Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn Đàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn Đàn. Hiển thị tất cả bài đăng

TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng  ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.
Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés. Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.
Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố, có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.
Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.
Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remy trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Barberin, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

TÂM LINH VÀ TÂM AN



Nguyễn Thị Hậu

Mùa lễ hội  
Không biết từ bao giờ khoảng thời gian sau Tết âm lịch – tháng giêng kéo dài qua hết tháng hai, tháng ba thậm chí qua tới tháng tư – được gọi là ‘mùa lễ hội”?
“Mùa lễ hội” tương đương thời gian của một vụ mùa nên cũng có sự co giãn về thời gian theo cơ cấu thời gian nông nghiệp, nông thôn. Lễ hội diễn ra liên tục về thời gian  từ lúc nông nhàn sau Tết âm lịch đến đầu mùa mưa bước vào thời vụ mới. Lễ hội diễn ra liên tục trong không gian: từ làng này qua làng khác, lễ hội liên làng, lễ hội của một vùng… chủ thể của lễ hội là cộng đồng của một làng, của một vùng. Nhiều lễ hội nổi tiếng không phải vì có đông người từ xa về tham dự hay vì có các quan về chủ trì, mà vì sự độc đáo của phần Hội, ở ý nghĩa nhân văn của phần Lễ. Chính vì vậy được cộng đồng chủ thể của lễ hội gìn giữ, không làm biến chất, biến dạng vì hiểu giá trị của lễ hội làng, vùng mình chính là sự khác biệt, độc đáo.

Từ khoảng mươi năm nay lễ hội bỗng dưng nở rộ dồn dập vào sau Tết, khi mà cơ cấu thời gian hiện nay của xã hội đã là thời gian công nghiệp và đô thị - giờ hành chính. Hơn 800 lễ hội cấp quốc gia và cấp tỉnh (chưa tính những lễ hội chưa được thống kê) diễn ra trong khoảng  ba tháng, tức là một phần tư của một năm, lại là quý đầu năm, thời điểm cần phải bắt đầu, khởi động kế hoạch của một năm mới. Thử thống kê số lượng người đến các lễ hội này bao nhiêu phần trăm là công chức, viên chức nhà nước? Chắc chắn tỷ lệ không nhỏ, bởi vì, ngoài việc đi lễ hội để thỏa mãn tâm lý “cầu cạnh” các vị thánh thần ban cho tài lộc chức tước thì việc công chức viên chức nghỉ việc đi lễ hội có bị trừ mất đồng lương nào đâu (và thu nhập thêm, nếu có), thậm chí còn “trốn” được nhiều việc mà… không làm cũng chẳng ai chết (“dân có cần nhưng quan chưa vội” – ca dao mới).

Chưa nói đến những giá trị đích thực của lễ hội còn hay mất, chưa nói đến hình thức lễ hội còn là truyền thống hay không… chỉ cần nhìn hiện tượng các địa phương đua nhau “nâng cấp” lễ hội cả về quy mô và hình thức, có thể nhận biết mục đích chính của hiện tượng lễ hội tổ chức tràn lan đến mức không kiểm soát được, như thừa nhận của ngành Văn hóa: Thực chất ở rất nhiều lễ hội đó là sự thương mại hóa. Không thể phủ nhận, khi Lễ hội trở thành một sản phẩm văn hóa thì mục đích thương mại không thể không đặt ra, nhưng mục đích thương mại phải đặt sau, đặt dưới mục đích bảo tồn giá trị văn hóa của lễ hội, tức là bảo tồn di sản văn hóa cho đời sau, bên cạnh việc quảng bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam đến thế giới.
Việc các phương tiện thông tin và ngành du lịch đua nhau quảng bá rầm rộ về “mùa lễ hội” cũng góp phần kích thích tâm lý “lễ hội” của người dân và xu hướng thương mại hóa các lễ hội.

Quá khứ nào đang trở lại?
Từ năm 2010 nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã chỉ ra, Lễ khai ấn đền Trần và nhiều lễ hội khác hiện nay phục hồi lại không còn giữ đúng về hình thức và nội dung đã được lưu truyền hay ghi chép trong sử sách.Thế nhưng vì sao mỗi năm lại mỗi phát triển hòanh tráng, lãng phí thời giờ tiền bạc công sức của xã hội, biến chất về ý nghĩa mang nặng yếu tố tiêu cực hơn?

Hiện nay tâm lý truyền thống "tháng Giêng là tháng ăn chơi" sống lại và phát triển nhờ hàng lọat lễ hội mở ra với mật độ dày đặc trong một thời gian không dài, quy mô tổ chức ngày càng lớn ngòai phạm vi làng xã. Hầu hết lễ hội đều do các cấp chính quyền nhà nước tổ chức và cử hành nên phần Nghi lễ (trước đây trang nghiêm, giản dị, vừa phải) thì nay trở thành phần chính được cử hành hoành tráng, biến ý nghĩa của Nghi lễ dân gian truyền thống thành sự thể hiện và đáp ứng những nhu cầu “chính thống” của xã hội hiện đại. Do đó không lạ khi Lễ Khai Ấn đền Trần được nhiều người coi là lễ cầu xin thăng quan tiến chức! Đây là tâm lý của một bộ phận không nhỏ của công chức nhà nước nên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý xã hội nói chung.

Người xưa nói “ấn tín” là để chỉ đạo đức, trách nhiệm của người giữ ấn. Nhưng nay những “công bộc của dân” mấy ai quan tâm đến việc tạo dựng và gìn giữ uy tín đạo đức? Mặt khác, việc các công chức nhà nước bỏ nhiệm sở đổ xô đi lễ Khai Ấn và nhiều lễ hội khác, cho thấy mặc dù chúng ta luôn nói đến Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nhưng không biết đến bao giờ tác phong văn minh công nghiệp mới trở thành nếp sống của toàn xã hội?
Cũng vậy, những lễ hội có những hành vi chém giết động vật, tranh cướp “lộc thánh”… nếu trước đây là biểu trưng văn hóa của một làng xã nhỏ hẹp thì nay lại mang tính thực dụng của cả xã hội. Không thể không nhận thấy sự phổ biến của việc nhúng tiền vào máu động vật bị giết hay rải tiền lẻ ở đền, chùa để cầu may, việc để cho con trẻ chứng kiến, người lớn thì reo hò nhìn con vật chết dần một cách bất nhẫn trong lễ hội và thực trạng xã hội: những hành vi “buôn thần bán thánh” coi thường đạo đức luật pháp, dửng dung, trơ lỳ cảm xúc trước bất công, trước hành vi bạo lực của con người với con người, như những vụ “mất chó giết người đền mạng”, cô bảo mẫu đáng trẻ nhỏ, thanh niên nam nữ đánh người già cả… xảy ra ngày càng nhiều.

Việc tiếp tục tổ chức rầm rộ những lễ hội với hàng trăm ngàn người dân ùn ùn kéo đến làm cho ý nghĩa của lễ hội ngày càng biến dạng, thực chất nó chỉ phản ánh thực trạng xã hội hiện nay. Đó là:
1/ Các lễ hội truyền thống không còn giá trị đích thực, chúng ta sẽ làm mất di sản văn hóa của chính chúng ta.
2/ Các giá trị tinh thần tốt đẹp của truyền thống mất đi, con người sẽ phải tìm đến và tin vào những giá trị “ảo”, dần dần sẽ làm băng họai xã hội!
Và 3/ Nhà nước không thể quản lý được các lễ hội nếu cứ tổ chức tràn lan và tùy tiện như vậy, những tệ nạn đã xuất hiện trong các lễ hội sẽ rất khó bị dẹp bỏ, chưa kể nó sẽ biến tướng và xuất hiện thêm những tệ nạn mới.

Mỗi thời đại có hệ giá trị của thời đại mình, nhất là những giá trị văn hóa. Có nên làm “sống dậy” một vài giá trị văn hóa của quá khứ nhưng không còn hợp thời, thậm chí “giá trị” ấy còn dung dưỡng khuyến khích những hành vi tâm lý xấu trong xã hội hiện này?
Quá khứ phải là nguồn mạch trong lành để nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện tại và tương lai, chúng ta không thể biến quá khứ thành “ao tù nước đọng” chứa đựng thêm những rác rưởi ngày nay, bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu chứ không phải sống trong một cái làng tù túng ngày xưa.

Lên đường để đến tâm an
Mùa xuân cũng là mùa lễ hội. Phong tục tổ chức lễ hội vào thời gian “nông nhàn” khiến cho trong Nam ngoài Bắc khắp đình, chùa, đền, miếu... tấp nập người đi lễ. Ngày xưa lễ hội những ngày này, dù vào “tháng Giêng ăn chơi” nhưng không nặng tính thực dụng mà chủ yếu để giải trí, du xuân gặp gỡ mọi người và thăm viếng nơi danh lam thắng cảnh. Những lời khấn cầu đầu năm ngoài sự mong muốn những điều may mắn tốt lành còn nhằm bày tỏ lòng thành tâm thiện với Thần, Phật.

Trải qua mấy chục năm chiến tranh, ở miền Bắc nhiều phong tục tập quán liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo bị xóa bỏ vì coi là “mê tín dị đoan”. Nhưng sau chiến tranh, nhất là từ khi “đổi mới” về kinh tế, trong xã hội “làm giàu” trở thành mục tiêu của nhiều người thì nhiều tục lệ đã phục hồi và ngày càng phát triển theo hướng thực dụng.
Điều đáng nói là việc cầu xin tài lộc chức tước lan tràn mọi lúc mọi nơi, đến mức không thể kiểm soát! Bây giờ vào ngày lễ tết đền chùa nào cũng mù mịt khói nhang tràn ngập đồ lễ vàng mã tiền lẻ rải như rác... Người ta cho rằng lễ càng “hoành tráng” thì thần, phật càng chứng giám phù hộ, cơ may như những hợp đồng làm ăn béo bở, chức tước danh vị sẽ vào tay mình, tránh được những rủi ro thậm chí nếu vi phạm luật pháp sẽ không bị phát hiện và được bao che khỏi sự trừng trị của cơ quan chức năng...

Từ đó đã nảy sinh hiện tượng “buôn thần bán thánh”, “mua chuộc thần phật”, “kinh doanh tâm linh”... Phục vụ cho nhu cầu này nên chùa chiền được trùng tu, xây mới tràn lan, ngày càng hoành tráng, truyền thông rầm rộ về những ngôi chùa xác lập một “kỷ lục” nào đó về quy mô kiến trúc trang trí, sự có mặt của các vị quan chức thăm viếng cúng dường, tổ chức lễ hội cấp quốc gia... Chùa càng to càng “giàu có” thì càng đông “tín đồ”, tiếng đồn “linh nghiệm” càng nhiều. Người ta ồ ạt theo những tour “du lịch tâm linh” vội vã chạy từ chùa này sang chùa khác cho đủ mấy “kiểng chùa” mà không có nơi nào đủ thời gian mà lắng lòng thanh tịnh.

Trong khi đó ở đâu cũng có chùa làng. Những ngôi chùa đơn sơ giản dị, gần gũi với dân cư trong vùng, nhiều chùa nuôi trẻ mồ côi người già cơ nhỡ... nhưng ít người thăm viếng, thỉnh thoảng có người “từ thiện” đến giúp đỡ chút đỉnh. “Phật tại tâm” sao còn phân biệt chùa giàu chùa nghèo, phân biệt chùa lớn chùa nhỏ? Sự phân hóa “đẳng cấp” một cách sâu sắc không chỉ có ngoài xã hội mà đã hiện diện trong các ngôi chùa phản ánh nhu cầu tâm linh đã bị tâm lý “thực dụng” lấn át. Xưa trong truyện cổ tích khi khó khăn người ta thường cầu xin ông Bụt giúp đỡ, nay lại coi Phật như ông Bụt vạn năng có thể giúp cô Tấm trở thành hoàng hậu hay giúp anh nông dân có cây tre trăm đốt để trả thù phú ông nên người ta lên chùa cầu xin không thiếu thứ gì... Và phải chăng vì quan niệm “Bụt chùa nhà không thiêng” nên hay phải đi cầu Phật chùa xa cho “linh”?

          Nhiều người đã biết rằng, đi lễ chùa đầu năm hay vào ngày rằm, mùng một hàng tháng là để tỏ lòng thành kính với Đức Phật, con người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát lợi lộc vật chất cho mình mà tìm đến giáo lý Phật Giáo để giác ngộ, xuất phát từ bản thân làm việc thiện “tu nhân tích đức”... Trong xã hội ai cũng hướng thiện và làm việc đức thì ngày càng có nhiều điều tốt đẹp cho tất cả mọi người, trong đó có mỗi người. Đó là tâm thức cần có khi đến với các tôn giáo trong đó có Phật giáo.

Mùa lễ hội nào cũng kết thúc, mọi người lại trở về với công việc và sinh hoạt thường ngày. Nhưng điều quan trọng là sau mỗi lần lên chùa vào đền thành kính khấn vái, chúng ta có hành xử tử tế, làm ăn lương thiện và chăm chỉ hơn không, bởi vì nói cho cùng, lười biếng thì không Thần nào cứu giúp, ác tâm thì không Phật nào độ trì... Có tâm có đức thì mới có linh. Vô tâm thất đức thì dù có cầu cúng đến đâu cũng không thể mang lại sự bình an trong tâm hồn. Tâm bất an là nguyên nhân mọi sự bất ổn của cá nhân và xã hội.


Kết quả hình ảnh cho lễ hội lộn xộn

KHÔNG GIAN THÀNH PHỐ


Không gian nào để thở
Nhà tôi ở trong một hẻm nhỏ. Phía ngoài là một con đường lớn nối trung tâm với ngoại ô lúc nào cũng ồn ào xe cộ, ngay cả nửa đêm thì vẫn có những chuyến xe chở rau trái tươi non từ các trang trại vùng ven đi vào các chợ trong thành phố. Vậy nhưng hẻm nhỏ luôn giữ được sự yên tĩnh hiếm có, là nhờ hẻm cụt, chỉ có người ở trong hẻm ngày đi làm hai lần ra vào mà thôi.
Khoảng chục năm trước trong hẻm chỉ có mấy villa ẩn khuất sau những tàng cây xanh rậm rạp. Có xoài có mít, có chuối có vú sữa… mỗi nhà vài cây nhưng lúc nào cũng mát rượi, bước chân vô hẻm như bước vào một không gian nào khác không phải là một thành phố ồn ào bụi bặm ngoài kia. Vài năm gần đây mới có thêm nhiều ngôi nhà xây kiểu nhà phố, con cái lớn lên dựng vợ gả chồng, xây nhà trong đất vườn nhà cha mẹ, nhiều nhà bán “đất nền” cho người nơi khác đến mua… dân cư trong hẻm đông dần. Hẻm đất được đổ bê tông rộng rãi hẳn, chiều chiều trẻ em đá bóng, cầu lông, thậm chí buổi tối mấy bà mấy chị còn đi vòng vòng tập thể dục nữa. Nhà nhiều hơn mái ngói mái bằng nhà lầu nhà trệt, đất “vườn” ít hơn nhưng màu xanh cây lá lại nhiều lên. Nhà nào cũng trồng vài cây bông giấy, dàn dây leo, mấy giỏ lan. Ai cũng giữ gìn không gian yên tĩnh sạch sẽ, nhờ vậy dù người đông hơn nhiều nhưng hẻm vẫn yên bình, người ra vào gật đầu chào nhau thân thiết...
Mỗi buổi sáng nhìn qua nhà bên thấy trên cây vú sữa có vài chú sóc đuôi xù chạy thoăn thoắt theo mớ dây điện chăng ngang qua cây dừa phía bên kia vườn. Hương ngọc lan tràn vào từ khung cửa sổ, mấy chú chim sẻ tròn quay nhảy lích chích dưới sân… Thiên nhiên sinh động hẳn lên với sự hiện diện của những sinh vật bé nhỏ và mùi hương trong lành. Không gian sống của con người nếu thiếu vắng thiên nhiên thì có còn đáng sống?
Thế nhưng chỉ cần bước ra khỏi hẻm thôi là đã thấy vắng hẳn bóng dáng thiên nhiên. Đường lớn mà luôn chật chội bởi xe cộ lúc nào cũng như nước tràn bờ, nhà cửa chen chúc bảng hiệu, hàng hóa bán buôn. Lề đường mới được mở rộng nhưng hàng cây cổ thụ đã bị chặt hết để… trồng lại những cây chỉ cao hơn đầu người còn chằng chống xung quanh. Giữa cái nắng cái gió cái bụi và có lẽ cả cái ồn ào, thấy thương những cây non phải trân mình chịu đựng.
Nhà cao tầng san sát biến đường thành “hẻm”, trước sau chỉ thấy tường kính bê tông, muốn nhìn xa hơn chỉ còn cách ngước lên mảnh trời xanh cao tít trên kia. Vậy nhưng cả tháng nay tầm nhìn lên trời cũng bị che nốt bởi hàng trăm dây trang trí chăng ngang đường, đèn nhấp nháy với những bông hoa mai bằng nhựa to như cái mâm, nặng nề đè bẹp cả dòng người xe phía dưới.
Thành phố đến dịp lễ lạc là như vậy. Đường Đồng Khởi hoa chăng kín không để ai nhìn thấy Nhà Thờ Đức Bà, Đường Lê Lợi hoa giăng chắn hết Nhà Hát Lớn, đường Nguyễn Huệ hoa treo khỏi thấy tòa nhà UBND. Năm ngoái năm kia là hoa đào rồi hoa sen đỏ rực nhưng chỉ ở khu vực trung tâm. Kiểu trang trí như vậy đã “lây lan” rất nhanh ra nhiều tỉnh thành khác!
Một lần từ sân bay Nội Bài về Hà Nội. Bác tài taxi đi đường Lý Thái Tổ đến đầu đường Ngô Quyền bỗng... quay xe, miệng lẩm bẩm
- Sao mình lại đi nhầm đường nhỉ?.
Tôi hỏi - sao anh không đi thẳng Ngô Quyền đến Tràng Tiền luôn?
Bác trả lời - Vâng, tôi cũng định đi đường Ngô Quyền mà lại nhầm.
- Nhầm đâu, đường Ngô Quyền đấy thôi!
- Sao trông khác thế, nhận không ra?!
Hóa ra vì những chùm đèn xanh xanh đỏ đỏ treo kín phía trên con đường, kín hai hàng cây. Không còn nhìn thấy Tòa nhà Bắc bộ phủ đẹp thế, những khách sạn sang trọng hai bên đường chìm hẳn dưới ánh đèn màu nhấp nháy! Đường Tràng Tiền, Tràng Thi cũng vậy. Tiếc nhất là Nhà hát Lớn hoàn toàn bị những hoa hòe chắn ngang tầm mắt, mà đó là "điểm nhấn" đẹp nhất của cả khu vực này.
Giá mà thay thế những dây hoa lòe loẹt giống hệt nhau khắp các con đường bằng việc chiếu sáng nghệ thuật từng công trình kiến trúc tiêu biểu thì Hà Nội thì sẽ đẹp và sang trọng biết bao nhiêu! Nhưng không, trang trí bao năm nay vẫn là kiểu "đẹp tập thể", nhất định không cho "cá nhân" nào đẹp một mình.
Hóa ra bây giờ ở đô thị, muốn “nhìn xa” hơn, thật hơn có khi lại phải chui vào trong hẻm. Vì hẻm là “của chúng mình” còn ngoài đường là “của chúng ta”. Của chung tức là… không của ai. Không gian công cộng dường như biến thành “của riêng” cho những “vẫy vùng” lỏe loẹt và lãng phí. Khi những cây xanh bị đốn chặt không thương tiếc, khi mỗi năm “đến hẹn lại… chăng” những đèn những hoa những băng rôn cờ quạt… thì chúng ta phải nhìn “cái đẹp” giả tạo và già nua trên đường phố. Nhưng hàng cây cổ thụ qua hàng trăm năm vẫn thế, luôn mang lại sự tươi trẻ mỗi khi chúng ta nhìn thấy nó, được đi dưới bóng râm và làn gió mát của nó. Sức sống của đô thị là thiên nhiên mà con người lưu tâm gìn giữ.
Không gian đô thị đã như cái hộp bốn bên kín mít, còn chút bên trên để thở thì những hoa hòe cờ quạt đã bịt nốt!
Hai cây tùng trong công viên
Công viên là một ô vuông đất như cái vườn nhỏ nằm giữa những dãy nhà cao năm tầng lầu, xung quanh là đường nội bộ dẫn ra đường chính lúc nào cũng có thể kẹt xe.
Là một khoảng lặng trong khu chung cư đông đúc, mỗi sáng mỗi chiều khi mọi người tấp nập đi lại thì nơi đây vẫn yên tĩnh. Thảm cỏ xanh vài chú chim sẻ lích chích, cây bàng tán rộng rợp bóng mát cả một khoảng vỉa hè, cây ngọc lan cao cao, sáng sớm hương hoa vấn vít, vài cây dừa, mấy cây điệp vàng... Mấy chú sóc nhanh nhẹn chạy từ cành nọ sang cành kia, có lúc còn mạnh dạn xuống đất đứng nhìn người. Không biết cây cối ai trồng từ lúc nào, đặc biệt có hai cây tùng vươn cao thẳng tắp, lá xanh ngắt cành nép vào thân, cây trông như mũi tên khổng lồ. Dân cư ở quanh gọi đây là “công viên hai cây tùng”.

Vỉa hè quanh công viên có vài chiếc ghế đá. Sáng chiều có thêm vài bộ bàn ghế nhỏ của quán cà phê, khách thích ngồi dưới tán lá xanh có những tia nắng vàng lọt xuống nhảy nhót... nắng đến đâu bàn ghế kéo dạt đến đấy... rồi giải tán khi mặt trời lên cao. Khách là các bác hưu trí trông còn trẻ trung, bác gái bác trai quần ngắn áo thun giày thể thao, tay cầm vợt tennis hay vợt cầu lông, đi xe máy đến thắng kít trước quán, gạt nhanh chân chống, kéo ghế ngồi ồn ào gọi nước. Rồi rôm rả chuyện con dâu con rể, chuyện cơ quan cũ, chuyện đi du lịch... Lại có nhóm các “cụ” chỉ bàn chuyện thời sự, có khi cao giọng cãi nhau về chính trị trong và ngoài nước.

Có hôm nhóm khác đến ngồi quanh gốc cây tùng. Nhóm này trẻ hơn nhưng “đạo mạo” ấm trà với đủ cả phích nước ấm chuyên chén tống chén quân, nói nhiều chuyện về sách vở, thỉnh thoảng thấy khoe nhau sách mới và bàn tán vui vẻ... Trong công viên còn có những bà nội bà ngoại, vài cô giúp việc ngày nào cũng đưa trẻ xuống chơi. Thỉnh thoảng xe đạp bán hàng rong đi qua phục vụ các bà nội trợ tận nhà. Chó ta chó kiểng ở nhà lầu được mang xuống đây đuổi nhau trông vui mắt... Hai cây tùng cứ đứng đấy, im lặng lắng nghe mọi chuyện, thỉnh thoảng cành lá khẽ đung đưa ra chiều hiểu biết hết...
Ngày nào cũng thế, công viên hai cây tùng trở thành nơi quen thuộc của nhiều người... Cho đến một buổi sáng khi mọi người đến đây thấy có gì đó trống trải là lạ... Nhìn quanh bỗng sững sờ, hai cây tùng cao vút đã biến mất chỉ còn lại gốc cây bị cưa sát mặt đất nhựa đang tràn ra như nước, những cây điệp cây dừa cây ngọc lan ngọn chặt ngang tỉa cành trụi lủi. Mới buổi sáng mà công viên đã nắng gay gắt.

“Sao như vừa qua một trận bom thế này?!” – một bác cựu chiến binh bất bình kêu lên. Mọi người như bừng tỉnh, nhìn nhau: ủa sao kỳ vậy, hôm qua còn nguyên mà...? Hỏi thăm và truy mãi mới ra việc sáng sớm nay người ta lợi dụng việc tỉa cành cây vì mùa mưa bão đã tùy tiện chặt cây mang đi, để lại bãi “chiến trường” là thảm cỏ khô nước muốn héo, cành cây vương vãi khắp nơi, bầy chim sẻ và những chú sóc trốn mất tiêu...
Sau đó mấy ngày tôi đi công tác về ghé lại nơi này. Ngồi ở ghế đá bữa trước còn ẩn dưới gốc tùng, nay thì hai gốc cây đã xám đen mà nhựa vẫn ứa ra tràn trề như dòng nước mắt trào ra từ đôi mắt bị thương... Quanh công viên thưa hẳn người, quán cà phê vắng khách... Bọn trẻ ngơ ngác, cả mấy con chó cũng ngơ ngác vì không nhận ra cảnh vật quen thuộc nữa.

Ở những nơi tôi vừa đi qua, tháng bảy mùa hè cũng nắng gay gắt. Tất cả công viên lớn nhỏ vẫn xanh mướt bãi cỏ và những hàng cây, trong thành phố ở đâu cũng có màu xanh từ hàng cây cổ thụ trên vỉa hè đến những bồn cỏ chậu cây nơi góc phố. Những khu vườn nho nhỏ ở nhà bạn bè đều có vài ba cây xanh và những cụm hoa, đến cả bệ cửa sổ bậc thềm nhà cũng được đặt những chậu hoa chậu cây nhỏ... Ra khỏi thành phố là những con đường chạy giữa hai bên rừng cây xanh ngút ngát. Bạn tôi mới dọn về một ngôi nhà có khu vườn khá lớn, người của Sở công viên đến nói, nếu bạn muốn trồng cây gì và bao nhiêu cây thì Sở sẽ đến trồng miễn phí, bạn chỉ cần tưới cây mỗi ngày, nếu thấy có gì bất thường thì báo họ sẽ đến chăm sóc ngay... Khắp nơi là màu xanh bao phủ như vậy mà chính quyền và người dân ở đó đã lo lắng và làm nhiều việc để hạn chế tác hại của “biến đổi khí hậu toàn cầu”. Cây xanh mang con người đến gần thiên nhiên hơn, phải chăng nhờ vậy con người thân thiện hiền hậu với nhau hơn?

Không nơi đâu có nhiều khẩu hiệu bảo vệ rừng và phong trào trồng cây như ở nước ta, vậy nhưng dù đã có lệnh đóng cửa rừng vẫn thường xuyên phát hiện lâm tặc vào triệt hạ, trồng rừng không hề bù đắp được số lượng cây đã bị khai thác. Cây xanh đô thị hàng chục hàng trăm tuổi bị đốn hạ để mở đường làm cầu, những cây non bị cắt tỉa sát thân không còn sức sống. Nhà cao tầng san sát những khối bê tông ngột ngạt... Mỗi năm hè về cả thành phố như bị nung trong lò lửa khổng lồ, chỉ mưa một trận trên núi thì lũ quét xuống ngay đồng bằng...  Thế mà lại vừa có thông tin “Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu đồ gỗ nhiều nhất thế giới”, truyền thông còn hồ hởi phấn khởi “nước ta phải thành cường quốc về xuất khẩu gỗ”.

Tôi luôn tin cây cối cũng có linh hồn như con người khi nó có đời sống tự nhiên dài hơn và chứng kiến bao đổi thay của tự nhiên và của chính con người. Tận diệt thiên nhiên là đã gây “nghiệp” cho cho chính chúng ta và con cháu. Xã hội ngày càng nhiều tin tức bất an, có khi chỉ vì một cái cớ vụn vặt nào đấy, lẽ nào không liên quan đến sự tàn phá thiên nhiên?
Dòng nhựa ứa ra từ hai gốc tùng vẫn chưa hết...  Nước mắt con người sẽ còn tuôn chảy vì thiên tai, mà nói cho cùng là hậu quả của chính con người.

Ngồi ở sân bay
Trong những chuyến đi tôi thường đến sân bay sớm và ngồi chờ đến giờ bay. Tâm lý đi tàu xe thời bao cấp làm cho tôi có thói quen luôn sợ trễ giờ. Bây giờ người đi máy bay cũng đông như đi xe đò nên càng củng cố thêm thói quen đó, dù máy bay lại hay trễ giờ hệt như xe đò ngày xưa.

Những năm 80 của thế kỷ trước khách đi máy bay phần lớn là công chức và du khách nước ngoài, dân thường ít có dịp đi máy bay vì chỉ có một hãng VNA, vé đắt và thủ tục khó khăn. Ngày ấy mua vé máy bay đi công tác ngoài chứng minh thư còn phải có công văn, công lệnh của cơ quan, có khi còn phải thêm vài chữ viết tay “phê duyệt” ở dưới. Xếp hàng cả ngày đến lượt lại hết vé đúng ngày mình cần đi, về và phải đang ký “vé chờ” xem có ai không đi thì mình “lấp chỗ trống”, đương nhiên sẽ đắt hơn. Sau này mới biết có những “vé chờ” là vé dự phòng cho khách VIP hoặc “tiêu chuẩn” của “người trong ngành”, thế nên có người nhà làm ở hàng không “oai” hơn người làm ngành thương nghiệp. Nếu nhà ở xa có việc hiếu hỉ thì phải nhờ cậy qua mấy lượt người quen để mua vé máy bay trong khi vẫn phải chầu chực mua vé tàu Sài Gòn – Hà Nội vì không chắc có vé… Cũng là tình trạng chung của thời bao cấp, việc gì cũng phải “nhất thân nhì quen” vì thiếu thốn và tình trạng cửa quyền phổ biến.

Đi ra sân bay cũng vất vả không kém. Ở Sài Gòn sân bay gần thành phố nhưng ít taxi, xe bus không có, phải nhờ người nhà chở ra sân bay bằng xe máy cồng kềnh túi xách, ba lô. Từ Hà Nội đến sân bay Gia Lâm hay sau này là Nội Bài chưa có đường cao tốc, xe ca “Hải Âu” của hàng không đi con đường qua làng xóm và những ruộng lúa ruộng rau, ổ gà ổ trâu xóc nảy tung người, chưa lên máy bay đã có người say xe xanh mặt.

Ở sân bay nghe tiếng loa thông báo cũng lạ, thấy cánh cửa tự động đóng mở cũng sợ, nhìn sàn nhà lau bóng loáng cũng ngại… Ít người có thái độ tự tin và tự nhiên, phần lớn ai trông cũng bối rối, tồi tội. Nhà ga thời đó khá yên tĩnh, chỉ thỉnh thoảng rộ lên khi có chuyến bay đến hay khi có đoàn người đi xuât khẩu lao động kéo theo những người đưa tiễn. Người đi người tiễn đều rụt rè và nhếch nhác dù xung quanh là vali hòm xiểng mới toanh.

Chừng từ đầu những năm 2000 (“Sài Gòn cô tiên năm hai ngàn” – lời hát của thiếu nhi như một ước mơ của thời ấy) đi lại bằng máy bay dễ dàng hơn: nhiều chuyến bay tuy giá còn cao nhưng dân đi lại thuận tiện hơn.  Rồi hàng không giá rẻ cạnh tranh, rồi đại lý vé máy bay có khắp các tỉnh thành… Mua vé, thậm chí vé đi nước ngài cũng chỉ cần alo hay lên mạng tìm kiếm, ứng giá vé thì có người mang đến tận nhà mới lấy tiền, đổi trả dễ dàng miễn bù thêm tiền. Nhiều người đi công việc bằng máy bay như đi chợ, sáng Sài Gòn trưa Hà Nội tối đã lại Sài Gòn. Nhiều tỉnh nhỏ cũng xây sân bay, đi Côn Đảo, Phú Quốc không còn phải lo lắng vì thời tiết xấu biển động… Việc đi máy bay dễ dàng như đi xe lửa, xe đò.

Nhưng trong khi bến tàu xe trở nên sạch đẹp xe chạy đúng giờ hơn thì sân bay bắt đầu giống bến xe đò xe lửa hồi nào, dù ngày càng to hơn và máy bay là phương tiện thông dụng hơn cho mọi người. Lượng hành khách tăng vọt nhưng cơ sở vật chất phục vụ và nhà ga thay đổi chậm chạp, nơi đưa đón hay phòng chờ lên máy bay luôn quá tải, đông đúc và lộn xộn nhất là khi tình trạng delay phổ biến. Người đi máy bay thì tay xách nách mang đồ đạc lỉnh kỉnh túi bọc, ngoài thói quen còn do ngại gửi hoặc không gửi vì quá cân cho phép, nhất là hành khách đi máy bay giá rẻ. Khi qua cửa an ninh vừa mất thời gian vừa hay nhầm lẫn…

Nếp sống văn minh nơi công cộng chưa phổ biến ở sân bay: ngồi gác chân lên ghế, nằm ngủ như chốn không người, gọi nhau ơi ới như ngoài chợ… Và phải xếp hàng thì vẫn chen chúc: chen lên rồi chen xuống dù thế nào cũng được lên máy bay và ai cũng đã có chỗ ngồi, đến nơi thì ai cũng phải ra khỏi máy bay…  Lên máy bay thì tùy tiện đổi chỗ để “ngồi cạnh người quen” – nhất là khách các đoàn du lịch – làm cho việc sắp xếp hành khách, hành lý chậm chạp và bất tiện. Điện thoại cứ sử dụng bất kể tiếp viên đã nhắc nhở mà có phải chuyện gì khẩn cấp đâu…

Nên chăng ở nơi công cộng, nhà ga và thậm chí trên máy bay, xe lửa xe đò nên dán lời nhắc nhở “Đề nghị quý khách nói vừa đủ nghe” bên cạnh một số lời nhắc đã có như “không xả rác bừa bãi” hay “đề nghị xếp hàng”… Các công ty du lịch và hướng dẫn viên cần phổ biến quy tắc ứng xử nơi công cộng đến du khách, thường xuyên nhắc nhở, giải thích và điều chỉnh những hành vi không phù hợp của du khách. Chúng ta cứ chê bai du khách Trung quốc nhưng thực sự nhiều du khách Việt cũng không khác.

Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng ở các đô thị, trong đó có các phương tiện giao thông cần đi cùng việc giáo dục ý thức và phổ biến quy tắc, cách thức sử dụng vì phần lớn người dân chưa biết cách sử dụng cho phù hợp, không phải ai cũng biết thích nghi nếu không học hỏi và được nhắc nhở thường xuyên. Đồng thời, không chỉ người sử dụng mà cả người quản lý cũng phải thay đổi tư duy, phương thức điều hành. Nếu cứ giữ tư duy và trình độ “đi xe đạp” thì không thể sử dụng hay điều hành hệ thống phương tiện hiện đại như BRT, Metro hay máy bay… mang lại hiệu quả tốt.

Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

Hình ảnh có liên quan

TẢN MẠN VỀ CHỢ



Chợ Tết

Nhà tôi ở vùng Phú Nhuận. Gần nhà, giữa xóm lao động và vài chung cư của công chức có một chợ nhỏ hình thành từ lâu rồi, có đến hơn sáu bảy chục năm. Chợ nhỏ nhưng cũng đủ thứ hàng hoá: trong nhà lồng là những sạp vải vóc quần áo giày dép đồ khô nhang đèn… Bên ngoài, trên bốn con đường nhỏ là khu vực bán đồ tươi sống: thịt cá tôm cua ếch, rau xanh, đậu hũ, rồi người ta dựng thêm hàng dù, dưới đó là mấy hàng quần áo con nít, vớ tất đồ lót, hàng “xuất khẩu”, chén bát bằng nhựa, hàng đồ khô hành tỏi nấm… Mặt tiền chợ là mấy quầy mỹ phẩm, vàng bạc, mấy hàng hoa tươi… rồi những hàng khác theo nhau mọc lên bao quanh nhà lồng, có thêm vài cửa tiệm uốn tóc, cắt may sửa quần áo, tiệm bánh ngọt, nơi rửa xe máy, nơi gửi xe… chợ nhỏ thành “chợ lớn” hồi nào không hay, nhất là vào ngày chủ nhật và lễ tết.

Bình thường chợ chỉ bán vào buổi sáng. Từ khoảng 5g là xe ba gác, xe máy chở thịt cá rau xanh đã chạy ào ào vô chợ. Những nhà quanh chợ hoặc mở cửa hàng, cho thuê mặt tiền cũng lục tục dọn hàng. Đến khoảng 10 giờ sáng thì chợ vắng dần, đến trưa thì tan chợ, chỉ còn mấy quầy mỹ phẩm, quầy vàng bạc (kiêm đổi tiền “chui”) và những nhà bán hàng đồ khô thì mở cửa cả ngày.
Một năm chỉ vài ngày giáp tết là chợ tấp nập suốt ngày, chỗ gửi xe máy đông nghẹt, chờ gửi chờ lấy xe lâu gần bằng đi chợ.

Mấy năm nay được nghỉ tết nhiều hơn mọi năm, chợ tết cũng tấp nập sớm hơn. Từ sáng 28 tết những con đường quanh tết đã không còn chỗ chen chân. Hàng trái cây rau xanh hàng đồ gốm bình bông tiền vàng mã… Hoa vàng khắp nơi, ừ, Tết phương Nam mà thiếu cúc vàng mai vàng thì cũng giống như Tết miền Bắc mà thiếu cành đào, đâu còn là tết.
Và bánh tét bánh chưng cũng tràn khắp nơi: bánh tét Trà Vinh, Cần Thơ nếp xanh màu lá dứa có trứng vịt muối bùi bùi cùng miếng mỡ mềm rục, bánh chưng Bắc vuông vắn được ép trong nilon hút chân không, để lâu vẫn mềm, không lại gạo không thiu trong tiết trời nắng phương Nam. Giò chả thịt nguội các loại, dưa cải kim chi dưa kiệu dưa món… từng hũ nhỏ lớn xếp cao hình tháp bên cạnh những hũ tôm khô từng con đều nhau đỏ au, nhìn đã thấy những cuộc nhậu tưng bừng.

Đi chợ Tết những bà nội trợ thường đến ngay những quầy hàng quen, mua hàng ngày tết khỏi trả giá, chỉ có hỏi giá, lựa hàng rồi tính tiền. Có than mắc hơn thì cũng nhận được câu trả lời như nhau “tết mà”! Sáng 29 tết còn được dặn, bữa nay chị mua đi, nếu không đặt cọc cho em, chứ tới mai là lên 1,2 giá nữa đó. Khủng hoảng lạm phát gì không biết, lương chậm thưởng ít đâu không biết, chợ tết vẫn đông nghẹt, vẫn mua bán ào ào… Những gói quà biếu chủ yếu cũng là đồ ăn uống: bánh mứt kẹo rượu cà phê… Đúng là dân Việt mình “ăn tết” thật.
Trưa Ba mươi, chợ vắng dần, chỉ còn mấy anh chị công nhân vệ sinh dọn dẹp hàng đống rác. Chợ sẽ nghỉ ngơi đến sáng mùng Ba sẽ lác đác có người bán hoa, bán thức ăn tươi nấu bữa ăn cúng tiễn ông bà. Gần cổng chợ có đoạn đường xe lửa chạy qua, chiều 30 tết đoàn tàu mệt mài chạy, vẫn còn những hành khách cuối cùng về miền Trung hay ra miền Bắc sum họp với gia đình. Sài Gòn có hơn  hai triệu người nhập cư, cũng gần chừng ấy người về quê vào dịp đó, để lại Sài Gòn những ngày vắng vẻ, yên tĩnh hơn, bắt đầu từ khi tàn phiên chợ Tết.

Chợ nhà lồng

Cụm từ “chợ nhà lồng” xuất phát từ Nam bộ (dân gian thường kêu “nhà lồng chợ”), ở Bắc bộ hầu như không sử dụng tên gọi này cho những ngôi chợ xây. Có thể thấy từ này mang ý nghĩa tượng hình cho biết hình thức chợ giống như cái lồng: có giới hạn phạm vi nhưng không bị che kín, rộng rãi, đặc biệt là tuy có mái che nhưng kiến trúc và tổ chức không gian của chợ vẫn thông thoáng. Không gian chợ nhà lồng giới hạn bởi mái cao, gian chợ rộng, có hàng cột bốn phía đỡ mái, nền cao tránh ngập nước cũng là để phân biệt với không gian ngoài chợ. Nhưng không gian trong và ngoài nhà lồng có thể kết nối với nhau và với xung quanh vì chợ Nam bộ thường nằm sát bến sông hoặc gần các ngã đường lớn, dễ dàng tiếp cận.

Các thị tứ, thị trấn Nam bộ thường có các chợ nhà lồng ở khu vực trung tâm của cộng đồng dân cư. Khác với Bắc bộ, chợ quê thường tập trung tại các bãi đất trống ven làng, không có không gian cụ thể và rõ ràng như các chợ nhà lồng Nam bộ. Từ lâu tôi đã nghĩ rằng chợ nhà lồng chắc được người Pháp đưa vào Nam bộ khá sớm, vì có thể nhận thấy các chợ nhà lồng cổ hiện còn có kiến trúc, hình thức, quy mô, thậm chí vật liệu xây dựng cũng khá giống nhau, tức là có cùng một khoảng niên đại.

Những lần có dịp đi Pháp làm việc hay du lịch, tôi thường bắt gặp trong nhiều làng cổ ở Pháp ngôi chợ “nhà lồng” cũng ở trung tâm của làng hay khu vực dân cư tập trung đông. Làng nào cũng có hai công trình công cộng là nhà thờ và chợ, nhưng chợ thì không xây dựng trước nhà thờ hoặc gần các công trình tôn giáo. Qua tìm hiểu, tôi được biết trước đây chợ nhà lồng không chỉ có chức năng mua bán hàng hóa mà còn thêm chức năng thông tin. Ở đô thị các thông tin có thể được chính quyền thông báo tại trụ sở, trung tâm hành chính; còn trong cộng đồng dân cư nhỏ như làng thì thông tin được thông báo bằng văn bản dán hoặc đọc tại các chợ. Những thông tin này liên quan trực tiếp đến đời sống, hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của dân cư trong làng. Vì vậy, chức năng thông tin của chợ nhà lồng rất quan trọng.

Tại Pháp công tác bảo tồn những công trình cổ rất tốt, không chỉ gìn giữ lại phần vật chất, thực thể của công trình mà còn duy trì, nuôi sống được cái hồn của mỗi công trình cổ. Những ngôi chợ cổ ở Pháp hiện nay chủ yếu hoạt động trong các ngày lễ hội, cuối tuần và phục vụ trong những thời gian đông du khách như mùa hè. Xưa đây là nơi nhộn nhịp và sinh động nhất trong cuộc sống của người dân tại làng quê Pháp thì nay là nơi họ có thể trưng bày, giới thiệu và bán những sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay ẩm thực độc đáo – niềm tự hào của làng quê. Chợ hoạt động phục vụ nhu cầu của dân bản địa và khách du lịch. Loại hình chợ này rất thuận tiện cho mọi người có nhu cầu tham quan, mua sắm thoải mái.

Một điều bất ngờ và thú vị là trong cuốn hồi ký Xứ Đông Dương thuộc Pháp của Paul Doumer, toàn quyền Đông dương 1897 – 1902 đã nói đến vai trò của chợ nhà lồng trong các làng ở Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Trong đó Paul Doumer xác nhận rằng ở Nam kỳ chưa có khu chợ nào có mái che trước khi người Pháp đến, ngày xưa chợ họp ngay trong làng hoặc trên mảnh đất rìa làng; sau đó những người bán hàng ở chợ đã được ngồi bên dưới một công trình có mái che như ở Pháp nhưng bốn phía thông thống để gió vào, rất thích hợp với khí hậu ở Nam kỳ; rằng, một trong những cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Nam kỳ hiện đại là cái chợ, và làng nào cũng tự hào về chợ làng mình chẳng khác gì tự hào về đình làng vậy. Tuy nhiên lợi ích quan trọng nhất của chợ là làng thu được từ chợ một khoản thuế lớn để làm công quỹ.

Như vậy, chợ nhà lồng ra đời không chỉ là sự thay đổi về hình thức của “chợ quê” mà còn là sự thay đổi một cách thức buôn bán: trong số những người đến chợ mua bán theo kiểu tự cung tự cấp có những người trở thành “chuyên nghiệp” vì buôn bán thường xuyên và cố định trong nhà lồng, họ có nghĩa vụ đóng thuế - chính thức hóa nghề nghiệp. Và nguồn thu từ thuế chợ trở thành một nguồn kinh phí cho hoạt động công ích của làng xã.

Hiện nay rất đáng tiếc là nhiều nơi ở Nam bộ đã phá chợ nhà lồng mà xây nên những “trung tâm thương mại” hoành tráng mà vô hồn, chỉ còn lại một số  ít ngôi chợ nhà lồng cổ xưa. Bên cạnh việc bảo tồn “chợ nổi” trên sông nước như một nét độc đáo của văn hóa và du lịch miền Tây thì chợ nhà lồng cũng cần được bảo tồn và duy trì hoạt động vì đã lưu giữ nét “văn hóa thương nghiệp” độc đáo của các thị tứ Nam bộ. Với giá trị lịch sử như vậy chợ nhà lồng hoàn toàn xứng đáng được coi là di sản văn hóa của Nam bộ, cả ngôi nhà lồng và những sinh hoạt chợ truyền thống ở đó.

Chợ nơi đô thị

Chợ là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa trong một khu vực địa lý. Ở đô thị ngày nay chợ “truyền thống” là một trong số ít ỏi dấu tích còn lại của những làng xóm xưa, điểm lại các chợ ở Sài Gòn ta nhận ra phần lớn tên chợ lưu lại địa danh quen thuộc một thời nổi tiếng: Đa Kao, Cầu Kho, Tân Định, Xóm Chiếu, Bàu Sen, Bà Chiểu, Thị Nghè, Phú Nhuận, Gò Vấp, Hòa Hưng…

          Nam bộ sông rạch nhiều nên đi lại bằng ghe xuồng là chính. Chợ xưa là nơi bến sông ghe xuồng neo đậu trao đổi hàng hóa nông sản. Dần dần trên bờ hình thành thị tứ, có nhà cửa, tiệm chạp pô, tiệm ăn, kho hàng của người Hoa, rồi hàng thịt cá rau trái bày bán giữa đường hay trên các sạp dựng ở lòng đường, dần hình thành một cái chợ… Chợ Bến Thành xưa – nay là Chợ Cũ cũng được hình thành như vậy. Người Pháp mang đến kiến trúc “nhà lồng” cho chợ Bến Thành mới, từ đó “nhà lồng chợ” thường là trung tâm của một thị tứ ở Nam bộ. Người ta đánh giá địa phương đó có trù phú, phát đạt hay không là nhìn vào quy mộ của nhà lồng chợ. Trong cuốn hồi ký của Paul Doumer toàn quyền Đông Dương hồi đầu thế kỷ 20 có nhận xét rằng, một trong những cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Nam kỳ là cái chợ, và làng nào cũng tự hào về chợ làng mình chẳng khác gì tự hào về đình làng vậy.

Ở Sài Gòn nhiều chợ có đặc điểm riêng về dân cư và sản phẩm.  Đi mỗi chợ có thể nhận biết nhiều điều về nơi ấy: dân cư, ngôn ngữ, sản phẩm, các mối quan hệ xã hội qua xưng hô. Đi chợ hàng ngày là nhu cầu không phải chỉ mua bán mà còn là gặp gỡ, giao lưu, thể hiện các mối quan hệ xã hội. Nghe lời nói thách trả giá mặc cả… biết giá cả chất lượng hàng hóa và còn có thể biết được tình cảm của những người mua bán. Hiện nay chợ truyền thống thường là nhà lồng cao ráo, thông thoáng, sạp hàng bố trí, sắp xếp khoa học, vệ sinh môi trường tương đối tốt, bên cạnh đó là việc giữ gìn “thương hiệu” ngành hàng của những tiểu thương buôn bán lâu năm.

Những chợ hẻm, chợ vỉa hè… mọc lên ở những khu dân cư mới chỉ có siêu thị mà không có chợ. Đó là nhu cầu hàng ngày của phần đông dân cư, bởi vì đâu thể nhốt mọi sinh hoạt thường nhật của người dân vào các trung tâm thương mại hào nhoáng và lạnh lùng.  Khi nhà quy hoạch không lưu ý nhu cầu này thì tất yếu sẽ có chợ tự phát, dẫn đến lấn chiếm lòng lề đường, cản trợ giao thông, ảnh hưởng vệ sinh môi trường… Nhưng trong những xóm lao động hay khu công chức lâu đời vẫn còn nhiều chợ hẻm chỉ nhộn nhịp bán mua vào buổi sáng, đến trưa thì chợ đã tan. Hẻm trở lại yên tĩnh thậm chí còn có tiếng gà gáy te te lúc đứng bóng… Bạn tôi làm việc ở Thái Lan, nhà trong một hẻm nhỏ có cái chợ giống hệt như vậy: cũng những xe bán trái cây, rau củ, xe bán thức ăn chín, sạp quần áo treo đồ lên hàng rào, rồi xe nước ngọt siro đá bào, gánh chè, xe hủ tiếu nước lèo thơm phức… Bạn nói, chọn thuê nhà ở đây là vì cái chợ này, ra vô nhìn thấy nó như mình đang ở Sài Gòn.

Hiện nay siêu thị, trung tâm thương mại xây dựng khắp nơi, từ đô thị đến vùng nông thôn. Nhà đầu tư thường chọn ngay vị trí chợ truyền thống hoặc địa điểm công cộng – tức là chiếm đoạt giá trị về ký ức nơi chốn của cộng đồng - để xây dựng những tòa nhà cao tầng, hình thức kiến trúc và nội thất trang trí sắp xếp như nhau. Tên gọi của siêu thị, trung tâm thương mại ít khi mang địa danh truyền thống. Trong đó việc mua bán sòng phẳng, lịch sự, người mua hàng có thể chọn lựa thỏai mái, tự mình quyết định khi mua món hàng nào đó theo giá ấn định sẵn. Siêu thị, trung tâm thương mại phản ánh mối quan hệ của xã hội đô thị hiện đại: coi trọng sự riêng tư, cá nhân, chủ yếu là sự “tương tác” giữa người mua hàng với sản phẩm, quan hệ người mua người bán không còn,  “tình cảm” trong việc mua bán nhạt đi, mất đi… Tính chất văn hóa địa phương (đặc sản, ngôn ngữ, xưng hô…) không thể hiện trong siêu thị, trung tâm thương mại mà là ứng xử “văn minh thương nghiệp” phổ biến mọi nơi.

Thành phố dù hiện đại đến đâu cũng cần những ngôi chợ truyền thống, không chỉ phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn là một địa điểm du lịch, bởi vì nó phản ánh văn hóa địa phương qua sản phẩm, ẩm thực, ứng xử giao tiếp của con người… Lưu giữ chợ truyền thống vì hoạt động thương nghiệp của tiểu thương và khách hàng cũng là những giá trị văn hóa. Siêu thị và trung tâm thương mại không thể thay thế hoàn toàn chợ, kể cả chợ bán lẻ và nhất là những chợ đầu mối, bán sỉ và có truyền thống lâu đời.

Bảo tồn chợ truyền thống cần bắt đầu từ việc bảo toàn giá trị ký ức từ địa điểm nơi chốn, bảo toàn giá trị văn hóa qua sản phẩm và ứng xử trong mua bán. Và trước hết, nó phải được bắt đầu từ tư duy và sự hiểu biết của các nhà quản lý và quy hoạch đô thị.

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu 
Chợ Cũ Sài Gòn thập kỷ 1960
Kết quả hình ảnh cho chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn













NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM


Cỏ sẽ lên xanh

Văn phòng của tôi trên lầu cao nhìn ra con đường có hai hàng cây dầu cao vút lúc nào cũng tấp nập xe cộ, trên vòm cao thi thỏang vút lên một bóng chim nhỏ nhoi… Ngày nắng gắt mà gió vẫn rạo rực. Có những buổi lu bu công việc ngồi lỳ trong phòng, đến trưa hay chiều mới bước chân ra ngòai. Ở đầu hành lang có kê một chiếc bàn với hai băng ghế dài màu trắng nổi bật trên nền lá xanh ngăn ngắt. Ngồi đây nhìn ra ngòai kia khi thì thấy bóng nắng lốm đốm trên những chiếc lá, lúc chợt nhận ra một vệt nắng vàng rực trên bãi cỏ nho nhỏ ở góc sân vườn.

Góc nhỏ này vô cùng thân thuộc với tôi. Mỗi sáng ngồi đây với ly cà phê cho sự tỉnh táo một ngày mới, mỗi chiều ngồi đây với bình trà đậm tôi có thể tạm quên đi mệt mỏi, đôi khi là sự bức bối, là tâm trạng không mấy tích cực nảy sinh trong công việc. Chỉ cần nhìn bầu trời xanh qua từng kẽ lá, ngắm những cánh hoa dầu xoay xoay  trong gió như đang bay bổng điệu luân vũ, lòng bỗng bình yên nhẹ nhõm lạ thường.

Mấy bữa nay đường phố dưới kia đông hơn, xe hơi xe máy nối đuôi nhau từ sáng đến tối. Những giỏ quà nhiều màu sắc trên xe máy, trong xe hơi báo hiệu tết đang đến gần. Qua rằm tháng chạp, chị tạp vụ trong cơ quan chăm chú tỉa tót mấy chậu bông rồi lặt lá cây mai lão trong vườn… mỗi sáng se lạnh hơi gió chướng đang về…

Cuối năm họp hành liên miên. Sáng nay nhìn xuống sân vườn dường như thấy thiếu vắng gì đó…A, cỏ, vạt cỏ xanh bên hồ nước đâu rồi sao còn trơ đất? Hỏi chị tạp vụ, chị hồn nhiên kể, mấy bữa trước công nhân tới cắt cành mé nhánh hàng cây ngòai đường, sẵn nhờ họ cắt tỉa cây đa trong sân cho gọn gàng, bỏ những rễ khô cành chết để cây đa ra mầm lá mới, họ tới lui cưa kéo cành cây làm sao mà đám cỏ giập nát héo queo, em phải xới đất nhổ đi hết...

Bần thần.Người ta biết chăm sóc gìn giữ một cây lớn mà sao lại dẫm đạp lên đám cỏ nhỏ nhoi. Có ai biết cỏ cũng đau không… Chưa kịp nói gì thì chị tạp vụ xởi lởi, em tính chiều đi mua mấy vạt cỏ về trồng lại, đất em xới kỹ rồi, mùa này mát chắc cỏ sẽ lên nhanh lắm. Qua Tết chị vô làm là cỏ lại xanh thôi mà.
Ừ. Xuân đang về. Cỏ sẽ lên xanh …

Nhớ Sài Gòn

Một lần ngồi quán cà phê với bạn. Hai đứa sinh ra ở Hà Nội nhưng sống ở Sài Gòn đến nay đã hơn nửa đời người. Cùng học đại học, cùng lấy chồng trong một năm, năm sau cùng sinh con gái đầu lòng, hai đứa vẫn gắn bó với nhau dù có thời gian đến vài năm không gặp mặt. Bây giờ con cái lớn rồi, không còn vất vả kiếm tiền nuôi con. Thi thoảng hai đứa hẹn nhau ở quán cà phê nào đấy, ăn sáng, trò chuyện trên trời dưới biển… Có khi hai đứa hai cái điện thoại, dán mắt vào đó, rồi miệng nói tay lướt tiếp tục câu chuyện dở dang hoặc cùng bàn luận về gì đó vừa hiện trên màn hình facebook.

Ngày cuối năm đường phố nhộn nhịp tất bật. Không khí se lạnh mang lại cho người ta cảm giác nôn nao như sắp mất đi một điều gì đó, mà cũng như một điều gì mới mẻ đang đến. Quán vắng, miên man nhạc Ngô Thụy Miên “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân…”.  Bạn chợt thốt lên, Nhớ Sài Gòn quá, cậu có cảm giác đấy không?
Ừ, mình cũng nhớ Sài Gòn dù đang ở giữa Sài Gòn, lạ không?

Nhớ Sài Gòn cuối năm 1975, gần Noel bỗng có một “mùa đông” mát mẻ, thậm chí buổi tối còn nghe gió lạnh tràn về. Người Sài Gòn đùa vui “vĩ tuyến 17 mở rồi, gió mùa đông bắc không dừng ở bên kia đèo Hải Vân nữa”. Những chiếc áo lạnh không chỉ làm quà theo các anh bộ đội về quê xứ Bắc mà còn được dịp khoe màu sắc trên khắp ngả đường. Những chiếc áo dài trắng tinh khôi được dịp khoác ra bên ngoài áo len áo gió, mỗi sáng đến trường nhìn phố ngỡ như mình đang ở Đà Lạt mộng mơ.

Nhớ Sài Gòn sau mùa hè năm ấy, vô lớp học bạn bè chỉ còn non một nửa. Hỏi thăm nhau đứa theo gia đình đi kinh tế mới, đứa vượt biên, đứa bỏ học lấy chồng đứa về quê… Chẳng kịp chia tay, vậy mà khi gặp lại vẫn nhớ tên nhau, trò chuyện thân thiết, không ngờ mấy chục năm bặt tin mà ký ức về bạn  chưa hề quên lãng.

Nhớ Sài Gòn ngày có kết quả thi đậu đại học. Một nhóm bạn rủ nhau đạp xe qua vùng Khánh Hội quận Tư, lúc đó là khu nhà lá kênh đen, chiều xuống đèn đường nhập nhoạng, những tay anh chị cởi trần hình xăm chằng chịt, ung dung ngồi nhậu vỉa hè, chiếc xe Honda 67 dựng hờ hững ở lòng đường. Vậy mà chỉ chớp mắt đã thấy chiếc xe lao đi trong tiếng nổ ống pô xoáy nòng làm cả con phố giật mình thảng thốt.

Nhớ Sài Gòn tháng Chạp. Trên lề đường Trương Định từ vài năm nay, cứ đến khỏang thời gian này là xuất hiện mấy ông đồ trẻ tuổi quần jeans áo thun với mực tàu bút lông, cũng giấy điều giấy dó, ngồi đó viết những bức Thư pháp bằng chữ Hán, cả thư pháp chữ Việt, Người đến xin chữ giờ ít xin câu đối, mà thường xin những chữ tỏ lòng mong ước hay là điều mình tâm niệm, như chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Phúc chữ Lộc…Cũng có khi là một câu thơ, một lời hát mà mình tâm đắc, như “sống trên đời cần có một tấm lòng”… Cuộc sống đô thị vội vã gấp gáp, chữ nghĩa cũng theo đó ngắn gọn, dễ hiểu. May mắn gặp được người tâm đầu ý hợp thì truyện trò vui vẻ. Người xin chữ thỏa mãn vì được bức thư pháp chữ như rồng bay phượng múa, lại đúng điều minh mong muốn! Còn người cho chữ cũng thỏa mãn cái thú được phô bày vẻ đẹp tinh túy của nghệ thuật viết chữ. Không thấy ai “trả giá” cho những bức thư pháp này. Cũng chưa thấy “ông đồ” nào giàu có nhờ viết thư pháp. Bởi vì người viết và người xin chữ đều hiểu giá trị tinh thần mà những con chữ mang lại cho mình.

Nhớ Sài Gòn ngày tháng Giêng, mùa nắng đang kỳ cao điểm, đường mềm ra như nung. Trùm đầu che mặt kín mít mà vẫn không che được cái nóng ban trưa. Một thùng nước với chiếc ca nhựa treo tong teng, dòng chữ “trà đá miễn phí” bỗng làm mát cả đoạn đường. Bác xích lô bà vé số em nhỏ đánh giày chị gánh hàng rong… ghé qua từ tốn uống từng ngụm nước “còn để dành cho người khác”. Mà sao thùng nước chẳng bao giờ hết, chàng Thạch Sanh sống lại cũng phải ngạc nhiên bởi chàng chỉ có một nồi cơm nhưng Sài Gòn thì có hàng ngàn “thùng nước Thạch Sanh” hàng chục quán ăn “hai ngàn” dành cho những người cơ nhỡ.
Đấy, nỗi nhớ Sài Gòn bình dị thế thôi. “Em còn nhớ hay em đã quên…”, với Sài Gòn câu hát đó không chỉ dành cho những người đi xa.

Từng bước đến hạnh phúc

Năm nay Sài Gòn không có mùa Đông.
Đúng ra có được một hai ngày trời mù sương, nhiệt độ không thấp nhưng nhờ đó không khí lạnh hơn một chút. Sài Gòn vội vã khoác lên mình những chiếc áo lạnh đủ màu rực rỡ, đôi chân dài của những cô gái Sài Gòn kín đáo và khêu gợi hơn khi phủ đôi vớ sẫm màu, gương mặt người Sài Gòn  tươi tắn hơn, như rừng cây đang mùa nắng gắt bỗng có cơn mưa rào mát mẻ.

Sau Noel lại là những ngày nắng nóng, Sài Gòn tự an ủi “Hà Nội, miền Bắc vẫn còn chưa lạnh như mọi năm mà”. Như một quy luật, chừng nào Hà Nội qua đợt giá rét thì mới tới Sài Gòn, không khí lạnh cũng phải vượt qua chặng đường dài bao nhiêu đèo dốc để vào phương Nam, giống như mùa đông 1975 lần đầu tiên sau gần trăm năm Sài Gòn mới có nhiệt độ xuống dưới 20 độ C, “vĩ tuyến 17 đã mở” hai miền thông thương nên thời tiết cũng mừng rỡ giao lưu!

Nghĩ cũng lạ, con người luôn mong muốn thèm khát những gì mình không có, ít khi bằng lòng với những gì mình đã có. “Thiên thư định phận” nhưng con người thì luôn muốn thay đổi số phận của mình, và của người khác.
Số phận là gì? Là những ngẫu nhiên nối tiếp nhau theo một trật tự hợp lý nào đó? Hay là  một vài sự kiện con người sắp xếp tính toán thúc đẩy để nó xảy ra? Liệu có tránh được những toan tính bên ngoài đẩy ta vào một “số phận” mình không mong muốn? Vì sao khi lựa chọn những thiệt thòi ta cũng đồng thời biết đó là hạnh phúc?
***
Tình cờ đọc lại hai truyện ngắn của nhà văn Nga nổi tiếng Pautopxki, Chuyến xe đêm và Bình minh mưa là hai câu chuyện tình yêu thuần khiết và trang nhã,  đầy ắp cảm xúc nuối tiếc… dường như phần nào giải đáp cho tôi những câu hỏi trên.

Chuyến xe đêm là câu chuyện (tưởng tượng) của Pautopxki về nhà văn viết truyện cổ tích nổi tiếng Andersen, về sự lựa chọn số phận cô đơn để được là người mang đến cho trẻ em, và cả người lớn, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm lòng nhân ái và vẻ đẹp giản dị của cuộc sống.
Trên chuyến xe từ Venice đến Verona, trong bóng đêm “đồng lõa” với trí tưởng tượng, Andersen đã mang đến cho những người phụ nữ đồng hành với ông niềm vui vì lời tiên đoán về số phận của họ. Dù “an phận” với một anh chồng nông dân và bầy con đông đúc có những đôi má hồng hào khỏe mạnh và cặp mắt long lanh tinh nghịch, hay phải vượt qua mọi trở ngại “trèo đèo lội suối” đến với người yêu, hay là mang lại “hoặc rất hạnh phúc hoặc rất bất hạnh” cho người mình yêu… Những người phụ nữ bình dân hay thượng lưu này đều rất đáng được trân trọng, bởi họ sống và dám sống với sự lựa chọn của mình. Chấp nhận thử thách để “hoàn thành” số phận cô đơn của mình, Christian Andersen, nhà thơ và người viết truyện cổ tích danh tiếng nhưng trong cuộc đời ông lại sợ truyện cổ tích, đến nỗi ông cũng chẳng có đủ nghị lực và can đảm, thậm chí cho một cuộc tình ngắn ngủi. Ông đã để cho những người đàn bà yêu quý ông đi qua cuộc đời như một khung cảnh đẹp thoáng qua ô cửa nhỏ của chiếc xe lữ hành, còn chăng chỉ là sự tiếc nuối tình yêu trong tim, như một chiếc lá đẫm mùi thơm sương ban mai mà ông bứt được và giữ lại bên mình rất lâu…
Cuối đời Andersen từng tâm sự  Tôi đã trả bằng một giá đắt, có thể nói vô cùng đắt cho những truyện cổ tích của tôi. Vì chúng, tôi đã chối bỏ hạnh phúc mà lẽ ra tôi được hưởng...  Nhưng số phận đã mang lại cho ông niềm hạnh phúc không ai có được, những câu truyện cổ của ông sẽ sống mãi cùng con người!

Có lẽ ít có truyện ngắn nào làm người ta bồi hồi rất lâu vì vẻ đẹp của nỗi buồn đã vượt lên trên cả luyến tiếc của sự chia ly, như Bình minh mưa. Người lính về phép, mang theo bức thư của đồng đội gửi về cho người vợ mà anh ta đã chia tay. Cuộc gặp gỡ vào một đêm mưa ẩm ướt ở một tỉnh lẻ bên sông, ngôi nhà với ánh nến và ngọn lửa tí tách trong lò sưởi, người đàn bà thanh lịch dịu dàng tỏa hương thơm phảng phất nỗi buồn trong đêm khuya. Và ý nghĩ về sự qua đi không thể nào lấy lại mỗi khoảnh khắc nhỏ nhất của thời gian, cái ý nghĩ dằn vặt con người thế kỷ này qua thế kỷ khác, đã đến với chính chàng lúc này, ban đêm, trong ngôi nhà xa lạ, và từ ngôi nhà ấy, một phút nữa thôi, chàng sẽ ra đi và không bao giờ trở lại.
Người lính “hoàn thành nhiệm vụ” rồi ra đi, vì anh hiểu, điều tốt lành hầu như bao giờ cũng chỉ đi lướt bên ta, chỉ trong khoảnh khắc dù ta chờ đợi chúng suốt đời, nhưng nếu gặp thì đó là hạnh phúc. Chính khoảng thời gian ngắn ngủi trong ngôi nhà trên bờ sông dốc đứng này, anh đã bắt gặp hạnh phúc của mình.

Bắt gặp để rồi chia tay sau một phút im lặng ngồi bên nhau như tục lệ xưa. Có ai  ngăn anh ở lại đâu nhưng người lính vẫn ra đi, tiếp tục số phận của mình như con tàu trong buổi bình minh ẩm ướt, với hành trình lang thang của nó trong những ngày mưa và trong những buổi sương mù. Tàu rời bến nhưng những làn sóng khi nó lướt đi thì còn vỗ mãi vào bờ. Tình yêu, hay cảm giác về tình yêu cũng như những con sóng kia, sẽ làm cho trái tim hai người không thôi xao động khi nhớ về nhau…
Sự lựa chọn nào cũng là một bước đi đến số phận.
***
Sài Gòn trở lại những ngày mùa nắng. Trái đất đang nóng lên từng ngày do biến đổi khí hậu và còn do sự tàn phá của con người. Đừng tiếc vì mùa đông Sài Gòn nóng bức, vì ở đâu đó sẽ là những ngày ấm áp cho trẻ nhỏ đang thiếu đôi giày, chiếc áo ấm, cho những người cơ nhỡ không có một vòng tay người thân, cho cây cối ủ nụ mầm non chờ ngày xuân tới.
Mùa xuân sẽ mang lộc xanh đến mọi nơi, dù nơi đó là ngày nắng gắt hay mùa đông lạnh giá. Cũng như hạnh phúc sẽ đến khi ta không lấy nó từ nỗi bất hạnh hay sự thiệt thòi của người khác.

 Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu
Tranh Levitan (internet)

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...