nó.

Hiện nay công việc trùng tu cung điện Schaffgotsch vẫn đang tiếp tục. “Tôi còn trẻ, còn nhiều thời gian để thực hiện việc này một cách hoàn hảo. Sau đó, sử dụng nó như thế nào thì chúng tôi cũng sẽ có được sự ưu đãi từ một số chính sách của chính quyền, trong đó có ưu đãi về thuế vì chúng tôi đã góp phần bảo tồn di sản văn hóa cho thành phố”. Khi chia tay anh chị T. nói với tôi như vậy. Bỏ một nguồn vốn có thể nói là rất lớn cho một việc không thu lại “tiền tươi thóc thật” ngay nhưng không hề cảm thấy bất an, thái độ đó chỉ có được trong môi trường kinh doanh ổn định, lành mạnh và minh bạch về luật pháp. Và cùng với đó là sự hiểu biết và trân quý di sản của đất nước Ba Lan, nơi mà những người như vợ chồng anh T. đã coi là quê hương thứ hai.

3. Nhiều lần tham quan, khảo sát di tích cổ ở các nước tôi luôn nghĩ về những di tích trong nước và tự hỏi, bao giờ chúng ta sẽ có những nhà đầu tư, chủ sở hữu chịu đầu tư kinh phí vào  việc trùng tu, bảo tồn di tích? Thôi thì di tích “của nhà nước” thì có thể còn vướng thủ tục luật lê, nhưng công trình của tư nhân như nhà cổ, biệt thự, lăng mộ… vì sao chưa thể đầu tư bảo tồn để trở thành di sản của quốc gia?

Ngoài một nguyên nhân quan trọng là do những biến cố lịch sử mà  quyền sở hữu,quyền sử dụng nhiều nhà ở từ thành phố đến nông thôn bị xóa bỏ, thay đổi… Những chủ nhân mới hoặc phá bỏ, hoặc thay đổi chức năng công trình, chỉ còn một phần nhỏ được duy trì chức năng nhà ở, nhưng cũng chỉ duy trì được “một đời”, thế hệ con cháu cũng chia năm sẻ bảy hoặc bán đi, việc duy trì bảo quản hầu như không có… Vốn tài sản biệt thự, dinh thự có tuổi đời… ngày càng hiếm hoi.

Và lại như một cơ duyên, cách đây vài hôm tôi được mời đến tham quan biệt thự Phương Nam ở đường Võ Văn Tần quận 3, trước khi tòa biệt thự này được tiến hành trùng tu. Đây là một tòa biệt thự nổi tiếng bởi quy mô to lớn nằm trọn một góc phố giáp 3 con đường, kiến trúc đẹp và khá “bí hiểm” về nguồn gốc. Nó còn nổi tiếng về giá trị kinh tế khi sang nhượng dù hầu hết mọi người không biết thực sự bao nhiêu. Một điều trùng hợp là những người phụ trách dự án trùng tu biệt thự này còn trẻ như vợ chồng anh T. ở Ba Lan, và ở họ cũng có nhiệt huyết, tình cảm và sự hiểu biết về việc trùng tu di sản đô thị như thế.

Như những gì tôi được chứng kiến tại thực địa và trao đổi cùng người phụ trách dự án, quy trình khảo sát để lên kế hoạch, phương án trùng tu công trình và dự kiến công việc tiếp theo được thực hiện khoa học, bài bản: tài liệu về ngôi nhà và chủ nhân, kể cả lịch sử khu vực Chợ Đũi vào khoảng thời gian xây dựng công trình đều được thu thập tại Trung tâm lưu trữ quốc gia ở TPHCM và tại Pháp. Việc tìm hiểu những lần chuyển đổi sở hữu, những “biến cố” trong cuộc đời người từng làm chủ tòa nhà... được coi là cơ sở để tìm hiểu các niên đại sửa chữa công trình, so sánh đối chiếu để tìm ra những yếu tố “gốc” vì ngôi biệt thự đã trải qua gần trăm năm. Đặc biệt sự tìm hiểu “triết lý” của thiết kế kiến trúc chính là ý tưởng của chủ nhân khi xây dựng tòa nhà này. Đây là một điều kiện đặc biệt để có thể trùng tu thành công nếu phục dựng được “hồn vía” của công trình.

Cảnh quan tự nhiên và bối cảnh xã hội, hoàn cảnh của chủ nhân, nền văn hóa mà chủ nhân thuộc về, lối sống, nhu cầu của chủ nhân và gia đình… đều là cơ sở quan trọng để nảy sinh ý tưởng khi xây dựng công trình mới. Từ đó kiến trúc sư sẽ cụ thể hóa bằng thiết kế theo nguyên tắc khoa học xây dựng và nghệ thuật kiến trúc, biến ý tưởng thành một tác phẩm “đúng là của chủ nhân” đồng thời mang hơi thở của thời đại.  

Muốn bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đô thị thì trước hết những di sản ấy phải được tồn tại và được tích hợp những giá trị vật chất và tinh thần. Hãy còn quá sớm để nói về việc thực hiện và kết quả việc trùng tu Cung điện Wroclaw ở Ba Lan và Biệt thự Phương Nam ở Việt Nam. Cả hai công trình có niên đại gần nhau (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20), hiện thuộc sở hưu tư nhân nhưng đều là di sản đô thị.  Những khởi đầu từ ý tưởng bảo tồn, sự chuẩn bị hồ sơ, tài liệu nghiêm túc, khoa học cho việc trùng tu, sự đầu tư dài hơi và việc xác định “không thể thu lợi nhuận ngay và luôn” từ công trình chính là sự lựa chọn cần thiết và rất đáng trân trọng của chủ sở hữu: trùng tu và bảo tồn công trình, cho nó một/nhiều công năng mới phù hợp cũng chính là tích lũy giá trị cho di sản văn hóa, bao gồm cả giá trị kinh tế.

Sài Gòn 20.11.2018
 
Cung điện - biệt thự Schaffgotsch. Ảnh: Song Quyên

Chuyện một người Việt mua và bảo tồn một cung điện

Chuyện một người Việt mua và bảo tồn một cung điện


Tòa nhà Phương Nam (Ảnh: MC)

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20181127/chuyen-mot-nguoi-viet-mua-va-bao-ton-mot-cung-dien/1471079.html?fbclid=IwAR1DqIdR88owv1YVSOprz-wjb8LuFfcCHZhNtLoCtmXIMeF6kLhKyzYpvZc


Linh tinh lang tang (192). KÉO VALY VÀ ĐI LANG THANG


Mình lại đi lang thang vài bữa đây!
Nửa đầu năm 2018 mình đã hoàn thành “vượt mức” tự đặt ra về viết báo, dạy học và những việc liên quan, tham gia vài việc có ích với bạn bè và có mấy chuyến đi thú vị... Mỗi chuyến đi, với mình, là thêm chút mới cho cuộc sống.  
Thế nên nửa năm sau này của mình, cũng như vài năm gần đây, là tiếp tục đi đâu đó, ngó nghiêng, ngẫm nghĩ và cố gắng viết cái gì cho ra tấm ra gạo (dù mình chỉ như cám thôi). Và từ tháng 9 là lịch lên lớp, hội thảo khoa học... khá dày cho đến cuối năm.
Còn sức khỏe, còn nơi rủ rê, còn khả năng làm việc thì cố gắng đi, vừa đi vừa học, vừa giúp bạn bè thêm chút ít... Không làm phiền ai và tránh ai làm phiền mình, vậy là vui rồi, nhỉ?
Và vẫn lảm nhảm vẫn sến trên FB, giờ lại có thêm Minds cho “ngôn tình vụn” nữa. Ồ, sinh hoạt tinh thần của người vào tuổi mùa thu thiệt là tao nhã J
Thế nhưng có một hiện tượng mới phát sinh, ấy là con gái và bạn thân đồng loạt nói rằng “dạo này lại còn đốc chứng làm thơ!”
Ấy là vì mọi người không biết rằng bây giờ người ta không hỏi nhau “đến tuổi hưu chưa?” mà là “đến tuổi làm thơ chưa?”. Mà mình thì đã vào “tuổi làm thơ” vài năm rồi, chưa xin xỏ vào hội thơ phường là “bịnh” còn nhẹ đấy, nói lắm lại in một tập Thơ bi giở, muốn hem?
(Hứa, chuyến đi này không mần thi, thật!) :D
SG 10/7/2018

Một nửa sự thật (note cũ)

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Cứ mỗi chuyến đi lại càng  thấm thía sự đúc kết của ông bà mình.
1.Chuyện thiên hạ.  Do thói quen nghề nghiệp (trước đây)  nên đi đến đâu tôi cũng chú ý bảo tàng. Nhiều lần  tham quan các bảo tàng  lịch sử,  văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì  vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó  lịch sử được phản ánh toàn diện hơn. Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…),  tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí  hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu;  các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch… Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động  của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc chống chiến tranh đồng nghĩa với việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình.

Có một bảo tàng (1) về “Thời vừa qua”. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”… Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất. Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” chỉ mang lại sự hận thù quá khứ thì nguy cơ sẽ đưa đến sự thù hận trong tương lai.

2. Chuyện người nhà. Chuyến đi này tôi gặp một số người Việt đang sinh sống tại Cộng hòa Sec. Là công nhân kỹ thuật, người xuất khẩu lao động, sinh viên, nghiên cứu sinh… họ đã ở đó trên dưới 20 năm. Những ngày xa nhà, gặp gỡ vài người trong số họ mang lại cho tôi những trải nghiệm mới, những sự thật khác với những gì tôi vẫn biết về họ.

Nếu chỉ nghe những câu chuyện “làm quà” về cộng đồng người Việt ở Đông Âu, như hàng năm chuyển về nước bao nhiêu kiều hối, “soái” nào có bao nhiêu tài sản, khu vực nào “đánh” hàng nào, chợ nào vừa bị cháy mà không tìm ra nguyên nhân, hung thủ, “đại gia” nào vừa bị trấn lột, thậm chí cả những mánh khóe buôn lậu lách luật trốn thuế…thì hình như hầu hết những người Việt đều làm ăn phi pháp, không có được thiện cảm của cộng đồng cư dân sở tại, càng không có sự “sang trọng” và vẻ “trí thức” của một “xã hội văn minh”. Nhưng nếu tìm hiểu cuộc sống của họ từ sự quan tâm và chia sẻ thật sự bạn sẽ được biết về nhiều mảnh đời cơ cực nhưng đầy lòng tự trọng, có thể làm đủ mọi việc để sống nhưng không bán rẻ nhân cách. Một thời gian dài phải làm đủ nghề xoay đủ cách để có thể tồn tại trong xã hội có những biến động gay gắt, là dân “nhập cư” họ còn phải đối mặt với vô số khó khăn trong cuộc sống và công việc làm ăn, đối phó với sự kỳ thị của một số “người tây” và “người ta”. Có người từng thất bại, có người từng thành công… nhìn chung đến giờ cuộc sống tương đối ổn định, gia đình con cái nền nếp. Người thành đạt đóng góp cho xã hội bằng kết quả công việc của mình, người bình thường thì bằng những việc làm nhỏ bé và bình dị… để thể hiện cụ thể ý thức cộng đồng nên được sự quý mến của cư dân và nể trọng chính quyền nơi họ sống. Quả thật, trong xã hội nào cũng vậy, “học làm sang” không khó nhưng làm để người ta trọng thì khó hơn nhiều!

Và sau mỗi chuyến đi với những gì thu nhận được, tôi còn thấm thía hơn sự đúc kết của thiên hạ “một nửa sự thật không phải/ chưa phải là sự thật”.

 (1) “Nhà khủng bố” ở Budapest (Hungaria). Xem thêm: http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=380
Nguyễn Thị Hậu (10/2011) - đã in trong tập tản văn *Buổi trưa trong quán cà phê* 3/2012

Vẻ đẹp của quá khứ dành tặng tương lai

TTCT - Trên một hành trình dài, bắt đầu từ Warsaw và Krakow (Ba Lan) sang Budapest (Hungary), qua Prague (Cộng hòa Czech) và Vienna (Áo), tôi chứng kiến sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống từ các di sản hiện diện ngay trong lòng các đô thị ấy.

Quảng trường trung tâm Praha - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu

Những thành phố kể trên đều là thủ đô từ thời trung cổ nên hệ thống thành cổ, cung điện, lâu đài, công trình công cộng được xây dựng qua vài thế kỷ được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ hay những lâu đài lớn (của một dòng họ quý tộc) thường ở trên đồi hay sườn núi với tường thành xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm, xung quanh là khu phố buôn bán...

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị, ở đó lịch sử hiện diện qua từng viên gạch trên đường phố, ở đó ký ức đô thị được lưu giữ trong từng ngôi nhà, từng hàng quán... bằng âm nhạc cổ điển, bằng tác phẩm của các danh họa... Đó chính là vẻ đẹp của quá khứ dành tặng tương lai.

Trong thành cổ Buda ở Budapest, khu vực khai quật khảo cổ học liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất... Có hố khai quật xong được lấp lại và trồng cỏ tạo thành vườn hoa nho nhỏ, có hố được giữ lại để khách có thể nhìn tận mắt các tầng văn hóa của di tích. Hiện vật tìm thấy được trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài ấy.

Công trường đang khai quật có mái che bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong thì tất cả các lớp kiến trúc được bảo tồn làm bằng chứng cho từng giai đoạn xây dựng vào những niên đại khác nhau. Khu di tích nào cũng có một mô hình bằng đồng đặt gần lối ra vào, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể khu di tích qua các công trình kiến trúc còn nguyên và những phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt vì Thế chiến 2 đã biến Warsaw thành những đống đổ nát, trong đó có thành cổ xây dựng từ thế kỷ 12, 13. Sau năm 1945, Ba Lan xây dựng lại Warsaw và tòa thành cổ như trước chiến tranh.

Trong thành, trên đường phố hẹp hay quảng trường rộng còn nguyên những viên đá nhỏ được lát thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc... vừa đẹp vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Tôi đã nhìn thấy một công nhân tỉ mỉ gắn lại vài viên đá bị bật lên trong khi người qua lại đi chậm và nhẹ chân hơn.

Lâu đài cổ ở Krakow - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu

Những người đánh xe ngựa trong trang phục xưa đều là hướng dẫn viên nhiệt tình và thú vị, chính họ kể lại những câu chuyện xưa về thành cổ, về từng địa điểm, từng nhân vật lịch sử... Thành cổ lúc nào cũng nhộn nhịp du khách nhưng vẫn duy trì một nhịp sống bình thản, êm đềm.

Tháng 10, khi mùa du lịch cao điểm ở châu Âu đã qua, nơi đây vẫn không hề vắng khách. Những người làm bảo tồn và du lịch ở đây sáng tạo nhiều hình thức tham quan, đáp ứng nhu cầu, điều kiện khác nhau của du khách: tham quan toàn bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần như hầm mộ trong lâu đài hoặc nơi liên quan đến một nhân vật nổi tiếng (như tour tham quan các phòng trong cung điện mùa hè ở Vienna, nơi hoàng hậu Sisi từng sống).

Có rất nhiều di tích tham quan miễn phí, nhất là những nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của tổng thống Hungary với đội danh dự duyệt binh trong khi du khách đứng xem trong sân dinh tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự.

Di tích khảo cổ bảo tồn bên cạnh tòa nhà đang sử dụng ở Warsaw - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu

Di tích khảo cổ trong thành cổ Buda - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu

Bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, ngược lại những “bảo tàng mở” ấy mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú, hấp dẫn nhất.

Các đô thị ấy cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của quá trình “đô thị hóa, hiện đại hóa” và phát triển kinh tế sau chiến tranh, nhưng các di sản văn hóa được gìn giữ trân trọng trước hết là cho chính mình và rồi “hữu xạ tự nhiên hương” trở thành di sản của thế giới. Thành công ấy có được từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Chuyện về những vòi nước cổ

Vòi nước công cộng ở Prague (mới)

Vòi nước c63 ở Berlin
Ở thành cổ Buda
Trên đường phố ở Budapest
Sưu tầm trên mạng
Sưu tầm trên mạng
Ở Roma (ảnh Trương Quý)

Trong các thành phố châu Âu ta dễ dàng bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.

Ngày xưa người ta xây những vòi nước công cộng dành cho kẻ lỡ độ đường hoặc chính người trong cộng đồng sử dụng. Thường bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò, hò hẹn gái trai. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.

Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Miệng vòi có khi đúc thành hình miệng thú. Dòng nước từ vòi chảy nhè nhẹ thẳng xuống cống thóat nước phía dưới. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: chúng được sơn chống rỉ, bệ gang hay bệ đá phía dưới được quét dọn thường xuyên không có rác làm nghẹt cống. Xung quanh vòi nước cũng sạch sẽ. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.

Hệ thống cấp nước ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: nước từ nguồn trên núi, từ sông hay suối, hoặc từ giếng bơm… đều được dẫn đến tháp nước chung của một thành phố (nếu thành phố lớn thì có nhiều tháp nước). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung.

Không chỉ có vòi nước công cộng, các thành phố châu Âu còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.

Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố này từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình … Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: Khi cộng đồng chú ý đến nhu cầu của từng con người thì mỗi con người cũng có ý thức gìn giữ không gian ấy cho cả cộng đồng.

TRÊN CẦU TÌNH YÊU (PRAGUE)


Một ngày thu tôi đến Prague. Thành phố hiện lên đẹp như trong bộ phim cổ tích “Ba hạt dẻ dành cho lọ lem” của Tiệp Khắc (tên cũ của Cộng hòa Sec và Slovakia) tôi xem hồi xưa, khoảng thập niên 70 thế kỷ trước. Từ trên tầng tháp của Nhà thờ Con Gà nhiều người mải mê ngắm nhìn toàn cảnh Prague hiện ra dưới tầm mắt. Quảng trường trung tâm có hàng ngàn du khách, đúng mười hai giờ trưa đồng hồ thong thả hồi chuông, chú gà vàng hiện ra từ tòa tháp cao nhất, và những vị thần lần lượt đi qua ô cửa nhỏ… Một thoáng cổ tích trong nhịp sống sôi động của thành phố du lịch nổi tiếng.

Cũng như nhiều thành phố châu Âu, Prague có những cây câu bắc ngang con sông Vlata chia đôi thành phố. Bạn đưa tôi đến “cầu tình yêu”,cây cầu nổi tiếng bởi những bức tượng dọc hai thành cầu, còn nổi tiếng hơn vì là nơi mà du khách truyền nhau rằng “cầu gì được nấy”. Trời mùa thu thời tiết thất thường, vừa nắng vàng rực rỡ đấy mà chỉ một cơn gió lạnh trời đã đầy mây xám, rồi lác đác những hạt mưa… Thoáng chốc sau mây tan bầu trời lại xanh thắm, xanh như thể là ngày thu cuối cùng… Từ cây cầu này toàn cảnh lâu đài trên đồi trở nên hiện ra hùng vĩ, đẹp mê hồn. Dưới kia, con sông Vlata trong vắt dịu dàng trôi giữa đôi bờ những lâu đài, nhà thờ, rặng cây, đường phố…
Địa điểm du lịch nổi tiếng này quả là được “khai thác” triệt để không gian từ trên cầu đến những cảnh quan xung quanh, nhưng vẫn mang lại cảm giác thảnh thơi nhẹ nhõm cho du khách dạo chơi. Trên cầu là những quầy hàng nho nhỏ bày bán đồ lưu niệm bằng gỗ, bằng da, bằng thủy tinh pha lê “Tiệp” nổi tiếng. Những người họa sĩ vẽ chân dung, du khách cười thích thú khi xem những bức biếm họa ngộ nghĩnh về mình. Và âm nhạc. Những nhóm nhạc chơi những thể loại khác nhau, rộn rã tươi vui khiến người ta bất giác nhún nhảy lắc lư, hay êm dịu gợi nhớ điệu valse sang trọng chốn cung đình… Giữa không gian ấy vút lên giọng hát trong vắt của một người phụ nữ khiếm thị. Cả một “dàn nhạc” ở ngay bên cạnh chị, trong chiếc máy CD trên chiếc bàn nhỏ phía sau.

Ave Maria! maiden mild!

Listen to a maiden's prayer!

Thou canst hear though from the wild,

Thou canst save amid despair…

Chị đứng đó trong bộ đồ trắng giản dị, say đắm cất tiếng hát, đôi bàn tay chắp trước ngực rồi mở rộng như muốn gửi tiếng hát đến tận trời xanh. Giọng hát chị khi trẻ thơ như Robertino, khi nồng nàn như Celine Dion… Chị cứ hát, không biết xung quanh mình có ai dừng lại lắng nghe ai lơ đãng đi qua. Dòng sông dưới kia, những đám mây trên bầu trời kia, cả cơn gió cuối thu cả những dòng người qua lại nơi đây… trong khỏanh khắc tất cả như ngừng lặng. Mẹ như rất gần, tưởng như ta có thể chạm vào đôi bàn tay mềm mại của Mẹ, như được thành trẻ thơ trong đôi mắt dịu hiền của Mẹ. Bỗng thấy cuộc đời như trong sạch hơn, con người tốt đẹp hơn, như vừa rũ bỏ hết những nỗi muộn phiền…

Đặt khẽ vài đồng tiền vào hộp nhỏ dưới chân chị, tôi bước đi. Tiếng hát vẫn vút lên

We bow us to our lot of care,

Beneath thy guidance reconciled;

Hear for a maid a maiden's prayer,

And for a father hear a child!

Ave Maria!

Đến bên bức tượng thiêng nổi tiếng, tôi đặt tay lên, nhắm mắt, và cầu nguyện.

Đi rất xa rồi mà tiếng hát vẫn theo tôi…

Ave… Maria…

NƠI VỪA QUA, CHỈ ĐI QUA THÔI...

Tượng đài nhạc sĩ thiên tài Chopin trong công viên ở Warsaw

Vienna sáng rực trong đêm

Quảng trường trung tâm Praha

Di tích khảo cổ trong thành cổ Buda

Budapest nhìn từ thành cổ Buda

Lâu đài cổ ở Krakow

Phố cổ Krakow

Thành cổ Warsaw xây dựng lại sau chiến tranh

Post hình chậm quá nên... lười, vài tấm hình về nơi đã qua. Bạn nào quan tâm thì xem ở Facebook nhé: hậu khảo cỗ nguyễn.

MỘT NỬA SỰ THẬT

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Cứ mỗi chuyến đi lại càng thấm thía sự đúc kết của ông bà mình.

1.Chuyện thiên hạ.

Do thói quen nghề nghiệp (trước đây) nên đi đâu tôi cũng chú ý đến bảo tàng. Nhiều lần tham quan các bảo tàng lịch sử, văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó lịch sử được phản ánh toàn diện hơn. Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…), tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu; các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch… Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc chống chiến tranh đồng nghĩa với việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình.

Có một bảo tàng (1) về “Thời vừa qua”. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”… Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này chỉ mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất. Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” chỉ mang lại sự hận thù quá khứ thì nguy cơ sẽ đưa đến sự thù hận trong tương lai.

2. Chuyện nhà mình.

Chuyến đi này tôi gặp một số người Việt đang sinh sống tại Cộng hòa Sec. Là công nhân kỹ thuật, người xuất khẩu lao động, sinh viên, nghiên cứu sinh… họ đã ở đó trên dưới 20 năm. Những ngày xa nhà, gặp gỡ vài người trong số họ mang lại cho tôi những trải nghiệm mới, những sự thật khác với những gì tôi vẫn biết về họ.

Nếu chỉ nghe những câu chuyện “làm quà” về cộng đồng người Việt ở Đông Âu, như hàng năm chuyển về nước bao nhiêu kiều hối, “soái” nào có bao nhiêu tài sản, khu vực nào “đánh” hàng nào, chợ nào vừa bị cháy mà không tìm ra nguyên nhân, hung thủ, “đại gia” nào vừa bị trấn lột, thậm chí cả những mánh khóe buôn lậu lách luật trốn thuế…thì hình như hầu hết những người Việt đều làm ăn phi pháp, không có được thiện cảm của cộng đồng cư dân sở tại, càng không có sự “sang trọng” và vẻ “trí thức” của “xã hội văn minh”. Nhưng nếu tìm hiểu cuộc sống của họ từ sự quan tâm và chia sẻ thật sự bạn sẽ được biết về nhiều mảnh đời cơ cực nhưng đầy lòng tự trọng, có thể làm đủ mọi việc để sống nhưng không bán rẻ nhân cách. Một thời gian dài phải làm đủ nghề xoay đủ cách để có thể tồn tại trong xã hội có những biến động gay gắt, là dân “nhập cư” họ còn phải đối mặt với vô số khó khăn trong cuộc sống và công việc làm ăn, đối phó với sự kỳ thị của một số “người tây” và “người ta”. Có người từng thất bại, có người từng thành công… nhìn chung đến giờ cuộc sống tương đối ổn định, gia đình con cái nền nếp. Người thành đạt đóng góp cho xã hội bằng kết quả công việc của mình, người bình thường thì bằng những việc làm nhỏ bé và bình dị… thể hiện cụ thể ý thức cộng đồng nên phần đông họ được sự quý mến của cư dân và nể trọng của chính quyền nơi họ sống. Quả thật, trong xã hội nào cũng vậy, “học làm sang” không khó nhưng làm để cho người ta trọng thì khó hơn nhiều!

Và cứ vậy sau mỗi chuyến đi với những gì thu nhận được, tôi còn thấm thía hơn sự đúc kết của thiên hạ “một nửa sự thật không phải/ chưa phải là sự thật”.


(1) “Nhà khủng bố” ở Budapest (Hungary). Xem thêm: http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=380

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...