Hiển thị các bài đăng có nhãn huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn huế. Hiển thị tất cả bài đăng

“MỘT CÁI NHÌN ĐA CHIỀU VÀ NHẤT QUÁN VỀ HUẾ VÀ TRIỀU NGUYỄN”

  

Vài năm gần đây một hiện tượng tích cực xuất hiện và ngày càng phát triển trên thị trường sách, đó là sách nghiên cứu, khảo cứu về lịch sử - văn hóa ngày càng nhiều về số lượng và chủ đề, từ các nhà xuất bản và các công ty sách… Những tác giả cả trong và ngoài nước, đủ các lứa tuổi, “hàn lâm” và “không chính thống” đã mang lại nhiều thông tin, tư liệu và nhận thức mới cho độc giả là người nghiên cứu hay người yêu thích tìm hiểu lịch sử - văn hóa.

Trần Đức Anh Sơn hiện diện trong hiện tượng này với một nét riêng!

Là một nhà nghiên cứu thuộc thế hệ lớn lên sau 1975 và trưởng thành trong nghiên cứu khoa học từ sau Đổi mới 1986. Bối cảnh xã hội thời “mở cửa” về kinh tế nhưng chưa thật sự “mở” về học thuật cũng đã giúp cho thế hệ này tiếp nhận “truyền thống nghiên cứu” lịch sử - văn hóa với một tâm thức mới. Có thể nhận thấy điều này ở Trần Đức Anh Sơn. Anh là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu phong phú về đề tài, đa dạng về cách tiếp cận và khá gần gũi với người đọc bởi cách diễn đạt chính xác, khoa học nhưng giản dị và nhiều khi hóm hỉnh.

Huế - Triều Nguyễn một cái nhìn là một tác phẩm như vậy. Cuốn sách gồm 47 bài viết về nhiều lĩnh vực, phân chia thành hai chủ đề Huế - di sản văn hóa (32 bài) và Triều Nguyễn - những vấn đề lịch sử (15 bài). So với lần tái bản thứ ba thì lần này tác giả đã rút bớt 2 bài ở chủ đề Huế - Di sản văn hóa (do đã in trong ấn phẩm Kiểu Huế, tái bản năm 2021), nhưng bổ sung thêm 3 bài cho chủ đề Triều Nguyễn - Những vấn đề lịch sử. Đây là những bài khảo cứu tác giả mới viết trong 3 năm gần đây, công bố nhiều tư liệu lịch sử mới, với nhiều kiến giải thú vị, giúp độc giả hiểu thêm những vấn đề lịch sử của Việt Nam vào thời Nguyễn, vốn đang bị khuất lấp bởi nhiều lý do khác nhau.

Đọc kỹ các bài thì có thể nhận ra cách phân chia thành hai chủ đề như trên cũng chỉ là “tạm chia”, bởi, văn hóa và lịch sử đâu thể nào tách bạch rạch ròi? Có sự kiện, nhân vật hay quá trình lịch sử nào có thể đứng ngoài và không chịu ảnh hưởng từ những yếu tố và truyền thống văn hóa một vùng đất, một quốc gia, một thời đại? Và ngược lại, văn hóa một vùng đất, một quốc gia hay của một thời đại thường được phản ánh và nhận diện qua lịch sử, nhất là ở/qua những trường hợp điển hình.

Sự đa chiều chính là điều thú vị của cuốn sách nói chung và từng bài nói riêng. Có thể nhận thấy sự đa chiều từ nhìn nhận về sinh thái nhân văn, để tìm hiểu, phân tích, đánh giá lịch sử - sự kiện, để liên kết các yếu tố, thành tố văn hóa. Đa chiều để đặt Huế và Triều Nguyễn trong dòng chảy văn hóa của đất nước. Nhưng đồng thời lại nhất quán trong tâm thế người nghiên cứu: tâm thế cởi mở và thẳng thắn trình bày suy nghĩ, nhận định, cởi mở tiếp nhận trao đổi với ý kiến đồng thuận hay trái chiều, cởi mở về sự đánh giá tư liệu điền dã hay sử liệu mới phát hiện...

Với riêng tôi thì Trần Đức Anh Sơn là một trong số ít học trò của GS. Trần Quốc Vượng đã thể hiện được trong các công trình của mình những gì mà Thầy Vượng khởi lập và truyền đạt cho nhiều thế hệ học trò. Chúng tôi tạm gọi đó là “Trường phái Trần Quốc Vượng”: phương pháp liên ngành đặt vấn đề/lĩnh vực trong “mạng/net” để có thể phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử. Vì nếu chỉ căn cứ vào “chính sử” hay “huyền sử” ta khó có thể lý giải, hiểu được cặn kẽ những gì đã xảy ra. Nếu không từ góc nhìn văn hóa học (theo nghĩa rộng nhất) thì “lịch sử” còn lại rất ít do tầm nhìn hạn hẹp của người đời sau. Từ đó, việc đặt lại vấn đề với những điều tưởng chừng đã “an bài” trong lịch sử - văn hóa luôn là “thao tác tư duy” cần thiết.

Từ một góc nhìn khác, một chiều kích khác, một phương pháp khác… sẽ cho những nhận thức, hiểu biết mới. Không thể có nhận thức mới nếu thao tác tư duy cũ. Ngoài học thuật, nhiều học trò của Thầy Vượng còn học ở Thầy thái độ dấn thân với xã hội: từ sự hiểu biết sâu sắc lịch sử - văn hóa đến sự mẫn cảm trước những hiện tượng báo động sự bất ổn xã hội… Từ đó đã có tiếng nói cảnh báo, phản biện với cái Tâm của một người trí thức chân chính.

Giữa tôi và Trần Đức Anh Sơn, tuy chênh nhau về tuổi tác, khác nhau về nơi sinh trưởng, nhưng có nhiều điểm chung về nghề nghiệp: cùng học lịch sử, cùng làm công tác bảo tàng, rồi giảng dạy đại học không chỉ về lịch sử, khảo cổ mà còn về văn hóa, du lịch trên nền tảng kiến thức chuyên sâu được đào tạo bài bản và “học hành tử tế” như chúng tôi tự nhận. Và do “số phận” chúng tôi đều phải tạm rời lĩnh vực chuyên môn sâu để đảm nhận công việc liên quan đến văn hóa - xã hội hiện nay. Có lẽ nhờ vậy mà Trần Đức Anh Sơn và tôi, trong nhiều công trình nghiên cứu sau này, tính thực tiễn thể hiện rõ nét hơn, vừa là để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra, vừa là “trả lại” cho xã hội những kiến thức khoa học để góp phần nâng cao tri thức cho cộng đồng.

Xin vui mừng và trân trọng giới thiệu với bạn đọc công trình vô cùng thú vị của Trần Đức Anh Sơn: Huế - Triều Nguyễn một cái nhìn - in lần thứ tư và tôi tin rằng, Trần Đức Anh Sơn sẽ có những công trình tiếp theo về chủ đề này.

                                                                                   Sài Gòn, 20.10.2023

                                                                                 TS. NGUYỄN THỊ HẬU

Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam







MỘT DÒNG XANH TUYỆT VỜI CỦA HUẾ


Mỗi khi đến Huế tôi thường được đi thuyền trên sông Hương. Từ thành phố với cảnh quan đôi bờ là đường phố, nhà cửa... rồi phố xá thưa dần, vườn xanh đồi cây hiện ra. Gần đến Phá Tam Giang là một vùng trời mây sông nước mênh mang... Lần nào sông Hương cũng mang lại cho tôi cảm giác bồi hồi như được trở về xa xưa, thủa các chúa Nguyễn đi tìm nơi xây dinh rồi lập phủ. Tôi cũng như nhiều người khác, quen thuộc với sông Hương và cung điện lăng tẩm nhưng lại không biết rằng, còn có một số dòng sông khác cùng với Hương Giang góp phần tạo nên hình hài kinh thành Huế.

May thay, vào một ngày thu nắng vàng rực rỡ, người bạn Huế đã đưa tôi đi thuyền trên một dòng sông nổi tiếng khác: Ngự Hà. Lần đầu tiên đi thuyền dọc theo những xóm làng xưa của kinh thành cùng với những câu chuyện hấp dẫn của bạn, tôi nhận ra nhiều điều thú vị của sông nước vùng đất cố đô.
Bắt đầu từ một bến thuyền bên bờ sông Hương, con thuyến đưa tôi đi vào dòng Ngự Hà. Chảy vòng từ Tây sang Đông của Kinh thành Huế, dòng Ngự Hà (dân gian còn gọi là sông Vua) có vai trò quan trọng. Bạn kể rằng, “khi xây đắp Kinh Thành, sông Kim Long bị lấp đoạn phía trên, còn đoạn ở hạ lưu được cải tạo thành Ngự Hà và một đoạn khác của sông này được biến cải thành hồ Tịnh Tâm và hồ Học Hải ở trong Kinh Thành. Hạ lưu sông Bạch Yến được chỉnh dòng, trở thành sông hộ thành ở phía Bắc của Kinh Thành. Vua Gia Long cho đào thêm sông Đông Ba và sông Kẻ Vạn, làm hai con sông hộ thành ở hai mặt đông và tây của tòa thành. Hai sông này kết hợp với sông Hương ở phía Nam và sông Bạch Yến ở phía Bắc, tạo thành một “tứ giác nước” bao quanh Kinh Thành. Ngự Hà là dòng sông nhân tạo chảy giữa lòng kinh thành theo hình thước thợ, nối thông với “tứ giác nước” thông qua hai thủy khẩu là Tây thành thủy quan và Đông thành thủy quan, hợp thành hệ thống thủy đạo hoàn hảo, thông suốt từ ngoài vào trong, phục vụ đi lại và chuyên chở hàng hóa ra vào Kinh thành”.
Ngày nay sông Ngự Hà còn dài gần 4 km, chia Kinh thành Huế ra thành hai phần Nam và Bắc. Dòng sông chảy giữa màu xanh êm đềm, hai bờ sông kè đá chắc chắn, gần đây sông thường được nạo vét chỉnh trang nên nước trở lại trong xanh... Nếu đi trên sông Hương ta quen với những cồn Hến, cồn Dã Viên, Điện Hòn Chén, cầu Tràng Tiền, Kỳ đài, Ngọ Môn và những công trình kiến trúc tây phương khác... Thì theo dòng Ngự Hà ta sẽ được chiêm ngưỡng nhiều cầu xưa cống cổ, biết thêm những xóm làng lâu đời của kinh đô vàng son một thủa, khung cảnh làng quê thanh bình hiện ra như những bức tranh thủy mạc...
Dân gian vẫn truyền rằng, vào những chiều hè mát mẻ hay những ngày xuân đẹp trời, các vua Nguyễn thường dạo chơi trên thuyền rồng trên sông Ngự Hà, chắc hẳn không chỉ vì sự tiện lợi nhờ dòng sông trong “nội thành” mà còn vì phong cảnh hữu tình hai bên bờ sông. Mấy trăm năm đã qua mà cảnh quan nơi đây vẫn đủ sức quyến rũ du khách: thuyền đi qua đoạn nhà phố bảng hiệu quảng cáo chữ xanh đỏ nhưng cạnh đó là bến sông với những bậc thềm dài xây bằng gạch, sát bờ sông một cây cổ thụ cành lá sum sê ngả bóng rợp mặt nước... rồi những hàng phượng hàng me nối nhau trên bờ kè trông không khác một phố cổ nào đó ở miền Tây Nam bộ. Những ngôi nhà mái ngói rêu phong có hàng cau cao vút, lại có ngôi nhà lầu tím rực hàng bông giấy ngoài sân... Nhiều đoạn hai bên bờ sông là vườn tược và rặng tre la đà, trên vài cành tre còn vương mấy chiếc túi xốp, mảnh hộp bằng bìa, có lẽ là “bằng chứng” của một lần nước sông dâng cao. Thấp thoáng trên mặt sông in bóng khi thì ngọn tháp khi lại là cổng tam quan một ngôi chùa hiện lên giữa vườn cây tươi tốt. Không hiếm những đoạn sông hoàn toàn vắng lặng, dường như nước cũng ngừng chảy cho những bông lục bình dừng chân... Bỗng hiện ra cái vó bè buông chùng trên mặt nước, vài chiếc thuyền nho nhỏ neo lại, trên bờ một người đi câu ngồi dưới cái dù cắm sát mép, nước nét mặt trầm ngâm, dường như ông không quan tâm tới chiếc phao đang dập dềnh trên mặt nước... Rồi đến đoạn sông sát bên tường thành xây bằng gạch bên trên còn tháp canh nho nhỏ, hay một đoạn mặt nước lặng như hồ vươn lên những bông súng hồng tím duyên dáng...
Tôi chưa bao giờ hình dung Huế lại có cảnh sông nước giống miền Tây quê tôi như vậy, chỉ còn thiếu mấy chiếc cầu khỉ nữa thôi... Nhưng đấy lại là một khám phá thú vị của tôi. Theo dòng Ngự Hà cứ vài trăm met lại gặp một chiếc cầu ngang sông, phần lớn được xây dựng trong thời Nguyễn. Những chiếc cầu này hình thức cổ điển, hai bên xây lan can bằng gạch vữa, phía dưới có cửa cống đủ để cho thuyền bè qua lại. Mỗt chiếc cầu – cống đều có một dấu tích, một câu chuyện đặc biệt, nhưng tất cả đều khá rộng, nay đã được trải nhựa bằng phẳng, xe cộ qua lại đêm ngày mà vẫn vững vàng. Phía dưới vòm cống còn nguyên vật liệu xây dựng lúc đầu bằng đá hay gạch, nhìn từ xa những chiếc cầu dáng cong cong như chiếc lược gài trên dòng tóc xanh Ngự Hà.
Khi thuyền đi qua cây cầu cuối cùng trên sông Ngự Hà là Cầu Thủy quan, còn gọi là cống Tây Thành Thủy Quan, ngắm bờ kè gồm những viên đá xếp chồng lên nhau, rễ cây xuyên qua len lỏi bám chắc, chui vào đoạn cống dài âm u rêu xanh, hơi nước phả lên mát lạnh, nhìn ra đoạn “sông cụt” dày bèo và rau muống, mới có cảm nhận thực sự về một thời đã vĩnh viễn đi qua... Từ một phần của tự nhiên lại được bàn tay con người đào đắp, sông Ngự Hà và hệ thống cầu cống đã trở thành một thành tố gắn kết chặt chẽ với quần thể di sản kiến trúc đặc sắc của kiến trúc Kinh thành Huế, góp phần tạo nên vẻ đẹp tự nhiên cho tổng thể cảnh quan Cố đô.
Nhưng đáng quý hơn cả là cảnh quan thiên nhiên của dòng sông và những làng xóm cổ xưa, nay đã là phường nội thành nhưng chưa bị lấn át bởi beton kính thép của hiện tượng “đô thị hóa”. Từ lâu rồi tôi có đọc ở đâu đó một câu mà bây giờ mới “nghiêm sinh”: Huế đẹp vì Huế xanh! Không chỉ xanh ở những ngôi nhà vườn – một di sản về kiến trúc và lối sống Huế, mà Huế còn có những dòng xanh nguyên vẹn nét đẹp tinh tế dù đã gần trăm năm mất vị thế kinh thành, dù trải qua bao dâu bể chiến tranh. Đó là sự hòa trộn, gắn bó kỳ lạ giữa một Huế cung đình kiêu sa và một Huế của làng quê bình dị. Ngự Hà là một dòng xanh tuyệt vời như thế.

Nguyễn Thị Hậu
Báo Thừa Thiên - Huế Xuận Nhâm Dần



Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...