Nguyễn Thị Hậu
1.
Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người
nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không
phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải
một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm
nay là cả một dòng sông. Dòng
sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực
thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay
bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng
sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.
Người
đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó
với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn
qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng
suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những
địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và
mang lại cho tôi bao cảm xúc.
Con
tàu từ từ rời bến. Thành
phố lùi dần phía sau. Một
cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.
Có
lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành
phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại
tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông –
Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.
Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng
trọt.
Người
hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ
thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá
ngầm, về thủy triều, về
những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy
kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế
hệ.
Trong
nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng
ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về
dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay
hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến
đi. Có lẽ vì thế mà những
người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức"
của dòng sông.
2.
Con
tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều
hơn. Những khoảng xanh mở
rộng. Dòng sông bắt đầu cho
thấy một gương mặt khác, không
còn là dòng sông của cảnh quan đô thị mà là dòng sông của lao động và giao thương.
Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu
lịch sử Nam Bộ,
hơn ba trăm năm trước,
khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các
tuyến sông. Trước họ là những
cộng đồng cư dân bản địa
đã sinh sống tại đây từ
nhiều thế hệ. Sau họ là những
thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần
Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút
nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước
đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ
đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại
vùng đất mới.
Nếu
nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như
mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là
những hành lang văn hóa: Con
người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ
thuật... Tất cả đều từng theo
dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại
thường sinh ra bên sông. Với
Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng,
địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.
Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên,
những thuyền buôn từ
miền Trung vào, những
tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất
nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối,
trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.
Trong
nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải
là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá
khứ và hiện tại. Nhìn
từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch
sử thành phố. Các công trình có thể
thay đổi. Đường phố có thể thay
đổi. Thậm chí đường chân
trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng
dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để
định vị cuộc sống của mình.
3.
Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng
lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất
gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc
những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của
thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng;
tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình
hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di
sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương
lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình
đến hiện tại.
Cả hai nghề đều làm việc với những thứ
không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa
tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch,
những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với
người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình,
một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những
lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm.
Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt
ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".
Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều
làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại
khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy
vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không
phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi
từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng
thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận
ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai
nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo
tồn.
Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều
khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi
ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định
tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần
chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá
khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu
dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của
dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu
biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho
hiện tại và tương lai.
Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất
nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa
tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác.
Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi
lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch
sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất
hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.
Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng
nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ.
Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu
đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng có ích gì cho một thành phố đang phát triển
như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không
thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết
định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi
cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái
giá phải trả sẽ rất lớn.
Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung
tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường
chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay
đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã
hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể
tách rời câu chuyện của những dòng sông.
TP. Hồ Chí Minh,
14.6.2026
https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html
Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét