Tối 1/10 mình tham dự (online) tọa đàm MA CÀ RỒNG – MA QUỈ, TƯỞNG TƯỢNG VÀ BẢN SẮC, XÃ HỘI THÁI cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến, do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam (VSC), Trường Đại học Fulbright Việt Nam tổ chức. Vì thời gian có hạn nên chỉ chăm chú lắng nghe dù có nhiều điều muốn chia sẻ cùng tác giả - một học giả trẻ mà mình rất nể phục sức làm việc và những công trình khoa học của anh.
Nhà Dân tộc học Nguyễn Mạnh Tiến là tác giả của một số chuyên khảo được xuất bản gần đây, và đều là những cuốn sách nổi tiếng ngay khi vừa ra mắt độc giả. Các tác phẩm nổi bật của anh viết về văn hóa, con người và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam gồm:
• Những Đỉnh Núi Du Ca - Một Lối Tìm Về Cá Tính H'Mông: Công trình nghiên cứu đầu tay ra mắt năm 2014 và được tái bản nhiều lần, khắc họa đời sống và cá tính của người H'Mông qua nhiều năm đi thực địa.
• Sống Đời Của Chợ: Tác phẩm xuất bản năm 2017 viết về không gian văn hóa chợ phiên vùng cao.
• Khai Nguyên Rồng Tiên: Tác phẩm nghiên cứu về các huyền thoại nguồn gốc tộc người.
• Ma Cà Rồng – Ma Quỷ, Tưởng Tượng Và Bản Sắc Xã Hội Thái: Khảo cứu sâu sắc về thế giới tinh thần, quan niệm ma quỷ và bản sắc của người Thái.
Mình đã đọc những công trình này, chủ yếu để được có thêm những kiến thức về dân tộc học – nhân học, cũng như học thêm cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu liên ngành rất điển hình từ các công trình của Nguyễn Mạnh Tiến. Các công trình của anh lấy chủ đề về cộng đồng tộc người ở miền núi phía Bắc nhưng không lặp lại những gì mà nhiều công trình về dân tộc học trước đây đã thể hiện. Anh chọn những đề tài tưởng như không có gì to tát, mà nếu là người nghiên cứu kiểu “kinh nghiệm chủ nghĩa” thì sẽ nói, “a tưởng gì, cái đấy thì như thế như thế... hoặc, cái đấy ai mà chả biết...” Tuy nhiên, những cái “như thế như thế, ai chả biết” dưới góc nhìn “tinh tướng” nhưng sâu sắc của anh lại có quá nhiều điều không “như thế” nên nếu có ai đó “biết rồi” cũng chỉ “tưởng là biết” mà thôi.
Nay ghi lại vài ý nảy ra trong quá trình nghe tác giả trình bày, vừa như tự hiểu ra, vừa như một góc nhìn tham góp cùng tác giả.
1.
Điều tâm đắc đầu tiên của mình, đó là Nguyễn Mạnh Tiến thực hiện bằng phương pháp cơ bản DÂN TỘC CHÍ một cách nghiêm ngặt. Với hai giai đoạn Khảo sát điền dã và thực hiện khảo luận, Nguyễn Mạnh Tiến đã thể hiện trong các công trình một cách mẫu mực!
Đây là phương pháp mình được học hỏi từ khoảng 2005 – 2010 khi viết các bài nghiên cứu về KCH theo kiểu “bình dân” (1), nó đòi hỏi công việc khảo sát điền dã phải cẩn thận, kỹ càng, “đi đi lại lại, hỏi đi hỏi lại, xem đi xem lại” như thầy Trần Quốc Vượng đã dạy. Đồng thời cũng đòi hỏi người nghiên cứu cần “quên đi” các định kiến có trước (từ sách vờ, vốn sống kinh nghiệm...) để có thể khách quan và bình tĩnh tiếp nhận những thông tin mới (kiểu định kiến “Nam bộ thiên nhiên ưu đãi, Nam bộ làm chơi ăn thiệt” như từ 300 năm trước!). Hay như Nguyễn Mạnh Tiến nói trong buổi tọa đàm hôm qua, đại ý: cần bỏ lại những lý thuyết, những cái khung có sẵn để bước vào một thực tiễn mới và tiếp nhận nó khi nhà nghiên cứu “là một tờ giấy trắng”. Không để sự hấp dẫn của các lý thuyết dẫn dắt đi quá xa trong quá trình diễn giải thực tiễn.
Đúng rồi, nếu không vậy rất có thể sẽ có kiểu quan sát, điền dã “kẻ cả”, sẽ diễn giải, giải thích những hiện tượng mới tiếp nhận theo chủ quan, nhất là sẽ có tâm lý và ứng xử “bất bình đẳng” với cộng đồng bản địa – nguồn tài liệu sống và vô cùng phong phú, đa dạng. Từ vị thế “người của cộng đồng” (hay góc nhìn “từ dưới lên”) nên ngôn ngữ của công trình khoa học của Nguyễn Mạnh Tiến rất sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, mang lại cảm giác thân thiện với bạn đọc mọi thành phần.
2.
Phương pháp Dân tộc ký còn đòi hỏi – đồng thời mang lại lợi thế, là cần hiểu địa bàn nghiên cứu, hiểu sâu sắc trong sự đối sánh với những thực tiễn khác. Nguyễn Mạnh Tiến cho rằng, sự hiểu biết này còn quan trọng hơn các “khung lý thuyết”. Mình hiểu là, khung lý thuyết cần phải có để định hướng nghiên cứu nhưng không phải để “đóng gói” những nhận thức từ thực tiễn cho vừa khung ấy. Không có lý thuyết thì không đi xa được, nhưng câu nệ lý thuyết thì nghiên cứu không thể hiện thực tiễn và đáp ứng những câu hỏi nảy sinh từ thực tiễn.
Quá trình nghiên cứu về Di sản đô thị Sài Gòn – TPHCM (2) của mình cũng như vậy, nhờ xuất phát từ thực tiễn TPHCM nên những đề xuất giải pháp hay phản biện của mình mang tính khả thi, đúng với nhu cầu, không sa vào “lý thuyết suông”, đảm bảo tính khoa học của KCH đô thị và bảo tồn di sản, tránh được tình trạng “đúng (lý thuyết) mà không trúng (thực tiễn)”. [Tuy nhiên, trong một số HTKH những bài nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn cụ thể mà ít trình bày lý thuyết từ nước ngoài thường ít được BTC HT quan tâm!
].
Phương pháp Dân tộc chí cũng như điều tra khảo sát KCH, luôn chú ý và tôn trọng tính ĐA DIỆN, ĐA ĐIỂM. Xuất phát từ các thực tiễn khác nhau nên không thể khái quát hóa vội vã, không nên coi có một “hình mẫu bất biến” cho mọi thực tiễn dù cùng một chủ đề/một hiện tượng văn hóa. Ở một góc khác, không thể “tưởng tượng ra văn hóa một nơi này từ một nơi khác” hay từ một trung tâm văn hóa. Bởi vì ĐA DẠNG VĂN HÓA thể hiện trong mọi thành tố và hiện tượng văn hóa của mọi cộng đồng và mọi vùng miền.
Đúng vậy, trải nghiệm của mình khi nghiên cứu lịch sử - văn hóa Nam bộ điều này thấy rất rõ, người Việt ở Nam bộ có những nét tính cách, lối sống, sinh hoạt khác biệt với vùng miền khác, mà nếu lấy một “chuẩn” từ nơi khác sẽ nhận xét, đánh giá phiến diện, hời hợt, thậm chí mang tính áp đặt, hạ thấp. Cách nhìn như vậy vô hình chung tạo nên sự bất bình đẳng giữa các cộng đồng đa số và thiểu số, đồng bằng và miền núi... chưa kể nếu còn mang thêm quan điểm chính trị khác.
Vậy vì sao vẫn có những công trình chứa đựng những cách nhìn như vậy ở mức độ khác nhau? Nguyễn Mạnh Tiến nêu ra 2 nguyên nhân:
- Nhiều công trình của nhà nước thì kinh phí có hạn, thời gian nghiên cứu có hạn.
- Chủ nghĩa kinh nghiệm, coi việc biết vài cái cây đã là hiểu cả khu rừng. (Thật sự, ở nhiều người nghiên cứu KHXHNV thường có tư duy điều này).
Mình muốn nêu thêm một nguyên nhân, đó là quan niệm về sự “thống nhất”/ đồng nhất (chính trị) đã tồn tại (và chỉ đạo?) NCKH XHNV hướng đến xây dựng mô hình “phổ quát” mà bỏ qua, bỏ quên những mô hình Đặc thù / Đặc biệt, thậm chí không cho phép tồn tại mô hình Cá biệt / Riêng biệt hay mang tính Cục bộ / Bộ phận.
3.
Trong công trình mới nhất của Nguyễn Mạnh Tiến – cũng là chủ đề của buổi tọa đàm hôm qua, có một vấn đề mình còn thắc mắc: đó là vì sao Ma Cà Rổng ở người/xã hội người Thái lại chỉ là PHỤ NỮ/PHỤ NỮ ĐẸP? Trong sách và tác giả có giải thích là vì xã hội PHỤ QUYỀN nên muốn hạ thấp phụ nữ. Mình nghĩ, có khi đó là tâm thức “cảnh giác cao độ” trước phụ nữ đẹp, nhỉ? 
Thực tế, trước khi chuyển qua xã hội Phụ quyền thì xã hội Mẫu hệ tồn tại rất dài và do vậy cũng để lại nhiều “tàn dư” bền chặt ở nhiều cộng đồng, như vai trò và quyền năng của phụ nữ trong sinh hoạt, lao động và đời sống tinh thần. Có lẽ, những phụ nữ đẹp hoặc có sự khác biệt, nổi bật – kiểu “lệch chuẩn” so với số đông – cũng được/bị coi là có quyền lực (ngầm) nào đó. Vì vậy họ bị gán cho những hành vi hút máu hay ăn nội tạng, ăn những con vật dơ bẩn... vào ban đêm, vì đó là những hành vi “tà thuật” đen tối, độc ác theo quan niệm của cộng đồng. Cũng là cách để cộng đồng có thể “đồng nhất” trong một “khung” chung (tâm lý và hành vi) chăng?
Nguyễn Mạnh Tiến còn nghiên cứu ma Cà Rồng ở nhiều nơi Đông – Tây trên thế giới. Hóa ra ở đâu cũng có nỗi sợ hãi ma Cà Rồng như nhau (dù đó là ma nam hay ma nữ). Bất giác mình nghĩ, không biết có ai nghiên cứu xem cái sự “tự hào” một cách toàn diện, đỉnh cao, mọi lúc mọi nơi... ở ta có gì giống và khác so với những nơi khác? 
Cám ơn nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến đã mang lại cho người đọc và riêng mình nhiều tri thức “bình dân” nhưng mới lạ, sâu sắc, qua đó giúp mình hiểu và học thêm nhiều điều, từ sự LIÊN NGÀNH mà anh đã thể hiện nhuần nhuyễn và hấp dẫn trong các công trình của anh!
----
(1) Khảo cổ học bình dân Nam bộ VN - từ thực nghiệm đến lý thuyết, NXB Tổng hợp TPHCM, 2010
(2) Đô thị SG – TPHCM khảo cổ học và bảo tồn di sản. NXB Tổng hợp 2017, tái bản 2019