Hiển thị các bài đăng có nhãn sggp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sggp. Hiển thị tất cả bài đăng

Kiến tạo siêu đô thị giàu bản sắc và ký ức

 Dự thảo Luật Phát triển đô thị thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ về phân quyền, tự chủ và tạo động lực phát triển; đồng thời bước đầu đề cập đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, du lịch đô thị và các khu phát triển thương mại - văn hóa. Đây là những hướng tiếp cận rất cần thiết, kịp thời.

Tuy nhiên, văn hóa và di sản nên được đặt ở vị trí sâu hơn trong tư duy phát triển đô thị. Bởi một đô thị đặc biệt không chỉ đặc biệt bởi quy mô kinh tế hay hệ thống hạ tầng, mà còn bởi lịch sử, ký ức đô thị, sự đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo và gắn kết cộng đồng. Đó chính là “nguồn vốn mềm”, tạo nên sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của thành phố trong dài hạn.

Phát triển kinh tế gắn liền ký ức đô thị

Trong quá trình phát triển, nếu văn hóa chỉ được nhìn như một ngành kinh tế để khai thác thông qua du lịch, kinh tế đêm hay công nghiệp văn hóa thì chúng ta mới nhìn thấy một phần giá trị của văn hóa. Văn hóa còn có vai trò là nền móng tinh thần của đô thị. Một con đường cũ, ngôi biệt thự, khu chợ, bến sông, đình làng, khu phố có lịch sử hàng trăm năm; một nghề thủ công, lễ hội, món ăn hay ký ức của cộng đồng cư dân... đều là những lớp trầm tích tạo nên diện mạo và tâm hồn thành phố.

Trong dự thảo mới nhất Luật Phát triển đô thị, những nội dung liên quan văn hóa chủ yếu tập trung ở Chương II (về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt), Mục 4 (về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội), Điều 25 đã mở ra cơ sở cho phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế ban đêm và các khu thương mại - văn hóa. Dự thảo cũng có những quy định liên quan đến bảo tồn không gian văn hóa, cảnh quan môi trường, di tích lịch sử - văn hóa trong quản lý không gian đô thị. Tuy nhiên, điều còn thiếu là cơ chế bảo vệ những giá trị văn hóa chưa được “xếp hạng” nhưng đang sống trong đời sống đô thị: ký ức đô thị, cảnh quan lịch sử, không gian văn hóa cộng đồng, những khu dân cư lâu đời và cộng đồng cư dân gốc. Đây là khoảng trống nên được xem xét luật hóa.

Một trong những thách thức lớn nhất của siêu đô thị là áp lực “đập cũ xây mới”. Khi giá trị đất tăng lên, những công trình cũ dễ bị xem là vật cản của phát triển. Nhưng nếu tất cả những gì cũ đều được thay thế bằng những công trình mới, diện mạo đô thị có thể trở nên hiện đại mà giống nhau; giàu có hơn nhưng nghèo ký ức hơn.

Vì thế trong dự thảo luật, nên xem xét bổ sung một điều riêng về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, kiến trúc và cảnh quan đô thị đặc biệt, thay vì chỉ gộp di sản trong các điều khoản phát triển kinh tế - xã hội. Điều này sẽ tạo cơ sở để TPHCM nói riêng và các đô thị lớn, đô thị đặc biệt nói chung xây dựng danh mục những công trình, không gian kiến trúc có giá trị lịch sử, văn hóa, ký ức đô thị, kể cả những công trình chưa được xếp hạng di tích. Quan trọng hơn, bảo tồn không nên chỉ là “giữ lại một công trình”, mà phải bảo vệ cả không gian, cảnh quan và cộng đồng làm nên giá trị của công trình ấy. Đặc biệt, đối với các dự án TOD (mô hình quy hoạch và phát triển đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng làm trung tâm), chỉnh trang trung tâm, tái thiết đô thị hay phát triển đô thị nén, cần có đánh giá tác động văn hóa - xã hội và đánh giá tác động di sản trước khi quyết định. Với những dự án hạ tầng lớn đi qua khu vực đô thị lịch sử, nên bắt buộc thực hiện đánh giá tác động di sản (HIA), để hạ tầng hiện đại không làm tổn hại những di sản vật thể hiện hữu.

Di sản phải trở thành nguồn lực của phát triển

Ngày nay, bảo tồn và phát triển không phải là hai cực đối lập nhau. Nếu có cơ chế phù hợp, di sản có thể trở thành nguồn lực kinh tế, tạo việc làm, thu hút du lịch, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo và nâng cao giá trị không gian đô thị. Do đó, trong quá trình xây dựng luật nên chú ý thiết kế các công cụ kinh tế đủ mạnh. Trước hết, có thể nghiên cứu thành lập Quỹ bảo tồn di sản đô thị, được hình thành từ một phần nguồn thu qua khai thác giá trị đất, đấu giá đất, các hoạt động du lịch và những nguồn hợp pháp khác. Bên cạnh đó, thiết kế chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế đối với những cá nhân, tổ chức đang sở hữu và gìn giữ các công trình có giá trị di sản. Đồng thời nghiên cứu thêm cơ chế chuyển nhượng quyền phát triển (TDR): nơi nào phải hạn chế chiều cao để bảo vệ di sản thì phần quyền phát triển bị hạn chế có thể được chuyển nhượng cho khu vực khác, tạo nguồn lực tài chính quay trở lại phục vụ bảo tồn. Đây là cách để biến “chi phí bảo tồn” thành một phần của cơ chế thị trường, thay vì chỉ trông chờ ngân sách. Như vậy, người dân giữ một căn nhà cổ không còn cảm thấy di sản là gánh nặng; doanh nghiệp đầu tư vào bảo tồn không chỉ làm việc thiện; và Nhà nước có thêm công cụ để điều tiết lợi ích giữa bảo tồn và phát triển.

Phát triển siêu đô thị không phải là cuộc chạy đua xem thành phố nào có nhiều tòa nhà cao hơn, đường rộng hơn hay dự án lớn hơn. Một đô thị đáng sống và có sức cạnh tranh lâu dài phải là nơi cái mới có thể lớn lên mà cái cũ không bị lãng quên. TPHCM thúc đẩy những tuyến metro hiện đại nhưng vẫn gắn với những con phố có ký ức; cần những trung tâm tài chính quốc tế nhưng cũng song hành những không gian văn hóa cộng đồng; cần những khu đô thị mới nhưng không nên để những cộng đồng cư dân lâu đời biến mất khỏi bản đồ ký ức. Bởi sau cùng, hạ tầng tạo nên hình hài của đô thị, kinh tế tạo nên sức mạnh của đô thị, nhưng văn hóa và di sản mới góp phần tạo nên linh hồn của đô thị.

4 nhóm giải pháp cốt lõi

Dự thảo Luật Phát triển Đô thị đang tạo ra một “chiếc áo pháp lý” mới để TPHCM vận động mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế thị trường. Dự thảo luật có thể tập trung vào 4 nhóm giải pháp cốt lõi: một là, định danh và bảo vệ di sản, ký ức, cảnh quan và không gian văn hóa đô thị; hai là, tích hợp đánh giá văn hóa - di sản vào quy hoạch, hạ tầng và các dự án tái thiết lớn; ba là, hình thành các công cụ tài chính, ưu đãi và cơ chế thị trường để biến bảo tồn thành một nguồn lực phát triển; bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế đêm trên nền tảng bản sắc địa phương, tránh thương mại hóa và sân khấu hóa văn hóa.

TPHCM và nhiều đô thị lớn khác có đủ điều kiện để phát triển kinh tế ban đêm. Nhưng kinh tế đêm không nên được hiểu đơn giản là những khu phố ăn uống, bar, pub hay mua sắm. Đó phải là những không gian kết hợp thương mại với văn hóa bản địa: nghệ thuật đường phố, trình diễn di sản phi vật thể, bảo tàng mở về đêm, không gian sáng tạo, chợ truyền thống, biểu diễn nghệ thuật và các tuyến phố di sản. Khi đó, du khách đến TPHCM không chỉ để mua sắm hay ăn uống, mà còn để nghe câu chuyện của thành phố, nhìn thấy lịch sử trong đời sống hiện tại, cảm nhận sự thân thiện phóng khoáng của người dân, và khi mang một phần ký ức ấy trở về họ luôn mong sẽ có ngày quay lại.

https://www.sggp.org.vn/kien-tao-sieu-do-thi-giau-ban-sac-va-ky-uc-post866152.html



ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thị mà là dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





TỪ CẢNH QUAN ĐÔ THỊ ĐẾN KHÔNG GIAN DI SẢN

  Nguyễn Thị Hậu (Tham gia Tọa đàm Cảnh quan đô thị, ngày 10.9.2026) Người thành phố mỗi ngày đi lại trên những con đường quen thuộc, nhìn...