SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ
NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU – THỬ NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ NAM BỘ
1. Không gian văn hóa và ký ức lịch sử
Trong thời đại thông tin, những cuộc tranh luận trên
mạng xã hội bắt đầu và kết thúc với nhiều kiểu khác nhau. Có chuyện nhanh chóng
bùng lên rồi cũng nhanh chóng biến mất, hệt như bong bóng xà phòng phồng to rồi
vỡ tan. Cũng có chuyện sinh từ một chuyện rồi bùng to hơn thành một chuyện hoàn
toàn khác, như một đốm lửa từ tàn thuốc lá lại trở thành đám cháy rừng. Hết
chuyện này đến chuyện khác, mạng xã hội hay kéo người ta vào những cơn sôi sùng
sục… Để rồi khi câu chuyện đi qua, nhiều người nhận ra sự tham gia của mình như
góp vài giọt cát xây lâu đài trên bãi biển.
Tuy nhiên khi quan sát những “cơn sóng” ấy, đôi khi tôi
nhận ra vài điều thú vị. Có những cuộc tranh luận rồi sẽ chìm xuống rất nhanh, nhưng
điều còn đọng lại không phải là câu chuyện đang được viral, mà lại sự đánh thức
một ký ức nào đó, khó nắm bắt khó gọi tên, nhưng thực sự luôn ở trong tâm thức.
Chỉ cần một cái cớ là sẽ hiện diện rõ ràng. Với tôi, câu chuyện quanh vai diễn
Nam Phương Hoàng hậu trong bộ phim Hoàng hậu cuối cùng là một trường hợp
như vậy.
Điều tôi quan tâm không phải là tranh luận diễn viên có
phù hợp với nhân vật hay không, mà là những cách nhìn rất khác nhau về nhân vật lịch sử ấy. Có người ca ngợi,
có người phủ nhận; có người xem bà như biểu tượng của vẻ đẹp, học vấn và phẩm
giá, cũng có người nhìn bà bằng cái nhìn phê phán, thậm chí rất khắt khe, dành
cho giai đoạn cuối của triều Nguyễn, một giai đoạn có những biến động lớn lao,
thử thách sự chọn lựa của những người có một vai trò nhất định trong lịch sử. Điều đó
không riêng đối với Nam Phương Hoàng hậu. Nhưng bà lại là nhân vật chính trong
một bộ phim bỗng nhiên đình đám trên mạng xã hội. Vì vậy, theo tôi, nhiều người
đã nhìn nhận, khen ngợi hay đánh giá, phán xét bà bằng ký ức lịch sử của chính mình,
rộng hơn là của thế hệ mình, từ không gian văn hoá mình từng sinh ra và lớn
lên. Bởi vì, lịch sử bao
giờ cũng được ghi lại bằng tư liệu, nhưng ký ức lịch sử lại được nuôi dưỡng
bằng những câu chuyện trong một không gian văn hoá nhất định.
Có thể hình dung mối liên hệ từ không gian văn hoá đến
ký ức lịch sử của một cộng đồng.
Không gian văn hóa (các yếu tố tự nhiên và nhân văn) đã
tác động vào quá trình hình thành đời sống cộng đồng (kinh tế, văn hoá,
xã hội, chính trị…). Đó là dòng chính của lịch sử cộng đồng. Trải qua
thời gian được lắng đọng thành ký ức, bồi đắp và trao truyền cho nhiều
thế hệ. Những thế hệ tiếp nhận ký ức cũng là tiếp nhận ý nghĩa, giá trị văn
hoá của không gian. Từ đó không gian văn hoá lại tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc
cộng đồng, truyền thống lịch sử.
Như vậy, "không gian văn hóa" và "ký ức
lịch sử" thực chất là hai khái niệm không thể tách rời. Từ góc độ di sản
và nghiên cứu đô thị, có thể hiểu mối quan hệ này theo ba cấp độ: không gian
lưu giữ ký ức, không gian tạo ra ký ức và không gian tái tạo ký ức. Không
gian văn hoá có thể là một đô thị, có thể là một làng quê, rộng hơn là một vùng
miền. Nam bộ chính là một không gian văn hoá rộng lớn như vậy.
2. Không gian văn hóa Nam bộ
Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc biệt. Được coi là vùng
đất mới “thiên nhiên ưu đãi”, hệ thống sông nước chằng chịt tạo nên những mối
quan hệ giao lưu luôn rộng mở; từ đó phát triển giao thương và sớm hình thành
kinh tế thị trường. Nơi đây có nhiều cộng đồng cùng sinh sống và làm ăn, từ các
tộc người bản địa đến lưu dân khai khẩn, là nơi luôn có những làn sóng nhập cư
lớn và liên tục. Chính vì vậy quan hệ xã hội ít ràng buộc bởi cấu trúc làng xã
khép kín mà quan niệm “tứ hải giai huynh đệ”. Trong không gian ấy, con người
sống với nhau bằng sự nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải bằng tước vị
thấp cao. Do đó những giá trị luôn được cộng đồng đề cao là nghĩa tình, hào
sảng, trọng chữ tín, ai có khả năng thì ít nhiều đều giúp người khác. Câu
chuyện về ông Thủ Huồng dựng Nhà Bè trên sông Sài Gòn là một minh chứng.
Đến nửa đầu thế kỷ 20 Nam bộ là vùng đất của những con
sông mở ra biển lớn, của những thương cảng đông đúc, của những con tàu cập bến
từ khắp nơi trên thế giới. Ở đó, truyền thống và hiện đại gặp nhau mỗi ngày.
Những ngôi đình, ngôi chùa nằm không xa nhà thờ, trường học kiểu Pháp bên cạnh
dãy phố buôn bán của người Hoa. Đô thị Sài Gòn là nơi người tứ xứ hội tụ làm
ăn. Một xã hội đang chuyển mình, nơi con người sớm tiếp xúc với văn hoá phương
Tây nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nghĩa tình của miền đất mới. Trong bối cảnh ấy
xuất hiện một tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ xuất thân từ đại địa chủ, doanh nhân,
những người vừa lưu giữ truyền thống Á Đông trong gia đình và những mối quan hệ
xã hội, đồng thời tiếp thu tri thức kinh tế, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận văn
hoá phương Tây. Họ đã góp phần định hình diện mạo xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
20.
Ký ức cộng đồng luôn có cách lựa chọn rất riêng. Người
Nam Bộ vốn không có truyền thống thần tượng quyền lực, mà thường ghi nhớ rất
lâu những hình tượng “trọng nghĩa khinh tài”, “trọn tình trọn nghĩa”. Trong văn hóa Nam Bộ truyền thống,
sự giàu có ít khi tự nó trở thành đối tượng bị đố kỵ hay nghi ngờ mà điều cộng
đồng quan tâm hơn là người giàu ấy đã sống và ứng xử như thế nào. Vì vậy mà những
tên tuổi như Huyện Sĩ, Quách Đàm và nhiều người khác luôn được nhắc đến, không
phải vì sự giàu có mà vì những gì họ đóng góp cho xã hội: mở chợ, lập phố, xây
đình chùa, nhà thờ, làm cầu, đào kênh… sau này là nuôi giấu cán bộ cách mạng,
làm từ thiện, cứu trợ… Rất
nhiều gia đình Hoa, Việt, Minh Hương, địa chủ, thương nhân... đã góp phần như vậy.
Suốt hơn ba trăm năm khai phá Nam Bộ, hình ảnh
"phú hộ nghĩa hiệp", "điền chủ nhân hậu", "thương gia
yêu nước", "mạnh thường quân" xuất hiện khá nhiều trong ký ức địa
phương. Đương nhiên lịch sử cũng có những địa chủ bóc lột hay thương nhân chỉ
biết tư lợi. Nhưng điều đặc biệt là cộng đồng lưu giữ và truyền lại là những
người đã dùng của cải để tạo dựng lợi ích chung. Chính vì vậy, khi nhắc đến các
nhân vật giàu có trong lịch sử Nam Bộ, ký ức tập thể thường gắn họ với những việc
làm cụ thể cho cộng đồng hơn là chỉ với khối tài sản họ sở hữu. Không hay thù
ghét người giàu mà trọng người giàu tử tế. Có thể coi đó là một nét độc đáo của
văn hoá Nam bộ.
Có một đặc điểm thú vị ở người Nam Bộ, đó là họ kể lịch
sử bằng từng con người, nhớ nhân vật lịch sử hơn nhớ thứ thế triều đại. Bởi vì quá
trình hình thành người Nam bộ trên vùng đất Nam bộ diễn ra gần như trọn vẹn
trong thời Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Cùng với sự thờ phụng những vị thần
linh, những tiên hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sĩ, người Nam bộ luôn nhắc nhớ
những con người giàu tử tế, cống hiến tài sản cho cộng đồng, những người có học
mà khiên cung, cống hiến tri thức cho xã hội, những người sống có nhân có nghĩa
như hai nhận vật văn học được yêu thích nhất của người Nam bộ là Lục vân Tiên
và Kiều Nguyệt Nga. Họ không phải là những "anh hùng" nhưng mỗi người
đại diện cho một phẩm chất tốt đẹp mà cộng đồng trân trọng.
Mỗi con người hay mỗi nhân vật lịch sử, đều trở thành
một phần ký ức của một không gian văn hoá cụ thể. Cũng giống như một dòng sông,
một khu chợ hay một con đường cũ, có những con người chỉ cần được nhắc tên là cả
một bối cảnh lịch sử hiện lên. Đó cũng là một di sản của cộng đồng.
3. Nam Phương Hoàng Hậu trong ký ức văn hóa Nam bộ
Nam Phương Hoàng hậu là một nhân vật của lịch sử Việt
Nam hiện đại. Bà sinh ra ở Gò Công (theo một nghiên cứu mới là Gò Công thuộc Thủ
Đức, TPHCM ngày nay), lớn lên trong một gia đình Công giáo giàu có và có ảnh hưởng
ở Nam Kỳ, được giáo dục theo chương trình Pháp từ rất sớm, rồi trở thành hoàng
hậu duy nhất của triều Nguyễn, hoàng hậu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong
giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Cuộc đời của bà vừa thuộc về
triều đình Huế, vừa thuộc về đại gia đình ở Sài Gòn, lại vừa gắn với nước Pháp.
Nhưng nơi còn lưu giữ nhiều nhất ký ức và cảm xúc lịch sử về bà, theo tôi là
Sài Gòn/Nam Bộ. Vì vậy ký
ức cộng đồng đã "đọc" Nam Phương bằng hệ giá trị Nam Bộ, sự yêu mến
bà không hoàn toàn xuất phát từ lịch sử triều Nguyễn mà xuất phát từ ký ức văn
hóa Nam Bộ.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tiêu biểu và điển
hình của tầng lớp thượng lưu, địa chủ Nam bộ có nhiều đóng góp của cải vật chất
cho xã hội, Nam Phương là một trường hợp hội tụ nhiều yếu tố tưởng như đối lập
nhưng lại hoà hợp lạ lùng. Nếu bỏ qua chiếc vương miện, bà vẫn là hình mẫu của
một phụ nữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20: được dạy dỗ nghiêm khắc, giáo dục bài bản,
thông thạo ngoại ngữ, tự tin trong môi trường quốc tế và mang theo những giá
trị của gia đình, của đức tin và của phép ứng xử kết hợp nhuần nhuyễn Đông –
Tây. Chính điều ấy khiến nhiều người miền Nam cảm thấy gần gũi với bà hơn là
bởi địa vị Hoàng hậu cao sang.
Trong ký ức của nhiều gia đình Nam Bộ, đặc biệt là giới Công giáo hoặc tầng
lớp trung lưu cũ thường dành nhiều thiện cảm đối với Nam Phương Hoàng hậu. Người
ta ít kể về vị thế cung đình của bà mà thường kể về cô gái Gò Công học giỏi ở
Pháp, tiểu thư nhà giàu nhưng khiêm nhường, về người phụ nữ trọn đạo làm dâu xứ
Huế với những phép tắc nghiêm ngặt, về người vợ nền nã chưa từng gây chuyện
ghen tuông với ông chồng Hoàng đế đào hoa, về mẹ lặng lẽ nuôi dạy các con sau
khi cuộc hôn nhân tan vỡ, không tham gia chính trị, không viết hồi ký để công
kích ai, giữ được phẩm giá trong cuộc sống lưu vong…
Chiếc mũ miện chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời
bà. Điều còn lại trong ký ức nhiều người là hình ảnh một người phụ nữ bước qua
những đổi thay lớn của xã hội, của chính cuộc đời mình mà không để mình trở
thành trung tâm của những thị phi và ồn ào lịch sử. Có thể có chi tiết trong cuộc
đời bà cần được kiểm chứng bằng tư liệu. Nhưng điều đáng chú ý là việc chúng
được kể đi kể lại đã làm nên ký ức văn hóa của một cộng đồng. Mặt khác, Nam Phương Hoàng hậu trong
ký ức ấy dường như không chỉ được nhớ như một nhân vật của triều Nguyễn. Bà còn
được nhớ như một "người con của Nam Bộ". Nhắc đến bà, người ta nhớ Gò
Công, nhớ gia đình Huyện Sỹ, nhớ Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20, nhớ những
chuyến tàu vượt biển sang châu Âu, nhớ một thời mà Nam Bộ đang mở cửa với thế
giới bằng thương mại, giáo dục và những khát vọng hiện đại hóa.
Nếu nhìn rộng hơn, Nam Bộ đầu thế kỷ 20 đã sản sinh một
thế hệ phụ nữ rất đặc biệt. Họ không phải những "nữ anh hùng" theo
nghĩa truyền thống, nhưng họ là những người phụ nữ đầu tiên học trường Pháp, biết
ngoại ngữ, đi du học, điều hành
doanh nghiệp, làm báo, hoạt động xã hội, làm từ thiện, gìn giữ nền nếp gia
phong, xuất hiện trong không gian công cộng với tư cách xã hội bình đẳng với
nam giới. Nam Phương là một trong số họ. Cho nên, có thể điều khiến nhiều người
yêu quý bà không phải vì chiếc vương miện, mà vì bà đại diện cho hình ảnh người
phụ nữ Nam Bộ hiện đại: có học thức, có lòng tự trọng, biết ứng xử trong cả
không gian Á Đông lẫn phương Tây.
Có thể nhận thấy những cuộc tranh luận trên mạng xã hội về các nhân vật lịch sử đã thể hiện sự “va chạm” giữa những ký ức tập thể khác nhau. Mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi thế hệ, thậm chí mỗi gia đình đều mang theo một ký ức lịch sử riêng, những biểu tượng văn hoá khác nhau. Vì vậy, thái độ của từng người hay nhóm người hay một cộng đồng không chỉ phản ánh quan điểm đối với nhân vật lịch sử ấy, mà còn phản ánh ký ức văn hóa của chính họ và cộng đồng, phản ánh điều họ muốn gìn giữ là hệ giá trị của cộng đồng mình.
TP. Hồ Chí Minh 9.7.2026.
Bài viết ngắn gọn hơn trên Tạp chí Tia Sáng :
https://tiasang.com.vn/nam-phuong-hoang-hau-trong-ky-uc-van-hoa-nam-bo-5095949.html
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DI SẢN TỪ TẠP CHÍ DU LỊCH
SỐ BÁO CUỐI CÙNG - viết tặng DOANH NHÂN SÀI GÒN
Nguyễn thị Hậu
1.
Bạn nhắn, chị viết giúp một bài cho số báo cuối cùng nhé!
Tôi không bất ngờ với tin nhắn của bạn nhưng vẫn thấy ngậm ngùi! Ngồi viết cho
bạn một bài như suốt bao năm mà bây giờ bỗng trở nên khó khăn quá. Trên màn hình máy tính những con chữ vẫn lặng lẽ nằm đó như
bao lần trước. Thế nhưng tôi biết từ nay sẽ không còn những cuộc
điện thoại để trao đổi đề tài, không còn những tin nhắn nhắc deadline, không
còn cảm giác thấp thỏm chờ số báo mới phát hành để tìm tên mình trong những
trang giấy còn thơm mùi mực.
Làm cộng
tác viên mảng văn hóa cho một tờ báo về
kinh tế từ nhiều năm nay, với tôi là một mối duyên đặc biệt
nhưng không khác biệt! Các anh chị ở tòa soạn luôn gợi ý cho tôi những đề tài không chỉ kể một câu chuyện hay phản ánh một sự kiện, mà còn cố
gắng làm chiếc cầu nối giữa văn hóa và kinh tế.
Từ những hiện tượng xã hội, câu
chuyện văn hóa hàng ngày đến những công trình nghiên cứu mới
thường chỉ nằm
trên các tạp chí chuyên ngành, qua trang báo về
kinh tế đã
trở thành những gì gần gũi hơn với người đọc,
nhất là với tầng lớp doanh nhân mới ngày càng khao khát tri thức, ngày càng
mong muốn chuyển tải những giá trị văn hóa dân tộc vào các công trình, sản phẩm
của mình.
Tôi vẫn nhớ những lần được gặp gỡ bạn đọc và tòa soạn.
Các câu hỏi, các vấn đề được đặt ra cho thấy sự trăn trở về hiện tại và tương
lai của đất nước đều có trong suy nghĩ của mọi tầng lớp: từ những nhà nghiên
cứu đến doanh nhân, từ người nhà báo nổi tiếng đến độc giả bình thường... Tất
cả đều đồng ý với nhau rằng, văn hóa luôn là nền tảng của mọi sự phát triển!
Phát triển kinh tế nếu không dựa trên nền tảng văn hóa quốc gia và văn hóa thế
giới thì không trở thành một nền kinh tế nhân văn thực sự vì con người!
2.
Một bài
viết văn hóa trên một tờ báo chuyên về kinh tế thoạt nhìn có vẻ là “ngoại
biên”, nhưng thực ra lại có ý nghĩa rất lớn. Bởi kinh tế và văn hóa chưa bao
giờ là hai lĩnh vực tách rời nhau. Mọi hoạt động kinh tế cuối cùng đều hướng
tới con người, mà con người lại được hình thành bởi nền tảng văn hóa. Vì vậy, những bài viết của các chuyên gia văn hóa trên báo kinh
tế đem lại nhiều điều hữu ích.
Các con số
về tăng trưởng, đầu tư, xuất nhập khẩu hay hạ tầng chỉ phản ánh phần nổi của
một xã hội. Văn hóa cho thấy phần gốc rễ: cách con người sống, ứng xử, sáng tạo
và gìn giữ bản sắc. Một bài viết về bảo tàng, di sản, nghệ thuật công cộng hay
đời sống đô thị có thể giúp độc giả hiểu rằng phát triển không chỉ là xây thêm
cao ốc mà còn là làm giàu đời sống tinh thần. Như vậy, nó giúp người đọc
nhìn thấy chiều sâu của sự phát triển.
Ngày nay,
nhiều thành phố thành công không chỉ nhờ vốn đầu tư hay công nghiệp mà còn nhờ
tài sản văn hóa. Di sản, bảo tàng, lễ hội, kiến trúc, ký ức đô thị, thương hiệu
địa phương đều có thể trở thành nguồn lực cho du lịch, công nghiệp sáng tạo và
sức hấp dẫn đầu tư. Một bài viết về văn hóa trên báo kinh
tế giúp người đọc nhận ra những giá trị ấy dưới góc nhìn phát triển. Văn
hóa đã góp
phần mở rộng khái niệm về nguồn lực kinh tế.
Kinh tế có
thể tăng trưởng nhanh trong vài năm, nhưng văn hóa là thứ quyết định sức sống
của một cộng đồng trong nhiều thế hệ. Khi một tờ báo kinh tế dành không gian
cho văn hóa, điều đó cũng là lời nhắc rằng tăng trưởng không thể đánh đổi bằng
việc làm mất ký ức, bản sắc hay chất lượng sống. Văn hóa góp phần tạo ra và duy trì tư duy phát triển bền vững – quan điểm
và mục tiêu hiện nay của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
3.
Một tờ báo
kinh tế trước hết là người phản ánh, phân tích và thúc đẩy các chính sách phát
triển. Nhưng trong xã hội hiện đại, vai trò ấy không dừng lại ở việc đưa tin về
thị trường hay doanh nghiệp. Báo chí kinh tế còn là nơi kết nối giữa giới
quản lý, nhà đầu tư, doanh nghiệp và cộng đồng. Thông qua các bài viết, diễn
đàn, phản biện chính sách, tờ báo có thể góp phần tạo nên môi trường phát triển
minh bạch và hiệu quả hơn.
Đối với
văn hóa, vai trò của báo kinh tế có lẽ còn đặc biệt hơn. Bởi những tờ báo này
có khả năng chứng minh rằng văn hóa không phải là lĩnh vực “tiêu tiền” mà là
một dạng vốn xã hội đặc biệt và gần như vô tận! Một di sản được bảo
tồn tốt có thể tạo ra doanh thu du lịch; một không gian sáng tạo có thể thu hút
nhân tài; một thương hiệu đô thị giàu bản sắc có thể hấp dẫn nhà đầu tư. Khi
báo chí kinh tế kể những câu chuyện ấy, văn hóa được nhìn nhận như một động lực
phát triển chứ không chỉ là lĩnh vực cần bảo vệ.
Ở những đô
thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, vai trò này càng quan trọng. Thành phố đang
hướng tới các ngành kinh tế tri thức, công nghiệp sáng tạo và dịch vụ chất
lượng cao. Muốn vậy, không thể chỉ xây dựng hạ tầng vật chất mà còn phải nuôi
dưỡng môi trường văn hóa. Một tờ báo kinh tế có tầm nhìn sẽ góp phần định hình
nhận thức xã hội rằng năng lực cạnh tranh của thành phố không chỉ nằm ở vốn,
đất đai hay công nghệ, mà còn nằm ở ký ức đô thị, di sản, sự sáng tạo và chất
lượng đời sống tinh thần.
Có thể
nói, khi một tờ báo kinh tế đăng tải những bài viết văn hóa chất lượng, đó
không phải là sự "lấn sân" sang lĩnh vực khác. Ngược lại, đó là biểu
hiện của một cách nhìn toàn diện về phát triển. Bởi đích đến của kinh tế không
phải là những con số, mà là một xã hội giàu có cả về vật chất lẫn tinh thần. Và
trong hành trình ấy, báo chí chính là cây cầu nối giữa tăng trưởng và văn hóa,
giữa hiện tại và tương lai.
Một tờ báo có thể khép lại hành trình của mình, nhưng những giá trị mà nó để lại sẽ còn tiếp tục sống trong lòng bạn đọc, trong ký ức của những người cầm bút và trong những hạt giống tri thức đã được gieo đi qua năm tháng. Với riêng tôi, điều đáng nhớ nhất không phải là đã viết được bao nhiêu bài, mà là đã có cơ hội cùng tờ báo góp phần đưa những giá trị văn hóa đi vào cuộc sống.
TP. Hồ Chí Minh
tháng 6.2026
BẢO TÀNG TRONG MỘT THÀNH PHỐ ĐANG LỚN LÊN
https://tcdulichtphcm.vn/suy-ngam/bao-tang-trong-mot-thanh-pho-dang-lon-len-c8a114280.html
Nguyễn Thị Hậu
1.
Một buổi sáng cuối
tuần, tôi gặp một nhóm sinh viên đứng trước cổng một Bảo tàng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Thấy các em đang tranh
luận nên vào bảo tàng nào để tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn, bất chợt tôi tự hỏi, nếu có một người bạn mới đến
thành phố, tôi sẽ giới thiệu cho bạn đi xem bảo tàng nào để có thể hình dung
tương đối đầy đủ hành trình lịch sử và văn hóa của thành phố? Câu hỏi tưởng đơn
giản nhưng hóa ra không dễ trả lời.
TP.HCM hiện có một hệ thống bảo tàng đa dạng và
phong phú, bao gồm 9 Bảo tàng công lập thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP. Một số
bảo tàng thuộc sự quản lý của một số ngành khác, một số Di tích lịch sử có thể
coi là bảo tàng tại chỗ như Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi, Di tích khảo cổ Giồng
Cá Vồ... Ngoài ra còn có các bảo tàng ngoài công lập như Bảo tàng Y học, Bảo
tàng áo dài, Bảo tàng Phở, Bảo tàng vũ khí cổ, Bảo tàng gốm sứ Minh
Long...
Tuy nhiên, nếu muốn biết về khảo cổ học, có một
nơi. Muốn tìm hiểu về cuộc kháng chiến, có một nơi khác. Muốn biết về phụ nữ
Nam bộ, về mỹ thuật hay áo dài, lại phải đến những địa chỉ khác nữa... Chưa kể hiện nay khi mở rộng không
gian gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM không còn được nhìn nhận đơn
thuần như một đô thị trung tâm mà đang dần mang dáng dấp của một "siêu đô
thị" với nhiều cực phát triển. Vậy làm thế nào để người dân và du khách có thể tìm hiểu về một “siêu đô
thị” khi mà các bảo tàng còn phân tán về không gian và thiếu tính kết nối,
vẫn vận hành theo mô hình truyền thống “khép kín”, thiên về trưng bày hiện vật
hơn là kể chuyện và diễn giải hiện vật, dẫn đến sự rời rạc trong cách tái hiện
lịch sử và mờ nhạt về văn hóa thành phố?
2.
Bảo tàng không chỉ
là nơi cất giữ hiện vật. Điều công chúng tìm kiếm khi bước vào bảo tàng hôm nay
là những câu chuyện. Họ muốn hiểu vì sao một hiện vật tồn tại, nó liên quan gì
đến cuộc đời của những con người đã sống trên mảnh đất này và nó còn có ý nghĩa
gì đối với hiện tại. Đó cũng là lý do nhiều bảo tàng trên thế giới đang thay đổi cách tiếp
cận. Họ không còn xem bảo tàng là một tòa nhà khép kín mà là một phần của đời
sống đô thị. Những khu phố cũ, bến cảng, chợ truyền thống, làng nghề hay không
gian cộng đồng đều có thể trở thành những "phòng trưng bày" mở rộng
của thành phố.
Sài Gòn vốn có lợi
thế đặc biệt để làm điều đó. Ít nơi nào có một hệ thống ký ức đô thị phong phú như thành phố này. Từ
những con hẻm cũ ở Chợ Lớn, các khu cư xá hình thành từ giữa thế kỷ XX, những
làng nghề ven sông cho đến các khu công nghiệp hiện đại ở Bình Dương hay không
gian biển của Vũng Tàu, tất cả đều kể những câu chuyện khác nhau về quá trình
hình thành và phát triển của một vùng đất năng động nhất cả nước. Hiện nay người xem có thể đến nhiều bảo tàng nhưng vẫn khó nhìn thấy bức tranh toàn
cảnh của thành phố. Mỗi nơi kể một phần lịch sử, nhưng thiếu một sợi dây kết
nối để từ những mảnh ghép riêng lẻ ấy hiện lên diện mạo chung của siêu đô thị mang tên TPHCM.
Có lẽ đã đến lúc
nghĩ về hệ thống bảo tàng như một mạng lưới thay vì những địa chỉ độc lập. Trong mạng lưới ấy, TP.HCM sẽ là nơi
kể câu chuyện trung tâm về bản sắc đô thị; Bình Dương có thể kể câu chuyện công
nghiệp hóa và các làng nghề; Bà Rịa - Vũng Tàu kể về biển, cảng thị và những
cuộc giao lưu quốc tế. Mỗi địa phương giữ một phần ký ức riêng nhưng cùng góp
vào một câu chuyện lớn hơn về vùng đất Đông Nam bộ đang chuyển mình mạnh mẽ. Và khi đó, bảo tàng sẽ không còn chỉ
nằm sau những cánh cửa trưng bày.
Chợ Bến Thành, Chợ
Bình Tây, những khu phố cổ, những xóm nghề ven sông hay các không gian sinh hoạt
cộng đồng cũng có thể trở thành những "bảo tàng sống" của thành phố.
Ở đó, di sản không nằm trong tủ kính mà hiện diện trong nhịp sống hàng ngày của
cư dân.
Từ đời sống hình thành các bảo tàng chuyên đề (Thematic
Museums) được tổ chức theo các trục nội dung riêng biệt như nghệ thuật, chiến
tranh, di cư, hay kinh tế đô thị... Mỗi bảo tàng tập trung vào một trọng tâm để tránh trùng lặp và tạo chiều sâu
trong diễn giải các hiện vật và
sự kiện lịch sử.
Đặc biệt, trong thời đại số thì một Bảo tàng số (Digital
Layer) là cực kỳ quan trọng. Nó đóng vai trò kết nối toàn bộ hệ sinh thái thông
qua bản đồ di sản, công nghệ thực tế ảo (AR/VR) và cơ sở dữ liệu mở. Đây không
chỉ là công cụ hỗ trợ mà là một lớp hạ tầng thiết yếu, cho phép mở rộng trải
nghiệm và tiếp cận công chúng mới.
3.
Cuối cùng nhóm các em sinh viên vẫn vào tham quan
bảo tàng đó và cùng hẹn nhau tuần tới sẽ đi đến các bảo tàng khác. Tôi rất mừng
vì các em không “bỏ cuộc” trong hành trình tìm về quá khứ của nơi các em được
sinh ra và lớn lên. Với một lớp trẻ ham hiểu biết như vậy, bảo tàng càng cần
trở thành một thiết chế văn hóa có trách nhiệm cao hơn với thế hệ tương lai.
Tôi nhớ những chuyến đi của tôi đến nhiều thành phố
trên thế giới. Đến đâu tôi cũng tham quan các bảo tàng, bởi vì một thành phố lớn là nơi có nhiều
bảo tàng mang lại cho người dân và du khách những hiểu biết về lịch sử - văn
hóa của thành phố và của quốc gia. Đến với bảo tàng không chỉ để được biết về quá khứ,
mà còn có thể hiểu thành phố đó đang và sẽ phát triển như thế nào.
Trong cách hiểu truyền thống bảo tàng như một thiết
chế độc lập gắn với một tòa nhà và bộ sưu tập hiện vật cụ thể. Ngày nay trong
bối cảnh đô thị hiện đại các thiết chế này dần bộc lộ những giới hạn. Xu hướng chuyển
từ mô hình “bảo tàng như thiết chế” sang “mạng lưới bảo tàng”, trong đó bảo
tàng là nơi lưu giữ và trưng bày hiện vật, đồng thời giữ vai trò kết nối giữa
không gian xã hội, cộng đồng và công nghệ. Việc phát huy giá trị
di sản thông qua hệ thống bảo tàng đòi hỏi một cách tiếp cận mới, vượt ra khỏi
khuôn khổ hành chính và hướng tới mô hình hệ sinh thái đa trung tâm, thích ứng với thực trạng của TP HCM hôm nay và
trong tương lai.
“ĐÔ THỊ ĐẶC BIỆT” CỦA TÔI
https://nld.com.vn/cuoc-thi-toi-yeu-thanh-pho-cua-toi-do-thi-dac-biet-cua-toi-196260530013435507.htm
Nguyễn Thị Hậu
Những ngày tháng Năm năm 2026, khi Nghị
quyết 09/2026 về xây dựng và phát triển TP HCM trong kỷ nguyên mới của Bộ
Chính trị, Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt được nhắc
đến trên các diễn đàn, người ta nói nhiều về cơ chế, về phân quyền, về kinh tế
đêm, về không gian ngầm, về những “động lực tăng trưởng mới”. Nhưng phía sau
những thuật ngữ quản trị ấy, điều khiến tôi nghĩ nhiều hơn lại là một câu hỏi
rất giản dị: thành phố này rồi sẽ trở thành nơi như thế nào cho những thế hệ
mai sau?
Từ những
ngày đầu tiên tôi đến thành phố này – với tư cách “trở về quê hương, Sài Gòn đã
mang lại cho tôi cảm giác gần gũi, thân quen mà không xô bồ, có khoảng cách mà
không hờ hững. Thành phố
hiện diện không bằng
những tòa cao ốc hay những đại lộ sáng đèn tấp nập ngày đêm, mà đó là một
thành phố của những nụ cười. Nụ cười từ tiếng rao khuya khi người bán gặp người mua, nụ cười bên bến sông đông đúc khi lỡ
va chạm vào nhau, nụ cười
trong quán cà phê khi bất
chợt nhìn thấy một người quen, hay nụ cười trao nhau khi nghe câu nói người qua đường nhắc bạn
“gạt chân chống xe”. Những nụ cười ấy luôn đi cùng ánh mắt thân thiện của những người luôn tin rằng nơi này
cho họ một cuộc sống và cơ hội để bắt đầu những điều mới mẻ.
Quả
thật, đây là một “đô thị đặc biệt”! Đặc biệt không chỉ ở sự phát triển kinh tế
bất chấp nhiều rào cản từ bên ngoài và từ chính bản thân mình, mà sự đặc biệt
nhất nằm ở một không gian tinh thần cởi mở, dung hòa mọi số phận và chia đều
mọi cơ hội, miễn là bạn sống tử tế với nơi này! Điều đó đã tạo nên những lớp
“ký ức đô thị” nặng dày qua nhiều thế hệ, kết nối tính đa dạng văn hóa, năng
lực sáng tạo xã hội và sự gắn kết cộng đồng. Đó là một không gian sống đầy nhân
văn giữa thời đại mà người ta thường đo sự phát triển bằng tốc độ xây dựng và
những con số GDP. Sự phát triển của thành phố mang lại một suy nghĩ, một đô thị đặc biệt không chỉ được
tạo nên bởi quy mô kinh tế hay hạ tầng hiện đại, mà đầu tiên phải từ
những con người đặc biệt!
Năm 1986
bắt đầu thoát khỏi “thời bao cấp”, bốn mươi năm qua thành phố đã luôn chuyển động nhanh như thể sợ mình bị bỏ lại phía sau trong
tiến trình hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu. Sự thay đổi là tất yếu của một đô thị đang lớn lên.
Nhưng nếu một ngày nào đó, thành phố chỉ còn những con đường giống nhau, những
khu phố giống nhau, những dòng sông giống nhau, cả đến những ký ức cũng như một
lớp “đồng phục” thì liệu
người ta còn nhận ra, còn nhớ rằng đây là “thành phố của tôi”?
Điều lo
ngại này không phải là lo xa! Vì thế mà việc kiên trì đề xuất bảo vệ “không gian ký ức đô thị” như gìn giữ chợ truyền thống, cảnh quan
sông nước, hay những không gian cư trú cộng đồng... trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một thành phố có thể
tồn tại bằng bê tông và kính thép, nhưng nó chỉ thật sự sống bằng ký ức của người dân về nơi
ấy.
Điều làm tôi hy vọng ở Nghị quyết 09 và Luật
Đô thị đặc biệt không
chỉ là những chính sách vượt trội dành cho TP.HCM, mà là tinh thần dám nghĩ khác về hiện tại
và tương lai của thành
phố. Một thành phố được
dựng lên không chỉ từ các nhà quy hoạch, mà còn bởi những con người đến từ mọi miền
đất nước, tham gia vào “thị trường lao động” đa dạng nhiều tầng lớp. Họ góp
phần tạo nên sức sống mãnh liệt của thành phố nhưng cũng tự nuôi dưỡng giấc mơ mang theo từ mọi miền quê. Một đô thị đặc biệt thật sự không chỉ là nơi giàu có, mà phải là nơi con người cảm thấy mình thuộc
về, khi họ có thể thực hiện giấc mơ của họ, dù bình dị nhất.
Tôi thích hình dung về tương lai
thành phố như một dòng sông. Dòng sông ấy luôn trôi chảy nhưng cũng không rời xa nguồn cội. Những tuyến metro mới sẽ
chạy qua lòng đất, nhưng phía trên vẫn còn những hàng cây cổ thụ. Những khu
kinh tế đêm sẽ rực rỡ ánh sáng, nhưng không biến thành những bản sao vô hồn của
bất kỳ đô thị nào khác. Những công trình mới sẽ mọc lên, nhưng vẫn nhường chỗ
cho tiếng đàn trong các không gian nghệ thuật nhỏ, cho những quán ăn gia truyền
còn giữ hương vị cũ, cho những khu chợ nơi người ta vẫn gọi nhau bằng cái tình
Nam Bộ chân chất.
Tất cả
những điều đó chính là nguồn vốn xã hội vô tận, cần được xem như một dạng hạ tầng mềm của đô
thị. Hạ tầng giao thông giúp người ta đi nhanh hơn, nhưng chính sự tử tế và gắn
kết cộng đồng mới khiến con người muốn ở lại lâu hơn. Truyền thống của
thành phố này là luôn mở lòng với người đến sau, nó khiến một người miền Trung, miền
Bắc hay miền Tây, sau vài năm sinh sống, đều có thể nói một câu rất tự nhiên “tui là
người Sài Gòn”, bởi vì
họ đã được tiếp nối ký ức của những người ở đây, những người đến trước!
Những chính sách hôm nay đang tạo nên các điều luật cho một đô thị đặc
biệt về mặt cơ học.
Nhưng sâu xa hơn, các điều luật ấy cần góp phần trả lời câu hỏi: con cháu
chúng ta sẽ sống trong một thành phố như thế nào? Một nơi chỉ đầy những khối bê
tông lạnh lẽo, nơi con người đến kiếm sống rồi ra đi? Hay một nơi mà giữa nhịp sống hiện đại hối hả, người ta vẫn được trở về một
mái nhà ấm áp tình người, một không gian bình yên của một đô thị có bề dày lịch
sử?
Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục lớn lên. Không chỉ cao hơn, rộng hơn, giàu hơn, mà còn sâu hơn trong bản sắc và nhân văn hơn trong sự phát triển. Thành phố ấy rồi sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân của công nghệ và kinh tế, nhưng trái tim vẫn luôn ấm áp bởi được nuôi dưỡng từ ký ức và nghĩa tình của những thế hệ cư dân thành phố.
Hình ảnh: NAG Minh Hòa: Công viên số 1 Lý Thái Tổ - một giọt
nước nghĩa tình cho ký ức thành phố
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...