Nguyễn Thị Hậu
Không biết từ bao
giờ khi nói về miền Tây Nam bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) thì tính cách của
con người nơi đây luôn được gắn với những từ như hào sáng, phóng khoáng, rộng
rãi, nghĩa khí… Chắc không phải do người miền Tây tự nói về mình, mà thường là nhận xét từ góc
nhìn của người “bên ngoài” với sự trân trọng và thấu hiểu. Những tính cách đó được hình
thành một cách tự nhiên từ điều kiện thiên nhiên, theo lịch sử khai khẩn và trong
đời sống cộng đồng. Nó được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ người miền Tây, lưu truyền qua nhiều
biến đổi của thời cuộc và được coi là một hệ giá trị nhân văn sâu sắc của đất
và người miền Tây.
Hào sảng là tấm lòng rộng như sông nước và sẵn sàng sẻ chia
Miền Tây là vùng đất
cuối của dòng Mê Kông vĩ đại. Chảy qua hàng ngàn cây số núi cao rừng thẳm, qua
bao thác ghềnh hung dữ, để rồi về đến miền Tây Nam bộ là dòng Cửu Long hiền hoà
bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn. Dòng sông của mùa nước nổi tràn bờ, của
nhịp điệu ngày hai lần nước lớn nước ròng, của tiếng bìm bịp kêu chiều khắc khoải, của giề lục bình lờ
lững tím ngát trôi xuôi… Bầu trời miền Tây chói chang mùa nắng, sầm sập cơn
giông mùa mưa, lấp lánh hàng triệu vì sao những đêm trời cao trong vắt…
Trên vùng đồng bằng sông Cửu Long từ hàng trăm ngàn kinh rạch chằng chịt đan xen với nhau đã
kết nối những con người xa xứ cùng tạo dựng xóm làng. Hàng trăm kinh đào lớn nhỏ bằng sức lực người
miền Tây để thoát nước rửa phèn nuôi dưỡng những cánh đồng lúa vàng những vườn
cây trái ngọt… Không gian miền Tây rộng rãi, đồng ruộng miền Tây mênh mông nào
phải tự nhiên mà có? Nó được hình thành từ những bước chân giẫm đạp lên gai góc sình lầy, những đôi tay chai sần cầm
leng cầm cuốc, từ mồ hôi, máu và nước mắt của hàng triệu người nghèo khó, tội đồ, sa cơ thất thế, của cả những
người có chí làm ăn dám thử sức mình ở “vùng đất mới”.
Người miền Tây không
quen “đóng cửa khép lòng”, họ sống như dòng nước cứ chảy, cứ cho đi. Rạch nhỏ
ra rạch lớn, rạch lớn ra sông, sông nhỏ ra sông cái… Dòng sông Cửu Long nhận nước từ đầu nguồn
rồi chảy ra biển cả, hàng năm bồi đắp từng lớp phù sa mới cho đồng bằng thêm màu mỡ để rồi nhận lại những vụ mùa vàng. Ở miền Tây khi có ai ghé nhà, dù quen hay lạ cũng được mời bữa cơm, ly
nước và có thể tá túc qua đêm thậm chí vài ngày mà không bị hỏi han dòm ngó.
Mỗi mùa nước nổi, hàng xóm giúp nhau sửa nhà cửa thêm chắc chắn, cứu đồ đạc lúa
má, đóng giúp chiếc xuồng “năm quăng” để có cái mà kiếm ăn trong cơn nước lũ…
Những việc làm không cần tính công xá, không ai coi là “làm ơn” mà cũng không
ai quên giúp lại người khác mỗi khi hữu sự. Bởi vì đó lẽ tự nhiên của tình
người.
Sống và lao động
trong điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù như thế, con người ở đây dần hình
thành tâm thế hào sảng, hành xử rộng rãi, bao dung, như dòng sông như bầu trời
nào của riêng ai… Không gian rộng rãi khoáng đạt đưa tầm mắt người miền Tây xa
hơn những “cánh đồng chó ngáp”, đưa nghĩ suy của người miền Tây vượt ra khỏi tâm
thức truyền thống ngàn năm trong “luỹ tre làng”, để người miền Tây có thể nhìn khác, nghĩ
khác và làm khác. Người miền Tây lao động và chiến đấu như một lẽ thường tình,
dù ai có nói “miền Tây được thiên nhiên ưu đãi” thì người miền Tây cũng chỉ
cười mà rằng, “ờ, ông trời không cho làm sao mình có”?
Lối sống “thuận thiên” làm nên sự an nhiên, lao động hết
mình tạo nên lòng tự trọng. Sự hào sảng của người miền Tây bắt nguồn từ đó.
Hào sảng ở tinh thần lạc quan và sự bộc trực, chân thành trong ứng xử
Cuộc sống miền Tây
gắn với thiên nhiên, vốn dĩ nhiều rủi ro khi lũ về, nước dâng, mùa vụ có khi mất trắng. Lại có năm nước kém đất phèn
mặn, hạn hán ruộng khô nứt nẻ… Nhưng lạ thay, người miền Tây vẫn luôn giữ nụ
cười lạc quan. Đó chính là cái “hào sảng tinh thần” vì tin rằng ngày mai vẫn có
cái để làm, để ăn, để sống. Hào sảng ở đây là sống cởi mở, không bi lụy, biết
buông bỏ cái khổ, tin vào điều lành. Đó không phải là sự “vô lo” mà biết lo ít đi để sống trọn
hơn, “biết đủ là đủ”. “Trời sinh voi, sinh cỏ” là câu người miền Tây thường nói, nhưng nói vậy không phải
để ỷ lại mà để nhắc với nhau một niềm
tin: nếu mình sống tử tế, trời đất không nỡ phụ người. Vì vậy, người miền
Tây không hay than nghèo kể khổ, ai cũng khó như mình than thở ích gì, hãy cùng kiếm công chuyện làm ăn
chứ đừng ngồi đó mà than thở.
Sống với tấm lòng
nhân hậu và giản dị, luôn phải đối phó
với khó khăn của thiên nhiên và xã hội, người miền Tây thiên
về hành động thực tiễn hơn là lý luận bằng lời. Sự hào sảng không chỉ ở thái độ mà là việc làm không toan tính, cần thì làm ngay: mua vài tờ vé số là giúp người
bán có một bữa ăn, thấy việc sai trái thì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng
tha”. Nhưng hành xử cũng đầy lòng trắc ẩn: có xung đột thì luôn bênh vực người yếu thế trước, rồi “hạ hồi phân giải” phải quấy tính
sau. Lỡ “đụng độ” nhưng khi
đã tỏ tường phải trái thì “làm một ly” để bỏ qua, tha thứ, không “nhớ lâu thù dai” vì như vậy
ai chơi với mình? Hào sảng từ nội tâm nhờ không chất chứa hận thù, không nhỏ
nhen cố chấp.
Người miền Tây không
thích “làm màu”, cũng không thích tranh luận hơn thua. Trong câu chuyện thường
ngày, họ dùng tiếng cười để hóa giải mâu thuẫn, dùng cách nói nhẹ nhàng thân mật để khuyên răn nhau: “thôi, bỏ đi Tám” là xong, không để bụng. Hào sảng là
“biết quên” những điều nhỏ nhặt, giữ cho lòng nhẹ và tình người bền. Người miền
Tây nói năng thẳng thắn, thật bụng, không “vòng vo tam quốc” mà nghĩ sao nói vậy, “ghét nói ghét, thương nói thương”. Sự bộc trực ấy đôi
khi làm người nơi khác cho là “tự nhiên quá” hay “thiếu tế nhị”, nhưng thật ra
là sự chân thành không khách sáo. Cách nói trực diện, thẳng thắn cũng làm cho thế lực cường quyền “khó
chịu”, nhưng đó là sự thể hiện nghĩa khí trước uy
quyền. Hào sảng ở người miền Tây còn
là sự công bằng chính trực.
Miền Tây là nơi dừng chân sau cùng trong hành trình mở đất của người Việt. Những lớp cư dân đi khẩn hoang phải dựa vào nhau mà sống, giúp nhau lao động
sản xuất, đoàn kết chống thú dữ. Không chỉ vậy, họ còn phải hoà hợp với cư dân
bản địa, học kinh nghiệm làm ăn trồng trọt, đồng thời cởi mở trong giao lưu văn hoá. Sự
liên kết cộng đồng mạnh mẽ
đã tạo ra đặc trưng “văn hóa mở”: ai cũng được chấp nhận, ai cũng có thể bắt đầu tại đây, chấp nhận những điều mới mẻ, dám làm dám chịu, không sợ sai và sửa sai nhanh… Những khác biệt không bị phán xét
mà được dung nạp để rồi từ từ hoà nhập. Chính từ đó, hào sảng trở thành tính cách cộng đồng chứ không chỉ là một vài cá nhân. Tuy nhiên tính cách này kết tinh ở nhiều nhân vật
lịch sử đã trở thành đại diện cho người miền Tây.
Hào sảng làm nên hồn cốt và tâm thế tự do
của người Nam
Bộ
Tính cách hào sảng
của người miền Tây là kết tinh của đất – nước – người trải qua một quá trình lịch sử và vượt qua biết bao
thử thách từ thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội. Sự hào sảng giúp kết nối những
con người một cách chân thành, tạo nên sức mạnh giúp họ đi
qua khó khăn, giữ được niềm vui sống và lan tỏa tình yêu cuộc đời. Nếu người Bắc nổi tiếng cẩn trọng,
người Trung kiên cường, thì người Nam – đặc biệt là miền Tây – luôn được nhớ đến bởi sự phóng khoáng, hào sảng, “làm chết bỏ, chơi tới bến”. Hào sảng không chỉ là tính cách mà là một triết lý: sống nhẹ nhàng, sống chân thành, sống
chia sẻ. Một cộng đồng
hào phóng sẵn lòng cho đi và đón nhận, luôn tin vào tình nghĩa “bà con mình”.
Ở nơi cuối sông cùng đất, miền Tây Nam bộ như đứa con út của dòng Mê Kong và dải đất chữ S kéo dài khó nhọc. “Giàu con út khó con út”, chấp nhận số phận và ứng phó linh hoạt để tồn tại nhưng không bi lụy không hạ mình, luôn chính trực và hào sảng, khi còn giữ được những phẩm chất đó thì người miền Tây còn giữ được cho mình một tâm thế tự do như ông cha mình trước đây!


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét