Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thịlà dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





NỬA THẾ KỶ CHỨNG KIẾN NHỮNG THAY ĐỔI CỦA THÀNH PHỐ


Hơn 50 năm gắn bó với TPHCM, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đã chứng kiến hành trình chuyển mình mạnh mẽ của thành phố, từ một đô thị còn nhiều khó khăn sau ngày thống nhất trở thành trung tâm kinh tế năng động hàng đầu cả nước. Với bà, bên cạnh những đổi thay về diện mạo và tốc độ phát triển, điều làm nên sức sống bền bỉ của thành phố vẫn là con người, văn hóa và tinh thần cởi mở đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

50 năm đổi thay

Sinh ra ở Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu thuộc thế hệ “di dân” đầu tiên đến Sài Gòn sau ngày đất nước thống nhất. Từ cô gái 17 tuổi đặt chân đến thành phố năm 1975, bà đã có nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất này trên cương vị một nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu văn hóa và cũng là một công dân chứng kiến từng bước chuyển mình của đô thị mang tên Bác.

Theo bà, điều dễ nhận thấy nhất là diện mạo thành phố hôm nay đã đổi khác rất nhiều. Nếu trước đây sự phát triển chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thì ngày nay, quá trình hiện đại hóa đã lan tỏa rộng khắp, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nội thành và vùng ven. “Bây giờ, sự phát triển diễn ra đồng đều hơn rất nhiều. Thành phố hiện đại hơn, mới mẻ hơn và mở rộng hơn rất nhiều so với 50 năm trước” - bà nhận xét.

Không chỉ thay đổi về không gian đô thị, TPHCM còn có những chuyển biến sâu sắc về con người và đời sống xã hội. Những ngày đầu đến đây, bà từng cảm nhận rõ sự khác biệt về ngôn ngữ, nếp sống và văn hóa. Thế nhưng điều khiến bà ấn tượng là sự lịch thiệp, cởi mở và văn minh của người Sài Gòn đối với những người mới đến. Theo thời gian, cùng với các làn sóng di cư, những khác biệt ấy dần được dung hòa, tạo nên một cộng đồng đa dạng nhưng gắn kết. “TPHCM thích nghi rất nhanh với những thay đổi của xã hội, đặc biệt là người trẻ. Chính khả năng thích ứng ấy đã tạo nên sức sống và sự phát triển không ngừng của thành phố” - bà chia sẻ.

Điều khiến choyêu thương mảnh đất này suốt gần nửa thế kỷ qua không phải là những tòa nhà cao tầng hay những con số tăng trưởng kinh tế, mà chính là con người. Nếu Hà Nội thường gợi nhớ đến chiều sâu lịch sử, Huế gắn với di sản và văn hóa cung đình thì khi nhắc đến Sài Gòn, người ta thường nghĩ ngay đến con người. Theo bà, muốn hiểu thành phố này trước hết phải hiểu con người.Trong cảm nhận của bà, người Sài Gòn là sự kết hợp hài hòa giữa nét văn minh của một đô thị lớn với sự chân chất, hào sảng của vùng đất Nam Bộ. Từ lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi đến cách ứng xử thường ngày đều toát lên sự tự nhiên, chân thành và gần gũi. “Đó là nét văn hóa đô thị rất đặc trưng của TPHCM - một đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ được sự hồn hậu của người miền Nam” - bà nói.

Theo, sức hấp dẫn của TPHCM còn đến từ tính chất của một vùng đất mở, nơi từ lâu đã mang đến cơ hội lập nghiệp cho người dân khắp mọi miền. Nhưng trên hết vẫn là yếu tố “nhân hòa” - những con người nghĩa tình, bao dung và rộng mở. “Người Nam Bộ nói ‘thương’ là nặng tình nặng nghĩa lắm. Càng sống lâu ở đây, tôi càng thương con người thành phố - bà bộc bạch. Bà cho rằng người Sài Gòn sống thực tế nhưng không thực dụng, sẵn sàng giúp đỡ người khác từ lẽ phải và tấm lòng hơn là tính toán thiệt hơn. Chính sự chân thành, nghĩa hiệp và tinh thần bao dung được bồi đắp qua nhiều thế hệ cư dân đã giúp thành phố này luôn rộng mở với người nhập cư, trở thành nơi nhiều người tìm thấy cơ hội phát triển và cảm giác được đón nhận, thuộc về. Đó cũng là lý do khiến TPHCM luôn có sức hút đặc biệt.

Kinh tế phải song hành cùng văn hóa

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, việc định hướng TPHCM trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm kinh tế lớn của cả nước là hoàn toàn phù hợp với thế mạnh đã được khẳng định từ trăm năm qua. Tuy nhiên, theo bà, mục tiêu tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với sự phát triển hài hòa về văn hóa, xã hội và chất lượng sống của người dân.

Bà đánh giá cao những cơ chế, chính sách đặc thù mà Trung ương dành cho TPHCM thời gian qua, như Nghị quyết 98 của Quốc hội, Nghị quyết 260 và gần đây là Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị. Đây là những nền tảng quan trọng giúp thành phố có thêm không gian, động lực và quyền chủ động để phát huy vai trò đầu tàu trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, các cơ chế này cần được triển khai hiệu quả trong thực tiễn và phải được xây dựng trên tầm nhìn dài hạn.

“TPHCM phát triển rất nhanh. Những vấn đề đặt ra hôm nay có thể vài năm nữa đã không còn phù hợp. Vì vậy, cơ chế dành cho thành phố không nên chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà phải đủ rộng để đáp ứng sự phát triển trong 10 - 20 năm tới, thậm chí xa hơn” - bà nhận định. Theo bà, TPHCM cần một “chiếc áo” thể chế đủ rộng để tiếp tục phát huy thế mạnh về sáng tạo, tính linh hoạt và khả năng thích ứng vốn là những đặc trưng của thành phố.

Bên cạnh vai trò đầu tàu kinh tế, TPHCM cũng cần khẳng định vị thế của một trung tâm văn hóa lớn. Một đô thị hiện đại không chỉ được nhận diện bằng những công trình hạ tầng hay các chỉ số tăng trưởng mà còn bởi chiều sâu văn hóa, bản sắc con người và đời sống tinh thần của người dân. Những năm gần đây, thành phố đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng công viên, không gian xanh và các khu sinh hoạt công cộng, góp phần cải thiện môi trường sống và nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người dân. Tuy nhiên, để tạo nên bản sắc và sức sống bền vững cho một đô thị lớn, chỉ như vậy là chưa đủ. “Căn cốt văn hóa của một thành phố phải được thể hiện qua các thiết chế văn hóa như bảo tàng, nhà hát, trung tâm nghệ thuật, không gian sáng tạo hay các ngành công nghiệp văn hóa gắn với đặc trưng của TPHCM và vùng Nam Bộ” - bà nói.

Theo đó, thành phố cần tiếp tục đầu tư các công trình văn hóa có tầm vóc, đồng thời xây dựng cơ chế phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, tạo điều kiện cho các đơn vị ngoài công lập, nghệ sĩ và doanh nghiệp văn hóa tham gia phát triển đời sống văn hóa đô thị. Đối với các khu vực vùng ven, có thể bắt đầu từ những mô hình gần gũi như nhà văn hóa đa năng, trung tâm sinh hoạt cộng đồng hay không gian biểu diễn quy mô vừa, giúp người dân có điều kiện tiếp cận văn hóa thường xuyên hơn. Theo bà, văn hóa luôn là một nhu cầu thiết yếu của đô thị hiện đại. Khi được tiếp cận thường xuyên với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, người dân sẽ dần hình thành thói quen thụ hưởng các loại hình văn hoá, nghệ thuật. Đồng thời nâng cao dần trình độ thưởng thức và thẩm mỹ văn hoá nghệ thuật. Đây một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần đô thị. “TPHCM luôn tự hào về những đóng góp cho nền kinh tế cả nước, nhưng văn hóa cũng phải phát triển song hành với kinh tế, sao cho thành phố không chỉ giàu mạnh mà còn là một đô thị nhân văn giàu có về văn hoá” - nói.

Gìn giữ ký ức đô thị

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, khi TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian đô thị ngày càng mở rộng, một trong những thách thức lớn nhất là làm sao vừa phát triển nhanh, vừa giữ được những giá trị làm nên bản sắc của thành phố. Theo bà, di sản không chỉ là những công trình cổ hay các địa danh nổi tiếng mà còn là những dấu tích ghi lại từng chặng đường phát triển của đô thị, từ kiến trúc, cảnh quan đến những ký ức gắn với đời sống của người dân qua nhiều thế hệ. “Nếu những dấu tích ấy mất đi, thành phố cũng sẽ mất đi một phần lịch sử và ký ức của mình” - bà nói.

Bà cho rằng TPHCM từ lâu đã mang trong mình tinh thần đổi mới sáng tạo. Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò đầu tàu kinh tế mà còn bắt nguồn từ lịch sử của một đô thị cảng thị luôn cởi mở, biết tiếp nhận cái mới và thích ứng với những thay đổi của thời cuộc. Chính tinh thần năng động, dám đổi mới và khả năng hội nhập đã tạo nên sức sống đặc biệt của thành phố trong suốt nhiều thập niên qua.

Tuy nhiên, khi hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực, thành phố không thể chỉ dựa vào công nghệ hay tăng trưởng kinh tế mà phải đặt con người và văn hóa ở vị trí trung tâm. Bởi suy cho cùng, mọi đổi mới đều do con người tạo ra và phục vụ cho con người. Văn hóa không đứng ngoài sự phát triển mà chính là nền tảng nuôi dưỡng tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và bản lĩnh của một đô thị hiện đại.

Theo bà, tiềm năng văn hóa của TPHCM còn rất lớn, từ các giá trị lịch sử, truyền thống, sự đa dạng của các loại hình di sản văn hoá đến những ngành công nghiệp văn hóa đã hình thành từ rất sớm như báo chí, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn hay giao lưu quốc tế. Điều quan trọng là cần có những cơ chế phù hợp để khơi thông và phát huy đồng thời gìn giữ nguồn lực này, thay vì chỉ nhìn văn hóa dưới góc độ khai thác hiệu quả kinh tế trước mắt.

Kỳ vọng về tương lai, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu mong TPHCM sẽ trở thành một siêu đô thị hiện đại, nhân văn và đáng sống. Thước đo quan trọng nhất của sự phát triển không chỉ là những con số tăng trưởng mà là chất lượng sống của người dân. Đó là khi người dân có cơ hội an cư, được sống trong môi trường an toàn, được chăm sóc sức khỏe tốt, được thụ hưởng các giá trị văn hóa và cảm thấy gắn bó với cộng đồng nơi mình sinh sống. “Tôi mong TPHCM không chỉ là một thành phố giàu mạnh về kinh tế mà còn là nơi người dân cảm thấy an tâm, hạnh phúc và tự hào khi được sống, làm việc và cống hiến” - bà chia sẻ.

https://www.phunuonline.com.vn/nua-the-ky-chung-kien-nhung-doi-thay-cua-thanh-pho-a1584776.html



Luật đô thị đặc biệt cần nhìn văn hóa như một “hạ tầng mềm”

 LTS: Trong quá trình xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, câu chuyện không chỉ nằm ở cơ chế tài chính, hạ tầng hay quyền tự chủ cho các siêu đô thị, mà còn ở cách gìn giữ những giá trị làm nên bản sắc riêng của thành phố. Với TP.HCM, đó là ký ức đô thị, không gian văn hóa cộng đồng, di sản kiến trúc, đời sống cư dân và sức sống xã hội đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Bài viết dưới đây là tham luận của TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng Thư ký Hội Hoa học Lịch sử TP.HCM - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM - tại Hội thảo khoa học tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, trí thức tiêu biểu về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt do UBND TP.HCM tổ chức ngày 22.5 vừa qua. Từ góc nhìn quy hoạch và quản trị đô thị, tác giả cho rằng dự luật hiện vẫn nghiêng nhiều về tư duy tăng trưởng, trong khi các cơ chế bảo vệ “vốn văn hóa - xã hội” của đô thị chưa được thể hiện rõ nét. Bài viết đồng thời đưa ra nhiều đề xuất cụ thể nhằm bổ sung các công cụ pháp lý cho bảo tồn di sản, bảo vệ cảnh quan lịch sử và gìn giữ bản sắc đô thị trong quá trình phát triển.

Đô thị đặc biệt không chỉ là hạ tầng và tăng trưởng

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (bản ngày 19.5.2026) đã thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong việc trao quyền tự chủ, phân quyền và xây dựng các cơ chế vượt trội cho các đô thị đặc biệt như TP.HC. Đặc biệt, dự luật đã đề cập đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, du lịch đô thị và các khu phát triển thương mại - văn hóa (BID). Đây là hướng tiếp cận cần thiết đối với một đô thị trung tâm có vai trò quốc gia và quốc tế.

Tuy nhiên, dự luật chủ yếu tiếp cận đô thị đặc biệt từ góc độ quản trị, hạ tầng và động lực tăng trưởng kinh tế, trong khi yếu tố văn hóa và vốn xã hội – nền tảng tạo nên tính đặc biệt và sức sống lâu dài của đô thị – chưa được thể hiện tương xứng. Một đô thị đặc biệt không chỉ được xác định bằng quy mô kinh tế, quyền tự chủ hay hệ thống hạ tầng hiện đại, mà còn bởi bản sắc lịch sử, ký ức đô thị, tính đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo xã hội và sự gắn kết cộng đồng. Chính các yếu tố này tạo nên sức hấp dẫn riêng, năng lực cạnh tranh mềm và khả năng phát triển bền vững của thành phố trong dài hạn.

Trong dự thảo hiện nay, văn hóa phần lớn vẫn được nhìn như một lĩnh vực khai thác kinh tế thông qua công nghiệp văn hóa, du lịch hay kinh tế đêm. Trong khi đó, các cơ chế bảo vệ và phát huy “vốn văn hóa – xã hội” của đô thị còn khá thiếu. Chưa thấy các điều khoản quy định cụ thể về các vấn đề đó. Trong khi đó Luật Thủ đô 2024 đã đề cập rất rõ nét thông qua các điều khoản quy định về giải thích từ ngữ, chính sách quy hoạch, cải tạo đô thị và các biện pháp phát triển văn hóa, đặc biệt về bảo tồn di sản và cảnh quan lịch sử của Thủ đô.

Một đô thị đặc biệt không chỉ được xác định bằng quy mô kinh tế, quyền tự chủ hay hệ thống hạ tầng hiện đại, mà còn bởi bản sắc lịch sử, ký ức đô thị, tính đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo xã hội và sự gắn kết cộng đồng.

Dự luật này đã có đề cập đến yếu tố văn hóa, tuy nhiên mức độ đề cập hiện tại mới dừng lại ở khung định hướng, mang tính tổng thể, chưa đi sâu vào các giải pháp kỹ thuật cụ thể hay các cơ chế bảo tồn đặc thù cho di sản. Yếu tố văn hóa và di sản được định vị nằm tập trung tại Chương IV: Phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.

Trong toàn bộ cấu trúc 45 điều của Dự thảo Luật, các nội dung có khả năng tác động hoặc trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực văn hóa và di sản bao gồm:

Mục 2 Chương IV (Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội): Đây là địa bàn chính của lĩnh vực này.

Điều 23. Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch: Điều luật này trực tiếp gọi tên "Văn hóa". Đối với một đô thị đặc biệt, điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý để thành phố xây dựng các cơ chế phát triển công nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch xứng tầm.

Điều 24. Khu phát triển thương mại và văn hoá, mô hình phát triển kinh tế ban đêm: Đây là điểm mới, tư duy quản lý hiện đại khi gắn kết "văn hóa" với "kinh tế ban đêm" và "thương mại", biến di sản/văn hóa thành nguồn lực kinh tế (ví dụ: các tuyến phố đi bộ di sản, không gian văn hóa sáng tạo ban đêm).

Các điều luật liên đới (Hỗ trợ gián tiếp cho di sản):

Điều 11. Quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao: Điều này rất quan trọng đối với bảo tồn di sản cảnh quan (như khống chế chiều cao quanh các khu di tích cốt lõi, không làm phá vỡ không gian kiến trúc truyền thống).

Điều 36. Thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, phát triển doanh nghiệp: Có thể áp dụng để thu hút các nguồn lực xã hội hóa (PPP) đầu tư vào bảo tồn di sản hoặc công nghiệp văn hóa.

Trong chương này chưa có các điều khoản quy định cụ thể về: Bảo vệ cảnh quan lịch sử và ký ức đô thị; bảo tồn các không gian văn hóa cộng đồng; Đánh giá tác động văn hóa – xã hội đối với các dự án TOD, tái thiết đô thị hay chỉnh trang khu trung tâm; bảo vệ cộng đồng cư dân gốc trong quá trình tái thiết và phát triển đô thị nén; Hạn chế nguy cơ thương mại hóa, sân khấu hóa hoặc đồng nhất hóa bản sắc đô thị trong các lĩnh vực phát triển CNVH.

Vấn đề về "Chế tài" và "Quản lý vi phạm": Các điều luật cụ thể để quản lý và chế tài mang tính nguyên tắc hệ thống, cụ thể: Điều 43. Xử lý vi phạm, loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý: Đây là điều khoản cốt lõi quy định về chế tài của toàn bộ Luật này. Tuy nhiên, vì đây là luật khung (Đô thị đặc biệt) nên Điều 43 sẽ không ghi rõ "phạt bao nhiêu tiền nếu phá hoại di sản", mà nó sẽ xác định thẩm quyền, nguyên tắc xử lý vi phạm trong quản lý đô thị nói chung. Các hành vi xâm hại văn hóa, di sản cụ thể sẽ phải dẫn chiếu theo Luật Di sản văn hóa hiện hành hoặc các văn bản dưới luật (Nghị định) hướng dẫn riêng cho đô thị đặc biệt này.

Đề xuất bổ sung một số điều khoản liên quan đến nội dung văn hoá – xã hội và di sản đô thị

Quan điểm dựa trên định hướng quan trọng: Thứ nhất, xác định rõ trong các nguyên tắc phát triển rằng văn hóa, di sản, ký ức đô thị và vốn xã hội là nền tảng cấu thành bản sắc và năng lực cạnh tranh của đô thị đặc biệt.

Thứ hai, bổ sung cơ chế đánh giá tác động văn hóa – xã hội đối với các dự án lớn như TOD, tái thiết đô thị, cải tạo khu trung tâm lịch sử, kinh tế đêm hoặc phát triển ven sông. Việc đánh giá này cần được xem như một phần bắt buộc tương tự đánh giá tác động môi trường.

Thứ ba, có cơ chế bảo vệ các “không gian ký ức đô thị”, bao gồm chợ truyền thống, khu phố lịch sử, cảnh quan sông nước, không gian sinh hoạt cộng đồng và các dạng di sản sống khác, thay vì chỉ tập trung vào các di tích riêng lẻ.

Thứ tư, tăng cường vai trò tham gia của cộng đồng cư dân trong quá trình quy hoạch, tái thiết và quản lý di sản đô thị; bảo đảm người dân không chỉ là đối tượng bị tác động mà còn là chủ thể tham gia phát triển đô thị.

Thứ năm, coi vốn xã hội như một dạng “hạ tầng mềm” của đô thị đặc biệt, bên cạnh hạ tầng giao thông hay kỹ thuật. Một thành phố hiện đại nhưng thiếu sự gắn kết cộng đồng, thiếu bản sắc và suy giảm đời sống văn hóa sẽ khó có thể phát triển bền vững và cạnh tranh ở tầm quốc tế.

Dựa trên các nguyên tắc: Vốn văn hoá, di sản TPHCM trong không gian mới; Cân bằng giữa phát triển kinh tế đô thị và giữ gìn bản sắc văn hóa cốt lõi; Bảo tồn di sản là phương thức đặc thù của phát triển bền vững; Đối chiếu với Luật thủ đô 2024, cụ thể điều 20 và 21; Đưa Nghị quyết 80 về Phát triển văn hoá VN vào thực tiển ở góc độ luật hoá.

Để khắc phục những hạn chế về nội dung phát triển văn hóa và bảo tồn di sản trong một đạo luật mang tính chiến lược như Luật Đô thị đặc biệt, xin đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm "gia cố" và làm cho Dự Luật mang tính toàn diện hơn.

Thiết kế lại cấu trúc điều luật (định danh rõ "Di sản"): Hiện tại, di sản văn hoá đang bị "gộp chung" vào nhóm phát triển kinh tế - xã hội tại Điều 23 và 24. Để nâng tầm và có công cụ quản lý mạnh mẽ hơn, cần tách hoặc bổ sung một Điều luật riêng biệt: Ví dụ, bổ sung "Điều 23 khoản a. Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và kiến trúc cảnh quan đô thị đặc biệt".

Lý do là vì đô thị đặc biệt luôn đối mặt với áp lực "đập cũ xây mới". Việc có một điều luật riêng sẽ tạo hành lang pháp lý để thành phố ban hành danh mục các công trình kiến trúc đô thị có giá trị lịch sử, ký ức (dù chưa được xếp hạng di tích cấp quốc gia) để bảo vệ.

Bổ sung các công cụ kinh tế và nguồn lực đặc thù (khắc phục hạn chế tài chính): Tại Chương VI (Nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt), cần lồng ghép các cơ chế tài chính đặc thù cho văn hóa và di sản thay vì chỉ tập trung cho hạ tầng hay công nghệ, cụ thể:

Bổ sung "Quỹ bảo tồn di sản đô thị" (tại Điều 31 hoặc Điều 36): Quỹ này được trích một tỷ lệ % nhất định từ nguồn thu đấu giá đất, thuế bất động sản, hoặc doanh nghiệp khai thác du lịch tại chính đô thị đó.

Cơ chế chia sẻ lợi ích và hỗ trợ tư nhân: Nhiều di sản đô thị thuộc sở hữu tư nhân (nhà phố cổ, biệt thự cũ). Luật cần quy định chính sách hỗ trợ kinh phí trùng tu hoặc ưu đãi thuế cho người dân đang sinh sống và giữ gìn di sản, giúp họ không phải tự ý cơi nới, phá dỡ công trình.

Cơ chế "Chuyển nhượng quyền phát triển" (Transfer of Development Rights - TDR): Đây là công cụ rất thành công trên thế giới. Nếu một chủ sở hữu có khu đất di sản bị khống chế chiều cao (theo Điều 11), họ có quyền bán "phần chiều cao không được xây dựng đó" cho các nhà phát triển ở khu vực đô thị mới để đổi lấy tiền bảo tồn di sản.

Hoàn thiện "Chế tài" và "Cơ chế đặc cách" (khắc phục hạn chế tại Điều 43): Để Điều 43 (Xử lý vi phạm, loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý) có tính răn đe cao trong lĩnh vực này, cần bổ sung chế tài kinh tế cực mạnh vượt khung. Theo đó, cần cho phép đô thị đặc biệt áp dụng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực di sản, xây dựng trái phép trong vùng đệm di sản cao gấp 2 - 3 lần so với quy định chung của cả nước.

Biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt, đó là buộc khôi phục lại nguyên trạng (nếu có thể) hoặc tịch thu phần lợi nhuận bất hợp pháp do việc phá hoại di sản/xây dựng sai phép mang lại.

Cơ chế "Loại trừ trách nhiệm" (miễn trách nhiệm pháp lý) phù hợp cho bảo tồn: Tại Điều 43 có nhắc đến "loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý". Cần áp dụng cơ chế này cho các cơ quan, cá nhân thực hiện thí điểm các giải pháp bảo tồn mang tính đổi mới sáng tạo, mạo hiểm nhằm cứu vãn di sản cấp bách, tránh việc sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến việc di sản bị xuống cấp theo thời gian mà không ai dám can thiệp.

Tích hợp văn hóa vào quy hoạch hạ tầng và không gian ngầm: Tại Điều 10 (Quy hoạch Thành phố) và Điều 11 (Quản lý không gian ngầm/cao): Cần quy định bắt buộc phải có báo cáo "Đánh giá tác động di sản" (Heritage Impact Assessment - HIA) trước khi phê duyệt bất kỳ dự án hạ tầng lớn nào (như tàu điện ngầm metro, cầu vượt, cao tốc đô thị) đi qua khu vực nội đô lịch sử. Điều này ngăn chặn kịch bản hạ tầng hiện đại vô tình "bóp nghẹt" hoặc làm sụt lún các di sản kiến trúc trên mặt đất.

Phát triển "Mô hình kinh tế ban đêm" gắn với bản sắc bản địa: Tại Điều 24: Cần làm rõ tiêu chí các "Khu phát triển thương mại và văn hóa". Tránh tình trạng kinh tế ban đêm biến thành các khu phố nhậu nhẹt, bar, pub rập khuôn, mất bản sắc. Luật cần định hướng ưu tiên không gian cho các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật đường phố, trình diễn di sản phi vật thể và phát triển các không gian bảo tàng mở về đêm.

Ý nghĩa và giá trị của Luật đô thị đặc biệt trong giai đoạn mới

Luật Thủ đô đã tạo ra một hành lang pháp lý toàn diện từ việc định danh, bảo tồn không gian, phân bổ nguồn lực công cho đến việc xã hội hóa, thiết lập các quỹ tài chính và mô hình kinh tế đặc thù nhằm bảo vệ di sản và phát huy tối đa "vốn văn hóa" lâu đời của Thăng Long - Hà Nội.

Trong đó, vấn đề văn hoá và di sản đô thị được đưa lên thành một nội dung rất quan trọng, thậm chí có thể nói là một trong những “trụ cột bản sắc” để xác định tính đặc thù của Hà Nội. So với Luật Thủ đô 2012, luật mới mở rộng đáng kể cách tiếp cận: không chỉ bảo tồn di tích riêng lẻ mà hướng tới bảo vệ không gian văn hóa đô thị lịch sử, ký ức đô thị và cảnh quan văn hóa của Thủ đô.

Việc bổ sung các nội dung trên vào Luật Đô thị đặc biệt (TP.HCM) không chỉ giúp hoàn thiện tư duy phát triển đô thị đặc biệt, mà còn góp phần bảo đảm cho quá trình hiện đại hóa của TP.HCM sẽ không đánh đổi bằng sự đứt gãy ký ức đô thị và suy giảm bản sắc văn hóa – xã hội, vì đó là nguồn lực nội sinh rất quan trọng của thành phố trong hiện tại và tương lai. Đồng thời khẳng định rằng, nguồn lực của TP.HCM đóng góp cho cả nước không chỉ từ kinh tế mà còn từ nguồn lực văn hoá độc đáo và nhân văn.

Luật đô thị đặc biệt bước đầu tạo ra "chiếc áo pháp lý" cho đô thị vận động trong nền kinh tế thị trường, nhưng để bảo vệ những "giá trị cốt lõi, dễ tổn thương" của văn hóa và di sản đô thị trước làn sóng đô thị hóa, phần nội dung chi tiết của các điều luật này cần được bổ sung các điều khoản cụ thể làm công cụ quản lý và phát triển văn hóa nói chung, di sản nói riêng một cách hiệu quả và bền vững.

TP.HCM, ngày 22.5.2026

TS. Nguyễn Thị Hậu (Tổng Thư ký Hội khoa học Lịch sử TP.HCM - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM)



Các công trình của Hội Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm, Nhà thờ Thủ Thiêm là những di chỉ văn hóa, lịch sử, tôn giáo… ở Khu đô thị Thủ Thiêm (quận 2, TP.HCM) đã tồn tại gần 180 năm qua. Ảnh tư liệu: Nguyễn Minh Tú


LỚP SINH VIÊN ĐẠI HỌC TỔNG HỢP NĂM ẤY

 

Buổi họp mặt của chúng tôi - lớp Sử khóa 1976–1980 của trường Đại học tổng hợp TPHCM - diễn ra trong một phòng học tại ngôi trường cũ. Không nhiều thủ tục nhưng trang trọng và ấm áp, buổi họp mắt tập hợp những người đã có mặt nửa thế kỷ ở thành phố này. Có người mái tóc đã “muối nhiêu hơn tiêu”, có người đi lại khó khăn. Những gương mặt trẻ năm nào giờ in hằn dấu vết thời gian, gặp lại nhau vẫn ồn ào, vui vẻ, thậm chí tinh nghịch như thời chúng tôi mới bước vào giảng đường đại học.

Năm 1976, đất nước vừa thống nhất, từ nhiều tỉnh thành chúng tôi thi vào Khoa Sử trường Đại học Văn khoa, sau này trở thành Đại học Tổng hợp TP.HCM và nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM. Hơn 150 sinh viên của lớp Sử khóa ấy có người từ miền Bắc mới vào Nam lần đầu. Có người từ miền Trung đi tàu mấy ngày mới tới. Rất nhiều anh vừa rời quân ngũ, nguyên bộ quần áo lính bước vào giảng đường với tuổi đời lớn hơn bạn học vài năm và những ký ức chiến tranh chưa kịp nguôi ngoai.

Thời đó thành phố này có nhiều điều rất khác bây giờ. Những con đường chưa chật kín xe hơi xe máy như bây giờ, đường Tôn Đức Thắng còn những hàng cây cổ thụ rợp bóng mát. Ngôi trường chỉ có một toà nhà 3 tầng xây từ thời Pháp và 2 dãy nhà thấp. Sinh viên sống ở ký túc xá hay ở cùng gia đình cũng đều khó khăn chật vật. Ngày học hai buổi thì mang theo cơm đựng trong lon guy gô, có khi buổi trưa chỉ có ổ bánh mì chia nhau. Những khi các thầy cô từ Đại học tổng hợp Hà Nội vào giảng dạy, sinh viên cả mấy khoá ngồi học chật kín giảng đường lớn, chăm chú nghe không biết đã chuông hết giờ. Người học sử ngày ấy không nghĩ nhiều đến lợi ích nghề nghiệp hay danh vị, chúng tôi học với niềm tin giản dị rằng đất nước vừa thống nhất cần tri thức để dựng xây tương lai.

Thời gian trôi đi nhanh, chớp mắt đã 50 năm. Sau khi tốt nghiệp phần lớn sinh viên lớp tôi nhận công tác ở các tỉnh thành trong cả nước, nhiều người trở về quê hương, một phần ở lại TP.HCM. Họ đã lập gia đình ở đây, sinh con đẻ cái, làm việc rồi nghỉ hưu, và thành phố này từ nơi xa lạ đã thành quê hương thứ hai. Có người trở thành nhà giáo, nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa, nhà báo, cán bộ quản lý… Có người lặng lẽ làm một công việc bình thường nhưng nuôi con thành đạt, sống tử tế và tận tụy như chính cách thế hệ chúng tôi từng được giáo dục. Điều xúc động nhất trong buổi họp mặt không phải là những lời phát biểu trang trọng, mà là những câu chuyện nhỏ về tình bạn, việc học hành, sinh hoạt lớp được kể lại. Nửa thế kỷ đủ dài để một khoá sinh viên với bao buồn vui, hạnh phúc và cả những mất mát… trở thành một phần ký ức của thành phố.

Trong những câu chuyện về TP.HCM hôm nay thấp thoáng nỗi băn khoăn về sự “hiện đại hoá” nhanh chóng. Là những người đã chứng kiến thành phố lớn lên từng ngày: từ thời bao cấp thiếu thốn sang thời mở cửa sôi động, từ những khu nhà cấp 4 thành khu đô thị nhà cao tầng và biệt thự, từ một đô thị sông nước còn mang nhiều dấu vết Sài Gòn xưa sang một siêu đô thị đang phát triển hạ tầng với tốc độ chóng mặt… Chúng tôi vui mừng khi thấy thành phố năng động hơn, đời sống khá hơn, nhiều cơ hội mở ra cho các thế hệ trẻ. Nhưng bên cạnh đó còn một cảm giác tiếc nuối. Có người nói rằng thành phố bây giờ giàu sang hơn, hiện đại hơn nhưng cảnh quan quen thuộc dần biến mất, cuộc sống vội vã quá nên con người không kịp tạo ra ký ức. Trong cuộc đua phát triển, thành phố đã không kịp giữ lại nhiều chứng tích lịch sử - văn hoá của chính mình.

Điều mất mát ấy khiến những người học sử cảm nhận rõ hơn ai hết. Bởi vì, thế hệ sinh viên chúng tôi được các thầy cô truyền lại rằng, học lịch sử không chỉ để nhớ lại quá khứ, mà còn để hiểu rằng một thành phố, một đất nước nếu chỉ phát triển bằng tốc độ kinh tế thì sẽ có lúc đánh mất chiều sâu văn hoá của nó. Một đô thị lớn không chỉ cần những tòa nhà bê tông hay công trình hoành tráng, mà còn cần ký ức, bản sắc và sự gắn bó của con người với nơi họ sống.

Trong buổi họp mặt, có người nói vui rằng lớp Sử năm xưa giờ ai cũng trở thành “nhân chứng lịch sử”, nghĩ kỹ thì đúng thật. Chúng tôi đã sống xuyên qua những biến động lớn nhất của đất nước hiện đại: chiến tranh, hòa bình, thời bao cấp, đổi mới, đô thị hóa và hội nhập. Mỗi người là một mảnh ghép ký ức của thời đại. Có lẽ vì vậy mà ở tuổi trên dưới bảy mươi, điều chúng tôi quan tâm hơn là một thành phố đáng sống không chỉ là nơi có tăng trưởng kinh tế cao, mà còn là nơi con người cảm thấy bình an, là nơi ký ức của mọi người đều được trân trọng.

TP.HCM hôm nay rộng lớn và hiện đại hơn rất nhiều so với năm 1976. Nhìn kỹ vào hành trình của nó sau ngày thống nhất, sẽ thấy trong đó có dấu chân của biết bao người nhập cư như lớp Sử khóa ấy. Họ đến từ nhiều miền quê khác nhau, mang theo giọng nói, lối sống khác nhau, rồi cùng góp phần tạo nên diện mạo của thành phố này bằng lao động, tri thức và cả sự gắn bó bền bỉ của đời sống thường ngày. Có lẽ đó cũng là một đặc điểm rất riêng của Sài Gòn – TP.HCM: thành phố luôn mở lòng với những người đến đây để sống và cống hiến. Và rồi chính những con người ấy, sau nhiều năm đã xem nơi này như quê hương thật sự của mình.





https://nld.com.vn/cuoc-thi-toi-yeu-thanh-pho-cua-toi-lop-sinh-vien-dai-hoc-tong-hop-nam-ay-196260512161226544.htm


"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...