TẢN MẠN SÀI GÒN CÀ PHÊ



Quán cà phê vỉa hè

Từ nhỏ tôi đã thuộc lòng tuỳ bút Cây tre Việt Nam của nhà văn Thép Mới.  Nhiều lần lang thang quán xá tôi chợt nghĩ có thể dùng lối ví von như thế để nói về cà phê ở Sài Gòn. Này nhé: Sài Gòn có muôn vàn quán xá khác nhau, quán nào cũng đẹp, quán nào cũng mát… nhưng thân thuộc nhất vẫn là quán cà phê. Cà phê vỉa hè, cà phê máy lạnh, cà phê nhạc, cà phê sách, cà phê sân vườn, cà phê salon văn hoá… Đâu đâu ta cũng có quán cà phê làm bạn. Quá được, phải không?

Nói đến cà phê Sài Gòn đầu tiên phải nói đến cà phê vỉa hè vì nó có mặt khắp nơi, từ người bình dân đến công chức, từ già đến trẻ hay sồn sồn trung niên, từ đàn ông đến đàn bà… đều có thể tạt vô mua một ly mang đi, hoặc kéo ghế nhựa ngồi uống một mình hay trò chuyện chốc lát cùng bạn bè, có thể sáng ghé rồi trưa lại ghé, có thể chiều đi làm về cũng ghé, ngồi lề đường nghe ngọn gió trên cao lùa về mát rượi, thấy lòng thanh thản sau một ngày vất vả mưu sinh.

Bất cứ quán “Cà phê vỉa hè” nào cũng có “không gian địa lý” là vỉa hè một con đường nào đó, dưới tán cây cao hay cạnh bức tường loang lổ vôi bạc màu, hay sát lề con hẻm nhỏ xe cộ ra vô thường xuyên… Cà phê vỉa hè ở gần công sở, cửa tiệm, khu dân cư, trường học, có khi ở ngay những con hẻm toàn biệt thự sang trọng… vậy nên “không gian xã hội” của mỗi quán là dân văn phòng, công chức, có quán chủ yếu là sinh viên học sinh, có quán chỉ bán cho bà con trong hẻm, quán lại phục vụ khách qua đường là chính… Nhưng mọi quán đều giống nhau: thức uống chính là cà phê, dĩ nhiên, cà phê “vợt”, cà phê phin đen như than, cà phê sữa nâu sẫm, và cà phê nào cũng rất đắng! Vài chai nước ngọt, sữa đậu nành, có khi có thêm vài trái cam hũ chanh muối… rồi tủ thuốc lá với mấy cây kẹo Singgum. Dù là khách quen hay lạ thì chủ quán cũng đón tiếp vui vẻ, chiều theo sở thích, có quán còn khuyến mãi ly trà đá… Bình dân và bình đẳng là cà phê vỉa hè.

Ở cà phê vỉa hè có thể bắt gặp ai đó yên lặng một mình, mở laptop xài ké Wifi của công sở gần bên, hay nhóm đông bạn bè “tám” chuyện trên trời dưới đất chuyện quốc nội quốc ngoại…; có những người đến đó gặp nhau bàn công chuyện, uống ực cái hết ly cà phê thì chuyện cũng xong, lại lao ra đường đi làm ăn tiếp. Lại có khi nhìn thấy anh chị kia ngồi rù rì chốc lát rồi lên xe chở nhau đi mất…  Ở cà phê vỉa hè giải trí có, làm ăn có, lãng mạn có, chuyện thế sự có, và chẳng làm gì, ngồi “giết thời gian” cũng có… Ở đó tràn đầy sự năng động nhưng cũng là những khoảng lặng đáng yêu của người Sài Gòn.

Bạn tôi là một nhà thơ, nói: nhiều tác phẩm văn chương đã ra đời từ những quán cà phê vỉa hè Sài Gòn. Tôi chẳng phải dân văn thơ nhưng cũng đồng ý với bạn: cà phê vỉa hè Sài Gòn luôn mang lại cho người Sài Gòn những ý tưởng và sức sống mới. Hơn thế, nó làm cho ai một lần đến Sài Gòn, ngồi cà phê vỉa hè sẽ không quên ấn tượng về nó, bởi mỗi quán cà phê vỉa hè là một Sài Gòn thu nhỏ.


Vỉa hè của quán cà phê

Sài Gòn có hàng ngàn quán cà phê lớn nhỏ trong những ngôi biệt thự, nhà phố, chung cư khác nhau, hợp thành một loại quán có nhà khác với quán lề đường, vỉa hè hay cà phê bệt ở công viên. Hầu hết những quán này thuộc 2 loại cà phê sân vườn hoặc quán có máy lạnh, hoặc kết hợp cả hai. Không khí dễ chịu hay không của một quán cà phê thường được tạo nên bởi 3 yếu tố: chủ quán (sở thích, thẩm mỹ, ý tưởng) khách đến quán không gian (nội, ngoại thất) của quán. Những quán như vậy thường không quá sang trọng, giản dị thôi nhưng trang trí khá bắt mắt, có gout riêng tạo nên sức hấp dẫn với nhiều khách hàng. 

Có những quán dường như không bao giờ đông khách, chủ quán cũng không trông chờ điều đó mà chỉ mong chờ vài người khách “ruột” đến đấy chỉ ngồi yên lặng lắng nghe một bản nhạc jazz hay ngắm một bức tranh. Có những vị khách chỉ thích tìm quán vắng, nghiền ngẫm một cuốn sách hay lặng lẽ lướt web, ngồi cả buổi với ly cà phê đá đã cạn và đã thêm vài ly trà đá… Chủ quán cũng không sốt ruột. Một sự sẻ chia thầm lặng đã kết nối chủ và khách, đó là cà phê hay là gì khác?

Nhiều quán như vậy ta có thể bắt gặp trên bất cứ con đường nào. Đó là những căn nhà phố dùng mặt tiền mở quán cà phê. Quán không lớn, thậm chí nhỏ thôi, thường có 2 không gian rõ ràng là trong nhà và ngoài vỉa hè, ngăn cách nhau bằng tấm cửa kính mờ. Trong nhà là quầy nước, nơi tính tiền, vài bộ bàn ghế hay salon khác nhau từng quán, máy lạnh mát rượi, nhạc êm dịu, ánh sáng vừa đủ bên ngoài dưới mái hiên hay dưới mấy cây dù là hai, ba cái bàn, vài cái ghế nép sát cửa nhà

Vì sao những quán cà phê này luôn có một phần quán trước cửa nhà như vậy? Có thể trả lời được ngay: là để tận dụng mặt bằng “công cộng” mở cho không gian của quán rộng thêm một chút. Khoảng vỉa hè này, nhà nào buôn bán cũng “lấn chiếm”, khi để xe của khách, khi trưng bày hàng hoá sáng mang ra đến chiều tối lại mang vô. Nhiều nơi còn có gánh hàng rong chiếm cứ. Vậy thì tại sao không tận dụng để bộ bàn ghế, cây dù, vừa thêm chỗ ngồi vừa “tiếp thị” cho người đi đường dễ nhận biết về quán.

Nhưng có lẽ không chỉ là như vậy. Ngoài vỉa hè có khi nắng sớm nắng chiều chói chang, có khi mưa tạt ướt hết, vậy mà hầu như lúc nào cũng có khách ngồi đây. Ngồi đây quay mặt ra đường, buổi sáng khách thong thả đọc báo và uống cà phê, buổi chiều có thể ngồi đó một mình nhìn ngó đường phố tấp nập hay vắng lặng, trong ngày có khi chỉ ghé qua, dựng vội chiếc xe, kêu một ly cà phê đá, uống nhanh rồi xuống đường đi tiếp. Chủ quán chỉ cần nghe kêu là nhanh chóng phục vụ, có khi mời anh/ chị vô trong nhà mát hơn, khi lại nói anh chị ngồi ngoài này cho thoáng… Vỉa hè trước cửa như không gian mở rộng của từng căn nhà phố. Nó là nơi giao thoa của đường phố và căn nhà, thể hiện cái riêng của từng ngôi nhà trong cái chung của đường phố, của khu vực ấy. Có thể cảm nhận không gian văn hóa riêng – chung của nhà và phố không cắt rời mà linh họat kết nối với nhau bằng khoảng vỉa hè, như người Sài Gòn phóng khóang cởi mở trong giao tiếp mà vẫn tạo ra khỏang riêng tư cho mỗi con người.

Nhiều người nói những quán cà phê mở ra khoảng không gian vỉa hè ở Sài Gòn là tiếp thu từ phong cách cà phê Paris (nói riêng, hay là phong cách cà phê Pháp nói chung). Ngồi đó, nhàn tản ngắm người qua đường và cuộc sống đang diễn ra trước mắt, phiếm đàm về thời cuộc về văn chương… ấy là cà phê Paris của văn nghệ sĩ, của tầng lớp trung và thượng lưu. Dấu ấn ấy, nếu có ở Sài Gòn thì nay còn thấy ở những quán cà phê lâu đời trên đường Đồng Khởi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… thuộc khu trung tâm thành phố. Còn những vỉa hè của quán cà phê mà tôi kể trên đây có mặt trên các con đường lớn nhỏ ở khắp các quận huyện của thành phố, nó là của phần đông người Sài Gòn luôn năng động nhưng nhiều lúc cũng cần cho mình khoảng lặng bình yên.

Cà phê vỉa hè và vỉa hè của quán cà phê là hai không gian văn hoá cà phê đặc trưng của Sài Gòn. Khi nghe tôi bảo tôi là dân cà phê vỉa hè, bạn nói thì tôi cũng hay ngồi cà phê vỉa hè đấy chứ. Tôi cười: vâng, ông ngồi cà phê vỉa hè Hàn Thuyên bàn cao ghế nệm có người phục vụ đeo tạp dề tinh tươm, làm sao sánh được với tôi ghế thấp bàn nhựa, tự phục vụ và có thể… ký sổ nợ thoải mái nếu chưa đến ngày lãnh lương.

Vậy nên viết cái tạp bút này, biết đâu có vài đồng nhuận bút để bon chen cà phê Hàn Thuyên với bạn, xem mình có thể trở thành “thượng lưu” được chút nào không? Mà thôi, nếu có nhuận bút thì rủ bạn ra cà phê vỉa hè, mình cứ là mình là tuyệt nhất, phải không?

 Những ngôi biệt thự và những quán cà phê

Ở Sài Gòn, Hà Nội và một vài thành phố khác ta dễ dàng nhìn thấy những quán cà phê sân vườn trong khuôn viên các ngôi biệt thự xưa, kiểu Pháp, được xây dựng trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX.Có lẽ những quán cà phê như thế này nở rộ từ sau 1975, khi mà chủ nhân của hàng loạt các ngôi biệt thự ở Sài Gòn đã lần lượt được thay thế bằng những người khác.

Thật ra việc có một lớp cư dân khác đến sống trong các ngôi biệt thự kiểu Pháp bắt đầu từ Hà Nội sau 1954, nhưng trước 1975 ở Hà Nội hầu như ít thấy quán cà phê sân vườn trong biệt thự, mà nếu có, lại là vài… quán bia hơi trong khuôn viên những ngôi biệt thự trở thành cơ quan nhà nước. Ngoài số ít biệt thự ở khu Ba Đình còn khá nguyên vẹn, phần lớn biệt thự khác biến thành nhà tập thể của nhiều hộ gia đình. Quá trình chung đụng, phân chia, cơi nới làm cho những ngôi biệt thự trở nên xộc xệch, manh mún, nhếch nhác… như một người từng có thời trẻ tuổi đẹp trai nhưng nay ốm đau bệnh tật, lại phải khoác lên mình những bộ quần áo cũ không vừa, vá víu và bẩn thỉu, vì vậy, càng làm người ta tiếc nuối vẻ hào hoa một thời của chàng.

Trước 1975 Sài Gòn cũng giống như Paris vậy: quán cà phê thường là những căn nhà trên phố, lại mở ra khoảng không gian vỉa hè. Ngồi đó, dưới tán dù che mát hay dưới bóng cây xanh, nhàn tản ngắm người qua đường và cuộc sống đang diễn ra trước mắt, phiếm đàm về thời cuộc về văn chương… ấy là cà phê Paris của văn nghệ sĩ, của tầng lớp trung và thượng lưu.Ở Sài Gòn thì nay chỉ còn thấy phong cách này ở vài quán cà phê lâu đời trên đường Đồng Khởi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… thuộc khu trung tâm thành phố.

Từ khoảng sau 1980 trong nhiều biệt thự vắng chủ lần lượt có những gia đình đến ở. Lại quá trình chung đụng, phân chia, cơi nới… lần này còn thảm hơn: trong khuôn viên đẹp như thế mà nhiều hộ gia đình phải làm chuồng nuôi heo, xây bể nuôi cá trê phi để “cải thiện” cuộc sống… Cũng may quá trình này không kéo dài như ở Hà Nội, khoảng gần mười năm sau thì có chủ trương “hoá giá” nhà biệt thự. Nhiều biệt thự được mua đi bán lại, không còn cảnh là nhà tập thể. Những chủ nhân mới đã biết khai thác giá trị của biệt thự, hoặc cải tạo lại cho người nước ngoài thuê, hoặc phổ biến hơn, biến thành quán cà phê, vì không có gì kiếm tiền nhanh bằngchủ nhà cho thuê lại biệt thự (một phần hoặc tất cả), và không đầu tư gì kiếm lời nhanh như mở quán cà phê.Vả lại, kinh tế “mở cửa” vài năm nên cuộc sống có phần dễ thở hơn, các thành phố trở lại nếp sống đô thị mà cà phê là một trong nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày của thị dân. Có thể nói, từ lúc này phong cách “cà phê biệt thự” của Sài Gòn nhanh chóng lan toả đi nhiều thành phố khác.

Những ngôi biệt thự trước đây và những quán cà phê hiện nay có điểm gì chung nhỉ?
Ở khu vực đô thị cũ (quận 1, quận 3) cà phê – biệt thự dù ở mặt tiền hay trong hẻm đều có khuôn viên rộng, nhiều cây xanh. Kiến trúc nhà thường một trệt một lầu, tầng trệt thông thoáng tầng lầu có ban công nhẹ nhàng bên khung cửa mở rộng. Ban ngày ánh nắng nhẹ hơn khi xuyên qua vòm lá xanh, ban đêm ánh đèn dịu dàng khuất sau rèm thưa. Không gian tràn ngập tiếng nhạc thánh thót piano da diết violin trầm lắng guitare… Tiếng hát ở đây như vẳng ra từ băng catsette của dàn Akai những năm 80 vậy, nhạc Pháp, nhạc Trịnh Công Sơn Khánh Ly , Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Ngọc Lan Trịnh Nam Sơn… những hoài niệm, những chia ly, những đớn đau mà tràn đầy dịu dàng tràn đầy thương nhớ. Người ra vào đông hơn chủ nhân nhà biệt thự xưa nhưng nhiều quán cà phê vẫn giữ được không gian yên ả, không ồn ào, biệt lập, không xô bồ như những quán cà phê sân vườn mới mở ở những khu vực khác mới đô thị hóa. Sự phong lưu, tinh tế, có khi sang trọng còn được lưu lại trong trang trí nội thất: những bộ salon, bàn ghế, vài bức tranh, bình bông đẹp mà đơn giản… Những quán cà phê biệt thự ở Sài Gòn được chủ nhân chăm chút về thiết kế và trang trí nội thất, tạo ra phong cách riêng độc đáo và quyến rũ, phần nào cho biết tính cách của chủ nhân.

Hiện nay nhiều cà phê biệt thự còn là những quán “cà phê sách”. Những kệ sách nhiều kiểu dáng, những cuốn sách hay… càng tạo cho quán một không khí ấm cúng như trong một ngôi nhà. Bên ly cà phê, cuốn sách đang mở, và sự thoải mái trên những gương mặt chăm chú đọc… Có cần gì hơn nữa, phải không?

Vậy còn gì khác nhau?
Thay cho những tường cao cổng kín là hàng rào thưa thoáng hoặc chỉ ngăn cách với đường bằng bức tường thấp hoặc bãi cỏ nho nhỏ xanh mượt, nối liền không gian quán cà phê với con đường tấp nập ngoài kia. Những chiếc dù vươn ra vỉa hè mời gọi, hơi nước phun sương mờ mát cả trời trưa nắng hè gay gắt khiến người đi qua không thể không muốn ghé vào. Vào quán cà phê Sài Gòn bạn có thể kêu một món ăn nhẹ, bánh ngọt, buổi trưa dùng một phần cơm văn phòng, và tất nhiên không chỉ có cà phê mà còn nhiều loại thức uống khác. Bây giờ đã có một số quán cà phê chỉ có thức ăn chay, những quán này buổi trưa rất đông khách là nhân viên văn phòng, công chức… Quan sát xu hướng của cà phê-biệt thự Sài Gòn có thể nhận biệt xu hướng sinh hoạt của thị dân đô thị lớn nhất nước này.

Đôi lúc, ngồi trong những quán cà phê-biệt thự, một mình nhàn tản với ly cà phê hay tán gẫu với bạn bè, tôi luôn tự hỏi: sự biến đổi từ biệt thự thành quán cà phê có gì đáng tiếc hay có gì đáng mừng? Ngẫm đi nghĩ lại có lẽ sự biến đổi này “được” nhiều hơn “mất”. Trong cơn lốc đô thị hóa vài chục năm gần đây, sự biến đổi cảnh quan đô thị là hệ quả của lối sống thị dân “chưa hoàn chỉnh”, nếu không có những người chủ quán cà phê đã bảo tồn không gian và kiến trúc của những ngôi biệt thự đẹp như cổ tích này thì không biết Sài Gòn có còn gì là “hồn đô thị” ?







MỘT DÒNG KÊNH HỒI SINH – NGÓ TỪ QUÁN NHẬU BỜ KÈ



Hồi mới về Sài Gòn nhà tôi ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Hàng ngày, tôi vẫn đi về qua cây cầu Công Lý nổi tiếng gắn liền với tên tuổi anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nhưng ấn tượng mà cây cầu gây cho tôi hẳn không chỉ có vậy.Hàng ngày, tôi cũng nhìn thấy những dãy nhà lụp xụp kéo dài khuất tầm mắt, lan từ ven kênh đến sát phía sau những biệt thự cao ốc sang trọng là mặt tiền của con đường rực rỡ đèn màu cửa kính... Rồi cứ đi dọc ven kênh sẽ qua nhiều con đường khác: Hai Bà Trưng với cầu Kiệu, Trương Minh Giảng (sau này là Nguyễn Văn Trỗi) với cầu cùng tên...

Xóm ven kênh hình như không bao giờ thấy bình minh, ban ngày ánh sáng vẫn nhờ nhờ. Còn khi chiều đến, bóng tối, không thèm đợi hoàng hôn, sụp xuống rất nhanh. Dòng nước đen đậm đặc mùi xú uế lưu cữu hàng chục năm làm cho bất cứ ai mới bước chân đến đây đều có thể “chết” vì ngạt thở. Nhưng người sống ở đó thì dường như chịu đựng quen đến mức không biết là có nơi khác không khí dễ thở hơn... Ngày nắng, mái tôn vách ván phơi mình cong vênh ngày mưa dãy cọc nhà sàn liêu xiêu chìm trong nước... Bờ kênh tràn rác, muỗi dày đặc, chuột chạy như chốn không người… Đó là hình ảnh nơi cư ngụ của hàng ngàn gia đình, trôi dạt về đây sinh sống từ bao nhiêu nơi, trong bao nhiêu năm qua. Sài Gòn – Chợ Lớn không thiếu những dòng kênh đen và những xóm ven kênh như vậy.

Hình ảnh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã tồn tại như thế trong mắt tôi ngót nghét ba thập kỷ, cho tới khi xảy ra một sự kiện quan trọng vào năm 2003.Trước tình trạng ô nhiễm nặng của kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, tuyến kênh dài hơn 13 cây số, chính quyền thành phố đã quyết định đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để thực hiện việc cải tạo, nâng cấp với mong muốn thành phố sẽ có một dòng kênh xanh-sạch-đẹp.Dự án này cũng nằm trong mục tiêu thứ hai là giảm thiểu tình trạng ngập lụt vào mùa mưa, và điều hòa khí hậu trên địa bàn một Sài Gòn, nay đã mở rộng thành một tỉnh thành với cái tên Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là lý do vì sao người ta luôn thấy ngổn ngang lô cốt khắp những con đường lớn nhỏ của thành phố.

Tuy cảm thấy bất tiện, thậm chí khó chịu, nhưng người dân thành phố, trong đó có hàng ngàn cư dân xóm Nhiêu Lộc – Thị Nghè, vẫn đón nhận chuyện này với sự hào hứng. Có điều, sự hào hứng đó kéo dài không lâu.Dự án Vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, sau cú “đề pa” đầy hào sảng, như tiếng phát ra từ ống “pô” những chiếc Vespa cổ, trong mấy năm sau cứ lịm dần, rồi tịt hẳn. 

Chuyện xôn xao bắt đầu từ việc giải tỏa những xóm nhà sàn ở trên và hai bên dòng kênh đen ngòm dày đặc rác. Những ngôi nhà mái tôn vách bằng lá dừa, hay bằng thùng giấy, hoặc bằng bất cứ gì có thể che chắn được, đã dần dần được giải tỏa. Rồi những chiếc máy xúc, cần cẩu xuất hiện, một vệt ngổn ngang nào xà bần, nào bùn rác...Con đường đã thành hình ở hai bên bờ kênh. Dãy nhà mới nhô ra ở bên từng con đường lúc đầu cũng nhếch nhác không kém những ngôi nhà vừa bị ủi đi. Nhưng, như một phép màu, chúng được sửa sang, hay xây mới rất nhanh, bởi có nhà “mặt tiền” là sẽ kiếm ra tiền thôi mà.  Vẫn còn nhếch nhác, ngổn ngang, vẫn mùi xú uế, nhất là khi nước ròng. Nhưng hở ra đoạn đường nào là hàng quán mọc ra đến đấy. Quán cà phê, quán nhậu, quán nhà lầu, hay quán lá dựng tạm ven kênh. Có quán chỉ là vài bộ bàn ghế, kiểu quán “cóc” ngoài Hà Nội, có quán lại rộng rãi, khang trang, với máy lạnh, đèn màu sáng trưng...

Nếu như vào năm 2003 ước chỉ có vài chục quán thì nay đã có hàng ngàn quán, mọc lên như nấm mùa mưa. Và người ở đâu lại đổ đến đây tấp nập mỗi chiều…Dân nhậu đất Sài Thành bắt đầu quen với thuật ngữ quán bờ kè, vừa là địa chỉ chung cho một khu ăn nhậu bình dân mới hình thành, vừa thể hiện đầy đủ những đặc trưng của “Sài Gòn nhậu”: mồi ngon, phong phú, lại khá rẻ; nhiều loại bia rượu từ bình dân đến cao cấp; chỗ ngồi thoải mái, muốn máy lạnh, hay muốn hưởng gió trời, đều có cả; chủ quán và phục vụ nhiệt tình, có người giữ xe máy không mất tiền lại còn cẩn thận dẫn xe giùm khi có ai lỡ xỉn quá. Nhiều quán còn có các em gái tiếp viên mùa nào cũng áo thun hai dây ôm sát cái eo thon và quần ngắn khoe cặp chân dài. Rồi các em tiếp thị bia, thuốc lá, hay các cụ già và em nhỏ bán vé số mang đến tận bàn. Thỉnh thoảng có mấy anh chàng “múa lửa”, hay bán kẹo kéo, cùng dàn loa khủng oang oang nhạc sến, à quên, bolero…

Thôi thì ở đâu “chơi” kiểu nào thì quán bờ kè “chơi” kiểu đó.
“Với tất cả sự khiêm tốn những người tự nhận mình khiêm tốn”, tôi vẫn phải thừa nhận rằng, tôi và bạn bè đã thường xuyên góp phần vào sự tấp nập nơi bờ kè. Mỗi chiều, đến giờ tan sở, cứ nghĩ đến đường về nhà phải trải qua vài đoạn kẹt xe hàng giờ vì lô cốt, hình như ai cũng ngán ngại… Vậy là nhắn nhau “ra bờ kè nhé”. Chẳng cần nói tên quán, vì nhóm nào cũng có một, hai “quán ruột” của mình.

Quán “Ốc núi” của bọn tôi nằm ở một đoạn đường khuất, trước quán có hàng điệp mới trồng cao hơn đầu người nhưng đã trổ bông vàng, và dòng kênh uốn mình, hẹp lại, nhưng hiện ra gọn gàng giữa hai bờ mới kè lại đều tăm tắp. Nhiều năm qua, quán này đã vài lần đổi chủ, nhưng không đổi khách. “Băng” tụi tôi thích quán này vì… nó vắng, đã thế đồ ăn khá vừa miệng, lại rẻ nữa. Ngồi đây tha hồ chuyện trên trời dưới đất, không có tiếng dô dô ồn ào xung quanh, lại có thể chỉ ngồi im lặng, lơ đãng ngó đường, ngó kênh, ngắm nhìn hoàng hôn chầm chậm mỗi chiều…

Lý do này thiệt là vô duyên, hổng chừng chủ quán mà nghe thì đuổi cả đám, vì ai mở quán mà mong vắng khách, phải hôn? Quán vắng, có lẽ, vì nó nằm gần như tách biệt khỏi khu vực tấp nập đằng kia, tôi tự lý giải. Mỗi lần ghé quán là một lần thấy sự thay đổi của dòng kênh, của những ngôi nhà hai bên, và của cả con người ở đây.
***
Nhìn trên bản đồ cổ xưa của Sài Gòn – Bến Nghé, ta thấy Nhiêu Lộc -  Thị Nghè từng là con rạch/sông đóng vai trò quan trọng trong tưới tiêu, và là tuyến giao thông xuyên suốt qua những khu vực trung tâm của thành phố.
Gia Định Thành Thông Chí (Trịnh Hoài Đức, 1820) đã miêu tả về con sông này như sau: “Sông Bình Trị, tục gọi sông Bà Nghè, ở địa phận tổng Bình Trị về phía bắc trấn, từ sông Tân Bình quanh sau trấn lỵ đến cầu Ngang, ngược dòng lên tây độ bốn dặm rưỡi đến cầu Cao Miên (nay là cầuBông), chảy về tây bắc độ hai dặm đến chợ Chiểu (chợ Bà Chiểu nay), chảy về phía nam độ bốn dặm đến Phú Nhuận, sáu dặm rưỡi đến cầu Huệ là cùng nguyên, nơi đây có những ao vũng tản mạn”. 

Là một trong ba tuyến sông tự nhiên cổ nhất (cùng với sông Sài Gòn và sông Bến Nghé),rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè và lưu vực của nó hiện nay là một vùng khá rộng ăn sâu vào lòng thành phố với nhiều chi lưu và đi qua các quận 1, 3, 10, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, và Gò Vấp. Từ khoảng giữa thế kỷ 20, rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè mất dần chức năng lưu thông, chỉ còn chức năng tưới tiêu cho vùng nông nghiệp vườn ở các quận ven. Dân cư ven kênh rạch phần lớn còn là nông dân. Ký ức của nhiều người lớn tuổi còn nhớ, lúc đó những con sông, rạch trong thành phố chưa ô nhiễm nặng, ngày vẫn hai lần nước lớn nước ròng, nên nước còntrong, trẻ con còn bơi lội trên sông.

Chiến tranh. Dân nhập cư đổ về thành phố ngày càng nhiều, người nghèo lập nên những xóm ven kênh lan dần từ ngoại ô vào trung tâm, nhà cửa ngày càng chen chúc trên bờ, chồm ra kênh rạch. Chất thải, rác rưởi tù đọng dưới sàn nhà, lấp dần kênh rạch, khiến nước không còn lưu thông được nữa. Mỗi ngày, khi thấy có chút gió mát thì biết lúc nước lớn, thấy đứng gió nực nội là biết nước ròng.

Nhưng rồi cũng đến lúc Dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè “tăng tốc”. Gần một năm nay dòng kênh nước đã sạch hơn mỗi ngày, và gần như không còn tình trạng vứt rác xuống kênh. Nhất là từ khi hai bên bờ đã được dựng hàng rào sắt, vỉa hè lát gạch sạch sẽ, trồng cây, trồng hoa, hàng đèn đường vươn cao thanh thoát… Những chung cư cao tầng mọc lên, dân cư sống tại đây đã quen với việc giữ gìn vệ sinh công cộng, giữ gìn cảnh quan chung. Ngay những quán nhậu bờ kè ngày nào còn thoải mái xả rác ra đường thì nay cũng đã biết tự kiềm chế rất nhiều. Thế mới biết việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị đâu chỉ cứ hô hào suông, hay trông chờ vào sự chuyển biến của ý thức cư dân. Bởi vì khi điều kiện sống chưa thay đổi, khó có thể hình thành lối sống mới. Nếu coi môi trường sống là biểu hiện của “văn hóa vật chất”, còn lối sống nếp sống của cư dân là “văn hóa tinh thần”, thì hai mặt này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề cho nhau tự hoàn thiện. “Phố của người - người của phố” là một mệnh đề của xã hội học đô thị hiện đại.

Ngồi trong quán vắng bên bờ kè, chúng tôi lại mơ, rằng mai này kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè lại trở thành sông, cùng với sông Bến Nghé – Tàu Hũ ven đại lộ Đông Tây cũng vừa được nạo vét, sẽ phục hồi cảnh quan “trên bến dưới thuyền” cho du lịch thành phố, phục hồi văn hóa sông nước đặc trưng của Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sống giữa thị thành hôm nay vẫn cần lắm những giấc mơ - những giấc mơ về ngày xưa sẽ trở lại trong hiện thực tốt đẹp hơn của ngày mai.

Sài Gòn, 2013

Hình ảnh có liên quan


ÁO DÀI – MỘT NÉT TÂM HỒN VIỆT


Do nghề nghiệp tôi có dịp đến một số nước ở châu Á, Âu và châu Mỹ. Đi công tác nên tôi thường mang theo trang phục gọn gàng, lịch sự nhưng bao giờ trong vali cũng có một bộ áo dài để nếu có dịp phù hợp thì tôi sẽ mặc. Ở những nơi đó tôi cũng hay gặp các chị em người Việt mặc áo dài trong ngày lễ hội, họp hành... Cảm giác đầu tiên khi tôi mặc áo dài hay nhìn những tà áo dài ở nơi xa là thấy như đang ở quê nhà, quen thuộc gần gũi với mọi người dù chưa quen biết. Và vui hơn vì vẻ đẹp của áo dài mang lại sự thán phục trong ánh nhìn của nhiều người nước ngoài.
Hồi nhỏ tôi sống ở miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh nên chỉ nhìn thấy áo dài trên những tấm hình xưa của má tôi – một cô gái Sài Gòn những năm 1940, của những thiếu nữ Hà Nội trước năm 1954… Tôi thích lắm nhưng như nhiều bạn bè của mình, cho đến tuổi thiếu nữ chúng tôi cũng không có cơ hội được mặc áo dài. Khi ấy áo dài là loại trang phục hiếm có mặt trong đời sống, nó chỉ hiện diện trên sân khấu hoặc may mắn hơn, trong một đám cưới “sang trọng” ở Hà Nội giữa thời đạn bom.
Năm 1975 tôi theo gia đình về Sài Gòn, vào học lớp 12 nên được mặc “đồng phục” áo dài trắng. Dì tôi sống ở khu Chợ Vườn Chuối, đưa tôi ra chợ chọn mua hai xấp vải lụa trắng mịn màng, rồi đến một nhà may bình dân trong hẻm chợ may cho tôi 2 bộ áo dài trắng. Lần đầu tiên thấy mình trong gương thật lạ lẫm: trong bộ áo dài tôi ở tuổi mười bảy bỗng như lớn hơn và thực sự trở thành một cô gái. Từ đó, áo dài trắng với tôi là biểu tượng của thời nữ sinh, tuy chỉ một năm ngắn ngủi nhưng bước đầu mang lại cho tôi ý thức về “giới”. Bởi vì khi mặc chiếc áo dài là bắt đầu ý thức được vẻ đẹp và sự kín đáo của cơ thể thiếu nữ, sự nền nã của thái độ, lời nói…
Những năm sau đó đời sống khó khăn nên hầu hết các thành phố không còn duy trì đồng phục, nhất là áo dài cho nữ sinh. Từ đầu những năm 2000 áo dài quay trở lại trường học, rồi phổ biến thành đồng phục của học sinh trung học (cấp 3), nếu không sử dụng tất cả các ngày trong tuần thì ít nhất vào ngày đầu tuần hay sinh hoạt toàn trường, dịp lễ… Có thể nói áo dài trắng đặc biệt phù hợp với nữ sinh Việt Nam về hình dáng và mang lại nét tự nhiên dịu dàng trong sinh hoạt…
Hiện nay một bộ quần áo dài trắng không đắt hơn so với nhiều loại trang phục khác, nhiều nhà sản xuất vải lụa, nhà thiết kế và nhà may đã có giá ưu đãi cho nữ sinh, nhất là vào mùa khai giảng. Vì vậy việc mặc đồng phục áo dài không phải là quá khó khăn, nhất là ở thành phố. Ngoài ra nhiều tổ chức xã hội còn có hoạt động tặng áo dài cho con em gia đình nghèo khó… Đồng phục với ý nghĩa như “dầu chỉ” của một tầng lớp, nghề nghiệp trong xã hội, đồng thời cũng làm giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, tạo ra nhận thức về sự bình đẳng trong trường học.
***
Nhiều người trong chúng ta tuy chưa có dịp tiếp xúc với các nền văn hóa khác thì vẫn mang trong mình tình yêu đối với “tâm hồn Việt” qua trang phục, ẩm thực và những nét văn hóa khác. Đặc biệt đối với người Việt ở xa quê hương thì tình yêu này càng sâu đậm. Người ta yêu áo dài qua dáng mẹ, dáng chị em gái trong chiếc áo dài, trân trọng người yêu trong bộ áo dài cưới để từ đó thành người vợ của mình… Làm sao để phụ nữ Việt Nam duy trì và phổ biến trang phục áo dài là cách tốt nhất để “bảo tồn” tình yêu áo dài.
Hiện nay có nhiều chất liệu vải lụa vừa nhẹ, mát, có độ co dãn, nhiều hoa văn, màu sắc… để có thể may những chiếc áo dài vừa hợp thời trang vừa thoải mái khi sử dụng. Tuy nhiên cần lưu giữ những chi tiết quan trọng tạo nên chiếc áo dài, không nên tùy tiện thay đổi “sáng tạo” dáng áo khác lạ, hoặc kết hợp với loại trang phục khác không phải quần lụa. Tôi cho rằng đã là “áo dài Việt Nam” thì phải đi cùng với quần mềm mại. Ống quần và tà áo dài là một thể thống nhất tạo ra dáng tha thướt cho người mặc, khoe được những “điểm nhấn” nhưng đồng thời vẫn kín đáo.
Để duy trì kiểu đồng phục này thì áo dài nữ sinh nên gọn gàng, độ dài quần và áo vừa phải, vải nhẹ không mỏng quá và thấm hút tốt. Không nên bắt nữ sinh mặc áo lá ở trong vừa nóng nực vừa lôi thôi. Hình ảnh những chiếc áo dài nữ sinh Sài Gòn cuối những năm 1970 là đẹp và phù hợp: dài vừa qua đầu gối, tà hẹp, quần rộng vừa, eo hơi ôm không chiết ly, cổ áo thấp hoặc tròn sát chân cổ, không nên khoét cổ rộng vì làm các em già đi và bất tiện khi sinh hoạt.
Áo dài cho những giới khác thì tùy thuộc công việc có mẫu mã và hoa văn màu sắc phù hợp.Ví dụ: cô giáo khi lên lớp thì nên theo kiểu áo dài truyền thống tạo sự nghiêm túc, khi đi chơi thì áo dài cách tân cho tươi trẻ. Trong sinh hoạt hàng ngày tà áo và ống quần không nên dài quá, rộng quá, bất tiện khi di chuyển, nhưng cũng không nên quần bó sát áo ngắn cũn cỡn như “áo xẩm”, làm mất đi vẻ mềm mại đặc trưng của áo dài.
Áo dài đã trải qua nhiều lần cách tân và chắc sẽ còn tiếp tục thay đổi. Sự “cải tiến” của áo dài không thể tách rời sự phát triển của kỹ thuật may mặc và những phụ kiện, chất liệu mới. Đã có những “biến tấu” ở cổ áo, tay áo, hiện nay là dây kéo sau thay hàng nút bấm… đó là những thay đổi theo chiều hướng tích cực mang lại vẻ hiện đại cho áo dài. Tuy nhiên, những yếu tố chính tạo nên sự đặc sắc của áo dài như độ dài vạt áo khoảng trên/ngang gấu quần, độ ôm ở vai, eo, kết hợp với quần lụa mềm mại… vẫn cần phải bảo tồn.
Muốn gìn giữ “tâm hồn Việt”, dung hòa giữa truyền thống và hiện đại thì cần có sự hiểu biết đến nơi đến chốn về văn hóa nói chung và từng thành tố nói riêng, như trường hợp chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam. Đồng thời tránh tâm lý “so sánh” với những xu hướng thời trang của thế giới rồi mặc cảm tự ti hoặc tự tôn quá đáng. Ung dung tự tại khi hiểu rõ “ta là ai, ta như thế nào” thì sẽ vừa giữ gìn vừa phát triển văn hóa truyền thống phù hợp thời đại mới.
Nguyễn Thị Hậu
tc PHỤ NỮ MỚI 10/2017 (Hình: SG 1976 và 2016)

Kết quả hình ảnh cho áo dài sài gòn 1975

TÀN MẠN TỪ BERLIN (2)


4.    Đường mùa thu

 Mỗi ngày, từ vùng Templin qua mấy chặng tàu xe mất gần 3g đến Berlin làm việc rồi cũng ngần ấy thời gian quay về khách sạn. Chiều hôm qua làm việc xong mọi người mải mê mua sắm và chụp hình ở khu trung tâm Berlin đến tối mịt mới về đến Templin. Chuyến xe bus cuối cùng đã hết từ trước đó hơn một tiếng nên từ ga xe lửa đi bộ về khách sạn, khỏang 3km. Con đường nhỏ chỉ đủ 2 làn xe chạy giữa rừng thông, một bên là lối đi nhỏ lát gạch sạch sẽ dành cho xe đạp, bên kia lề đường rộng rãi và những ngôi nhà nhỏ một trệt một lầu. Những gian phòng ấm cúng ngọn đèn vàng, cửa sổ sơn màu sáng buông rèm trắng, bệ cửa đặt những chậu hoa nho nhỏ đủ màu sắc. Bậc tam cấp bằng gỗ tay vịn thanh mảnh, cửa ra vào sơn màu sẫm… Khung cảnh gợi nhớ một truyện ngắn đầy ám ảnh của nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái “Ngồi đợi ở bậc thềm”  dù nơi đây yên bình đến mức có thể ngồi đợi một ai đó ở bậc thềm ngôi nhà xinh xắn này cho đến hết đời… (mà mình thì cũng đã cuối đời rồi còn đâu…)

Con đường mùa thu trải dài qua rừng thông những cành thấp đã rụng hết chỉ còn phần ngọn xanh lá. Mùa thu sẽ qua rất nhanh, thông rụng lá để đón gió lạnh mùa đông và những bông tuyết đầu mùa. Nếu không rụng lá cây khó mà đứng vững trước sức nặng khi tuyết phủ trắng trĩu nặng cành cây.
Con đường mùa thu vun vút qua rừng bạch dương thân trắng lốm đốm nâu đen, dáng thanh mảnh vươn cao, rừng đấy mà bạch dương trông vẫn cô đơn. Mặt đất khô ráo thảm lá vàng trông chỉ muốn ngả lưng xuống đó mà ngắm bầu trời xanh thăm thẳm trên kia, để cho ý nghĩ không đầu không cuối lang thang bất định…

Con đường mùa thu đẩy lùi về phía sau những hàng phong tán lá sum sê, ngọn chớm vàng. Nắng sớm nắng chiều làm màu lá ánh lên như dát vàng. Gió lạnh thế này chỉ vài bữa nữa thôi những cây phong sẽ nhuộm vàng rồi đỏ rực… Mùa Thu ngắn lắm, vì vậy những sắc màu rực rỡ nhất vội vã thu hết cả vào lá vào hoa, vào sắc trời vào mặt nước… Từ sáng đến tối, bất cứ lúc nào cũng có thể nhận thấy những màu sắc phô bày không dấu diếm. “Quý bà mùa thu” đang ở vào độ tuổi đẹp nhất, rực rỡ mà đằm thắm. Sắc đẹp làm người ta ngưỡng mộ và thoáng nao lòng…

Con đường mùa thu thấp thóang hồ nước mỗi sớm hơi sương bốc lên mờ mịt, từ hàng liễu rủ ven hồ bỗng một cánh chim vút bay lên. Xa xa chiếc thuyền nhỏ, chiếc cầu nhỏ… Buổi chiều mặt nước lặng lẽ trong vắt như gương in bóng hàng liểu rủ trông như những bức tranh thủy mặc.
Con đường mùa thu qua những ngôi làng nhỏ. Những ngôi nhà vút qua cũng nhỏ nằm giữa khu vườn xinh xinh trồng hoa, những luống rau, vài cây táo trong sân, hàng rào gỗ sơn nâu, mái ngói xám dốc đứng, cửa sổ tầng sát mái như đôi mắt lặng ngắm con đường thẳng tắp chạy qua chia ngôi làng làm hai nửa.

Con đường mùa thu là tuyến đường sắt trải dài mọi miền đất nước, đường ray và hàng tà vẹt như cũ mòn nhưng những đòan tàu thì hiện đại, rộng rãi, sạch sẽ, tiện nghi làm người đi không ngán ngại thời gian dài di chuyển. Đường sắt cao tốc nối liền các nước rất hiệu quả, còn trong nước thường thấy hệ thống đường sắt khổ 1,4m vận chuyển người và hàng hóa với hệ thống ga tàu có những dịch vụ tiện dụng, đầy đủ thông tin cho hành khách, chỉ tiếc là tòan bằng tiếng Đức, đọc khó vô cùng.

Từ một ga nhỏ quạnh vắng, người đàn ông trung niên bước lên tàu. Tay cầm gậy, tay kia dẫn chú chó bergiê lông loăn xoăn màu vàng nâu. Ông khiếm thị. Chú chó to lớn ngoan ngõan quanh quẩn sát chân ông, thỉnh thỏang dụi đầu vào tay ông chủ như muốn nói rằng mình vẫn ở ngay bên cạnh. Người đàn ông xoa đầu nó và nói thầm gì đấy trông rất âu yếm. Bất giác chú chó ngước nhìn tôi. Chao ôi, một đôi mắt to tròn màu nâu quá đỗi dịu dàng... Chú Vàng ơi, nếu ông chủ không bị khiếm thị thì đôi mắt chú có buốn đến thế…?

Chiều xuống chầm chậm nhưng rồi bóng đêm lướt đến. Tôi xuống ga, đòan tàu chuyển bánh. Không biết người đàn ông và chú chó có đôi mắt buồn còn đi đến tận đâu…
Ngày Thu sắp hết…

5.    Sans souci (không buồn lo)

 Đi chơi với em mà chị lo đủ thứ: nào là đi tàu nào, ở ga nào, đến đâu xuống, đến nơi thì: đi phía nào, bản đồ du lịch đâu… rồi lại thắc mắc sao mấy cái bảng chỉ dẫn ở khu này rắc rối thế, đọc chả hiểu gì, lo trễ tàu, lo em không kịp ra sân bay… haizzz, lo suốt, chả thư thả lúc nào.
Còn em thì cứ tỉnh queo: đi đường này này, một lúc quay lại vì… nhầm, mình lên tàu này đi mấy ga thôi… một lúc: mình xuống tàu vì đi quá rồi. Rồi: đi bộ tí nhé, đằng kia có bến xe bus… một tí của em là khỏang… hơn 1 km… Túm lại là chị thì nửa tin nửa ngờ mà vẫn lẽo đẽo đi theo em, em thì cũng nửa ngờ nửa tin vào cái “bản đồ” trong trí nhớ của mình mà vẫn hiên ngang dẫn chị loanh quanh khắp khu trường Đại học rộng mênh mông, cuối cùng lại nhờ chị tinh mắt nhìn thấy nơi Hội thảo, còn mấy cái bảo tàng thì ở ngay… đầu con đường hai chị em đứng đấy xem bản đồ và hỏi thăm bao nhiêu người. Em cười vui vẻ khen: sao chị nhìn thấy hay thế?

Đi chơi với em nói đủ chuyện vẫn không thóat khỏi những lo âu thường trực trong chị: công việc của em thế nào, tính khí cứ ngang bướng thế nhỡ có chuyện gì… Em lại cười vui vẻ: thì vẫn có chuyện đấy chứ! – Rồi sao? – Thì kệ, tới đâu hay tới đó. Nhỡ người ta không cho làm nữa…? Thì tìm việc khác, lo gì! Hết biết với em luôn! Thế mới thấy chị và em rất khác nhau: Ở đây chị là người lạ, lúc nào cũng nơm nớp “xảy nhà ra thất nghiệp”, vì vậy đi đâu cũng phải chuẩn bị kỹ càng, nhớ mua vé, nhớ quẹt vé, nhớ xem bản đồ, nhớ giờ tàu đi về, nhớ đủ thứ…
Còn em là người “hơi quen” vì đã từng ở đây một thời gian ngắn, tiếng Đức nghe đến đâu nhớ ra đến đấy, tự tin nói ào ào, quên thì lại xổ tiếng Anh… Em bảo: bên này giờ giấc mọi cái cứ theo quy định, tàu xe có liên tục không đi chuyến này thì chuyến sau, mà trễ thì ở lại mai về sớm, có gì mà lo…

Thế mới thấy môi trường sống tạo cho phong cách người ta khác nhau: con người ở đây khẩn trương mà ung dung, họ luôn tự tin vì biết quanh mình mọi cái đều vận hành “chuẩn không cần chỉnh”. Còn ở nhà mình lúc nào cũng vội vàng mà vẫn luôn lo lắng… nơm nớp vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra, dù mọi việc có “chỉnh” mà vẫn không thể “chuẩn”…
Chợt nhớ bàn tay em vỗ nhẹ lên vai chị: đến Sans souci thì đừng lo lắng, vui đi, chị! Lại chợt buồn: thời gian nhanh quá, đã sắp hết ngày rồi… (lại nghĩ quá một chút: thì cũng sắp hết đời roài!) Uh, nếu có lần sau quay lại (và nếu có kiếp sau), nhất định chị sẽ sans souci!

6.    Bạn xa xứ

Internet mang lại cho con người những trải nghiệm thú vị về một thế giới mênh mông mà cũng vô cùng nhỏ bé. Thế giới rộng lớn qua các địa danh nhưng lại nhỏ xíu khi chỉ một cái clich là có thể đến bất cứ  nơi nào mình muốn. Dù ở nơi đâu trên trái đất người ta cũng dễ dàng quen biết nhau, có thể cả đời chẳng gặp mặt mà vẫn trở thành bạn bè.
Tôi đã quen nhiều người bạn như thế. Dù gặp gỡ đổi trao thân thiết hàng ngày trên mạng nhưng khi có cơ hội thì chúng tôi vẫn cố gắng tìm gặp nhau, và thật may mắn vì những cuộc gặp gỡ ấy chưa bao giờ làm chúng tôi thất vọng.
Vào những ngày cuối thu năm 2010 tôi có chuyến công tác dài ngày ở Cộng hòa liên bang Đức. Trước khi đi tôi đã nhận được từ nhiều bạn bloggers lời “rủ rê” đến chơi nơi này nơi khác. Nhưng rồi lịch làm việc kín mít nên tôi chỉ có thể gặp được vài người. 

Ngay buổi chiều đầu tiên tôi đến Berlin, một người chị mà tôi cũng chỉ quen trên mạng, đã đến đón và đưa tôi đi đến một nơi khá đặc biệt: Khu tưởng niệm Hồng quân Liên xô trong thế chiến II, một nơi rất ít khi có khách Việt Nam đến tham quan. Chị bảo đây là một trong những nơi đẹp nhất Berlin. Quả nhiên như vậy, khi đứng trước tượng đài Người mẹ và các chiến sĩ Hồng quân, tôi hiểu chị cũng như chúng tôi, ký ức của một thời chiến tranh một thời gian khó không dễ gì trôi qua dù hòan cảnh đã có nhiều đổi thay. Sống ở Berlin gần 20 năm mà chị vẫn giữ phong cách Hà Nội thuần khiết, chu đáo, nhiệt tình, giọng nói nhẹ nhàng.

 Những ngày sau đó dù công vịêc rất bận rộn mà chị vẫn tranh thủ buổi chiều sau giờ làm việc đưa tôi đi nơi này nơi kia. Đường đông đúc mà chị vừa lái xe rất “lụa” vừa nói chuyện với tôi. Anh chị thường xuyên lên mạng xem tin tức ở nhà, rồi trao đổi với các con để chúng gần gũi với quê hương hơn. Hai con của  anh chị học rất giỏi, và nói tiếng Việt cũng rất hay dù chúng được sinh ra trên đất Đức. Có hôm hai chị em về đến nhà đã thấy cháu trai nấu xong nồi cơm, đang sửa sọan thức ăn. Tôi hỏi cháu có thích ăn thức ăn Việt Nam không, cháu nói rất thích vì mẹ cháu nấu rất ngon. Chị bảo, cả ngày cháu ở trường ăn đồ ăn Tây, nói tiếng Đức tiếng Anh nên về nhà nấu cơm Việt để trong bữa ăn nói tiếng Việt nhiều hơn. Học ngôn ngữ qua đường… dạ dày là nhanh nhất, phải không, chị cười hóm hỉnh.

Cũng qua một người bạn trên mạng mà tôi được đến thăm một lớp học đặc biệt ở Berlin: Lớp dạy nhạc dân tộc của anh Hùng và chị Hoa, cũng là người Hà Nội. Đến thăm anh chị vào một buổi chiều muộn, bước vào gian phòng nhỏ tôi đã nhìn thấy hàng chục lọai nhạc cụ Việt Nam: đàn tranh, đàn bầu, sáo trúc, trống phách… Trong lớp có 4,5 cháu gái đủ lứa tuổi đang chăm chú hòa tấu bản nhạc Trống cơm, Bắc Kim thang… Hỏi thăm, có cháu nói tiếng Việt không sõi nhưng sử dụng nhạc cụ thành thạo, say mê đánh đàn.

Chị Hoa vốn là nghệ sĩ múa, anh chị qua đây làm ăn cũng lâu rồi, khi công việc đã ổn định anh chị nhận thấy nhiều người trong cộng đồng người Việt ở Berlin muốn con em mình phải biết về văn hóa dân tộc, vậy là anh chị mở lớp dạy nhạc này vừa để đỡ “nhớ nghề” như chị bảo, vừa tạo sự thích thú cho các em. Không ngờ lớp học duy trì đã được mấy năm, các em theo học hầu như suốt ngày, chia làm nhiều lớp. Giờ thì lớp học của anh chị rất nổi tiếng, ngòai con em người Việt còn có cả các em nhỏ người Đức nữa. Âm nhạc luôn là “sứ giả’ của các dân tộc, anh chị đã góp phần giới thiệu văn hóa Việt Nam với bạn bè, đồng thời cũng góp phần gìn giữ văn hóa truyền thống của người Việt Nam ở nơi đất khách.

Một lần tôi nhận được một cuộc điện thọai, chị ơi em là P. đây, anh C. nói chị qua đây và cho em số điện thọai của chị. Chị ơi chị rảnh hôm nào em đón chị về chơi với em và cháu? Ôi cô em dễ thương và cậu con trai ở cách Berlin gần 500km, làm sao mà tôi đến thăm em được? Xa thế mà em vẫn thu xếp công việc để gặp nhau. Sáng sớm đi tàu đến Berlin để rồi xế chiều quay về ngay. Hai chị em chỉ ngồi với nhau có vài tiếng, tôi hỏi thăm công việc của em, cuộc sống của hai mẹ con, biết em vẫn ổn mà cũng biết em vất vả thế nào để sinh sống nơi đây khi không có một người đàn ông làm trụ cột trong gia đình!
Em tâm sự: gia đình muốn em quay về Việt Nam, em cũng nhớ nhà, thương bố mẹ lắm… nhưng giờ về thì làm sao em kiếm được được việc làm để nuôi mình, nuôi con? Bên này làm công nhân vất vả lắm nhưng dù sao đã ổn định, hai mẹ con em có một mái nhà đơn sơ nhưng ấm cúng. Con trai đang tuổi lớn, không biết có thích nghi được với trường lớp với cuộc sống ở nhà không? Tôi bảo: thôi hai mẹ con cứ ở bên này cho con trai có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Khi cháu có nghề rồi muốn về cũng không muộn. Vả lại bây giờ thế giới như cái “làng tòan cầu”, ở đâu cũng vậy nếu lòng mình luôn nhớ về quê cha đất tổ. Ở đâu cũng được miễn là mình sống lương thiện và tử tế, không có gì phải xấu hổ với cha mẹ là được. Em đừng băn khoăn.

Tiễn em lên tàu tôi không khỏi ngậm ngùi, khi nhìn dáng em nhỏ bé với mái tóc dài em cố giữ qua bao năm dài như giữ gìn những ký ức quê nhà. Cầu mong hai mẹ con em luôn được bình yên…
Chia tay bạn bè, chúng tôi đều hẹn sẽ gặp lại nhau, hàng ngày, trên internet. Để chia sẻ với nhau những khó khăn những nỗi buồn, để góp từng niềm vui mang lại cho mọi người chút bình yên khi cuộc sống còn quá nhiều bề bộn và đầy bất trắc…

Tháng 10.2010 (hình: internet)


Potsdam Schloss Sanssouci (707912855).jpg

TẢN MẠN TỪ BERLIN (10.2010) (1)



1.   Ký ức chiến tranh

Sau khỏang 14 giờ bay từ Hà Nội, qua một đêm dài hơn nửa ngày, Berlin đón tôi bằng cái lạnh se se của ngày thu. Mới đầu thu mà gió đã mang theo hơi lạnh đầu đông, dù hàng cây phong hai bên đường lá mới chớm vàng. Nhưng thời tiết này thì chỉ vài ngày nữa thôi cây sẽ trút lá thành những thảm vàng rực rỡ trên đường, trong rừng, trên những bãi cỏ xanh mát ở công viên... Còn giờ đây lác đác vài cây những chiếc lá vàng in lên nền trời xanh thẳm, gợi nhớ đến những bức họa mùa thu vàng của Levintal.
Buổi chiều đầu tiên chưa phải làm việc, chị Hòa, bạn tôi dẫn đến thăm một nơi mà theo chị, rất ít các tour du lịch của người Việt đến đây, đó là khu Tưởng niệm các chiến sĩ Hồng Quân trong Thế chiến thứ II. Công viên rộng lớn, vắng lặng, nhưng trang nghiêm và có lẽ, từ tình cảm và nghề nghiệp của mình, cảnh quan nơi đây mang lại cho tôi thật nhiều cảm xúc.

Khu tưởng niệm nằm giữa một công viên như khu rừng nhỏ. Trên chiếc cổng xây bằng đá còn nguyên những dòng chữ tôn vinh những người lính đã ngã xuống ở Berlin mùa hè năm 1945. Hàng rào thấp như để phân chia con đường và khu rừng phong lá còn xanh mướt, bên này là con đường lát những viên đá nhỏ dẫn vào khu tượng đài. Những thành phố châu Âu luôn mang cho tôi một cảm giác thân thuộc khi nhìn thấy lá phong vàng đã rụng gió cuốn đi rồi lặng nằm ven lề đường lát đá. Hàng trăm năm đã trôi qua, những viên đá hằn dấu thời gian vẫn được gìn giữ, trở thành những chứng nhân thầm lặng của lịch sử, trở thành ký ức của biết bao người từng sống và từng đến nơi đây.

Buổi chiều, công viên vắng, chỉ có tiếng lá kêu xào xạc. Những hàng liễu đứng thẳng tắp như hàng lính đứng nghiêm bên ngôi mộ các chiến sĩ vô danh, hàng liễu lá rủ sau tượng đài như nỗi đau của những Người Mẹ. Tượng đài chính trên một ngọn đồi thấp có những bậc thang dẫn lên, xung quanh viền những vòng nguyện quế đúc bằng đồng. Người lính Xô Viết tay bồng một bé gái, tay kia cầm thanh kiếm mũi chúc xuống đất. Gương mặt người lính và bé gái thảng thốt như vừa thóat khỏi một tai nạn khủng khiếp. Nghe kể rằng ý tưởng về tượng đài này xuất phát từ một câu chuyện có thật: một người lính Xô Viết đã lao ra cứu sống một bé gái giữa làn đạn, một phóng viên tình cờ chụp được bức hình người lính bồng em bé, vai khóac khẩu súng chúc nòng xuống đất. Tượng đài ra đời như thế. Mấy chục năm đã trôi qua, người ta tìm được cô bé ngày nào đã trở thành một phụ nữ, còn người lính vô danh ấy đã hy sinh ngay trong trận đánh.

Tượng đài của khu tưởng niệm gắn những dòng chữ tiếng Nga mà không cần dịch ra tiếng Đức. Những nỗi đau của chiến tranh, những sự hy sinh cho hòa bình có lẽ không cần phiên dịch bởi bất cứ nơi nào trên trái đất con người cũng cảm nhận và thấu hiểu về nó như nhau.

Bên dưới chân tượng đài luôn có những bông hoa tươi, bông hồng, bông cúc, có cả những nhành hoa dại. Chỉ có vài người ở đó nhưng tôi nghe thấy tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Anh… Một chú bé khỏang 2,3 tuồi lẫm chẫm từ chân đồi đi lên, mái tóc bạch kim sáng rực lên trong nắng chiều, dáng nhỏ nhoi của chú bé và bức tượng đài hòanh tráng bên nhau trông thật gần gũi và bình dị như bất cứ gì ta nhìn thấy trên đường phố, nhưng sao lòng tôi rưng rưng. Sự hy sinh to lớn của các thế hệ chính là để bảo vệ sự sống và sự hồn nhiên của trẻ thơ ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Chiến tranh rồi cũng qua đi. Những tượng đài kỷ niệm chiến tranh trở thành di sản văn hóa vì không chỉ ghi lại một sự kiện mà vì ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm điêu khắc đó mang gía trị nhân văn của lòai người. Tôn trọng những sự kiện của thời đã qua, bảo vệ ký ức của tiền nhân, gìn giữ di sản tinh thần cho đời sau… là sự thể hiện bản chất văn hóa của mỗi con người của mỗi thể chế.

Tôi nhớ có đọc trong một tác phẩm của Dumbatze, nhà văn Gruzia, một chuyện như sau: ông chủ tịch nông trang nọ đặt một nhà điêu khắc làm tượng đài kỷ niệm trận đánh đã diễn ra ở địa phương đó. Nhà điêu khắc phác thảo một người lính cầm súng trong tư thế lao lên phía trước. Ông chủ tịch bảo, đại khái: chiến tranh với lính tráng và vũ khí thì chúng tôi nhìn thấy nhiều rồi, anh vẽ giỏi mấy cũng ko thể đúng như chúng tôi đã thấy. Cái tôi cần là anh làm thế nào cho người ta ghê sợ chiến tranh, để sống tử tế hơn, để nuôi nhiều bò làm ra nhiều sữa, trồng nhiều lúa mì hơn, cho trẻ con được lớn lên dưới bầu trời xanh… Bạn có nhận thấy không, các tượng đài về Thế chiến II ở Liên Xô cũ và nhiều nước Đông Âu đều rất đẹp và buồn, “nỗi buồn chiến tranh”, đúng là như vậy đấy!

Chiều thu Berlin nắng nhạt dần, gió vẫn vi vút trên những hàng liễu. Vẫn biết không tượng đài nào bền vững như lòng người… nhưng sao vẫn chạnh lòng khi nhớ đến những nghĩa trang bạt ngàn tên tuổi những người đã nằm xuống trong suốt mấy chục năm chiến tranh trên đất nước ta.

2.    Tiếng phong cầm trên đường phố Potsdam

Thành phố Potsdam một chiều tháng chín se lạnh nắng vàng rực rỡ.
Khu phố trung tâm tấp nập du khách, dãy cửa hàng nhộn nhịp người mua sắm, ăn uống, tán gẫu, dạo chơi… Bỗng đâu tiếng phong cầm rộn vang cả một đọan đường. Giai điệu của những bài hành khúc Liên Xô không lẫn vào đâu được. Tiếng nhạc kéo tôi đi về phía một nhóm mấy người đàn ông trung niên trong bộ quân phục Xô Viết vừa đàn vừa hát, chân dập nhịp nhàng, thân mình lắc lư theo tiếng nhạc sôi động. Lời hát tiếng Nga vừa quen vừa lạ. Lâu lắm rồi mới được nghe những giọng nam phối bè “đặc Nga” như thế.

Giai điệu làm sống lại một thời chưa xa, thời mà đối với nhiều người Việt Nam đất nước Liên Xô vô cùng thân thuộc dù có thể chưa từng đến đó. Tôi cũng chưa một lần đến nước Nga, chỉ biết và yêu mến nước Nga qua các tác phẩm văn học cổ điển và văn học Nga – Xô Viết. Rất nhiều tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam, những dịch giả thời ấy thấu hiểu ngôn ngữ Nga giàu cảm xúc và đã chuyển ngữ bằng thứ tiếng Việt trong sáng, uyển chuyển và tinh tế. Qua đó “tâm hồn Nga” đến với người Việt Nam như không có khỏang cách không gian, không còn khỏang cách thời gian, chỉ còn sự đồng cảm sẻ chia của những CON NGƯỜI. Hồi nhỏ, khi biết đọc, cuốn sách đầu tiên tôi tìm thấy trong tủ sách của ba tôi là cuốn Bông Hồng Vàng của Pauxtopxki do Vũ Thư Hiên dịch. Tôi vẫn nghĩ đây là một may mắn vì số phận đã mang đến ngay cho tôi vẻ đẹp của văn học từ  Bông Hồng Vàng. Cho đến bây giờ đây vẫn là cuốn sách tôi yêu qúy nhất, thường đọc lại mỗi khi muốn tìm cho mình một chốn bình yên, một niềm an ủi.

Suốt thời thanh niên, cùng nhiều bạn bè chúng tôi không ai không thuộc vài bài hát Nga, nhất là "Cachiusa" – bài hát quen thuộc đến mức mọi người đều nghĩ đây là một bài dân ca Nga. Những bài hát đến với người Việt từ những bộ phim nổi tiếng như "Pie Đại Đế", "Sông Đông êm đềm", "Khi đàn sếu bay qua", "Số phận một con người", "Bài ca người lính"...  Đến những ngày đầu tháng 5/1975 thanh niên ở Sài Gòn cũng bừng bừng lời ca "Thời thanh niên sôi nổi" Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ. Bàn tay son sắt giương cao ngọn cờ. Để ngàn đời bền vững Tổ Quốc ta. Trời cao muôn ngàn năm chói lòa... Rồi lời ca trầm hùng "Cả tình yêu trao cuộc sống có thấy chăng ơi cuộc đời tình ta thắm nồng" trong bài "Cuộc sống ơi ta mến yêu người". Vở kịch "Câu chuyện Irkust" được mọi người nhớ đến nhiều hơn từ bài hát "Xi-bê-ri nở hoa". Rồi ca khúc "Chiều Maxcơva" là một trong những bài hát trữ tình nổi tiếng chúng ta được nghe nhiều nhất mỗi năm vào những ngày lễ của nước Nga. Riêng tôi rất thích những bài hát mang âm hưởng dân ca Nga như bài “Cây liễu”, “Cánh đồng Nga”, “Tuổi 18”, “Cây thùy dương”…Còn nhớ có một thời gian tôi học tiếng Nga với một cô giáo người Nga. Ngày mùng 7 tháng 11 năm ấy trường tổ chức biểu diễn văn nghệ, khi nghe tôi hát bằng tiếng Nga “Tuyệt vời… những cánh đồng lúa nước Nga, người là tuổi trẻ là ước mơ của chính tôi…”, đôi mắt cô giáo rơm rớm. Từ đó cô luôn âu yếm gọi tôi bằng cái tên rất Nga là Natasa.
Những giai điệu Nga đã trở thành  một phần ký ức tuổi trẻ chúng tôi.

 Ở các thành phố châu Âu ta vẫn gặp những “nghệ sĩ đường phố”. Nhưng nhóm nhạc Nga trên đường phố Potsdam hôm nay đã cho tôi thêm một sự bất ngờ trong thời gian ngắn ngủi tôi ở nước Đức. Giữa thủ đô Berlin khu tưởng niệm các chiến sĩ Hồng quân trong thế chiến thứ 2 vẫn còn đó dù chính thể Liên Xô, Đông Đức không còn tồn tại. Và ở đây, nơi gắn liền với sự kiện Hiệp ước Potsdam lịch sử (1), những người đàn ông trong quân phục Liên Xô vẫn đàng hòang biểu diễn những bài hát Nga – Xô viết trên đường phố. Quen thuộc là thế nhưng khi nhìn những gương mặt Nga trong bộ quân phục, nghe những bài hát thân thuộc thủa nào, có gì đó ngậm ngùi…khiến tôi không thể dừng chân lâu hơn. Gần đó, trên ghế băng dài mấy người phụ nữ Đức ngồi nghe như đang hòa mình với bài hát, chân nhịp nhịp, đôi tay vung lên quay cùng điệu nhạc. Có lẽ họ cũng như tôi đang nhớ lại ký ức một thời đã qua.
Đi xa rồi vẫn nghe tiếng phong cầm day dứt một giai điệu thật đẹp mà cũng thật buồn “Giờ này anh về đâu, hỡi người bạn cũ cùng trung đòan, đã dấn bước cùng tôi trên chặng đường xa…”.
Trên bầu trời xanh cuối thu những đàn chim đã bắt đầu bay về phương Nam.

3. Mùa thu xanh
 
Mùa thu, mùa được nhiều người coi là đẹp nhất trong năm ở Châu Âu: Mùa thu họach nhiều lọai cây trồng, ban ngày nắng ấm vẫn còn dài nhưng ban đêm hơi lạnh mùa đông đã hiện diện. Không khí trong lành tràn hương thơm từ hoa nở trên đường phố, trên ban công, trong những khu vườn, hương thơm từ các lọai trái cây chín đỏ từ những nông trại theo ra đến chợ, vào tận các cửa hàng trong thành phố.

Từ sân bay Berlin về trung tâm thành phố tôi hơi ngạc nhiên vì ngỡ mùa thu châu Âu vàng như những bức tranh tôi từng biết nhưng Berlin lại hiện ra với tràn ngập màu xanh của cây của lá của công viên như những khu rừng nhỏ. Trên mọi con đường đều có bóng cây: cây phong, cây liễu, bạch dương, và nhiều lọai cây khác tôi không biết tên. Cây trồng trên lề đường, hoa trên ban công, cây dây leo trên những bức tường… những thảm cỏ xanh, những khu vườn còn nhiều cây cổ thụ trông hoang dại như khu rừng nhỏ… Ngòai những con đường, những tòa nhà, bất cứ nơi nào trống là màu xanh có mặt mang lại cảm giác thư thái bình yên. Mà khoảng đất dành cho cây cho hoa nhiều lắm, nhiều đến mức hầu như người ta ít để ý đến những tòa nhà kiến trúc kiểu Gotic nặng nề hay những tòa nhà mấy cục tầng cao ốp kinh như ở những thành phố khác. Không biết gọi Berlin là “rừng trong thành phố” hay “thành phố trong rừng” thì chính xác hơn?

Vùng ngọai ô Berlin hầu như còn nguyên những khu rừng tự nhiên. Hàng ngày đi từ Berlin về Templin khoảng gần 3g xe hơi tốc độ 120km/g, hai bên đường hút mắt là rừng cây, bãi cỏ chăn nuôi, những chú bò ung dung gặm cỏ. Có những đọan đường đẹp như tranh vẽ, mỗi sớm mỗi chiều ánh mặt trời làm những hàng cây bừng lên lộng lẫy. Thi thoảng ven đường có tấm biển báo hiệu đọan đường thường có thú rừng chạy ngang, đủ biết hệ sinh thái trong rừng còn nguyên sơ đến thế nào. Anh lái xe kể: Trên đường đi nếu gặp thú bị thương nằm ở ven đường thì mọi lái xe đều tự giác gọi ngay cứu hộ và bảo vệ con thú cho đến khi đội cứu hộ có mặt. Trong rừng có nhiều trạm báo cháy lắp đặt thiết bị quan sát được hàng trăm hecta, bất cứ nơi nào có dấu hiệu cháy rừng là Trung tâm nhận được ngay tín hiệu từ trạm. Các phương tiện chữa cháy và cứu hộ được điều đến ngay và đám cháy được dập tắt ngay trong chốc lát. Mùa thu hanh khô là mùa dễ cháy rừng nếu ai đó chỉ vô ý vứt một tàn thuốc lá, vì vậy mọi người đều rất tự giác giữ gìn và bảo vệ rừng.

Trong các ga metro, ga đường sắt tôi hay gặp những quầy bán hoa của người Việt. Những loài hoa tươi tắn trong cái se lạnh mùa thu: hoa cúc, hoa hồng, layơn, hoa ly, mimoda, thạch thảo… Những chậu hoa lớn nhỏ sẽ theo người về trang trí từng ngôi nhà, những bó hoa xinh xắn sẽ được trao tặng cho các cô gái những người phụ nữ. Đôi bàn tay khéo léo của người bán làm tăng thêm vẻ đẹp của những bông hoa. Cần mẫn kiếm sống và góp phần làm đẹp cho cuộc sống, tôi chợt nghĩ rằng có lẽ từ công việc của mình những người này sẽ yêu quý thiên nhiên, yêu quý cái đẹp hơn chứ không chỉ coi đây là một việc để kiếm tiền, dù trên gương mặt họ vẫn nhiều ưu tư.

Chưa kịp quen với màu xanh ở Berlin thì lá đã chuyển vàng và rụng theo những cơn gíó chớm lạnh. Mùa thu vàng đang đến rồi cũng sẽ qua rất nhanh. Để rồi mùa đông cây sẽ ủ trong mình những mầm lá, xuân đến lộc nảy chồi non, mấy tháng nữa thôi lại một màu xanh mới tràn ngập nơi đây. Tôi không muốn rời Berlin trong ám ảnh màu vàng chia ly mà chỉ muốn chia tay trong một sắc thu xanh như ngày đầu tôi đến./.

 Berlin, 10/2010

 Không có văn bản thay thế tá»± động nào.

. TRÊN NẺO ĐƯỜNG BIÊN



1.     Cửa khẩu.

Năm năm rồi tôi mới trở lại Lạng Sơn. Khỏang năm 2005 tôi có dịp lên cửa khẩu Hữu nghị quan. Hồi đó đường biên là con đường thằng, ranh giới hai bên phân biệt là màu nhựa đường. Nhìn qua Hữu nghị quan thấy có phần gần gũi vì vẻ rêu phong cổ xưa của nó. Cột mốc cây số 0 của hai bên đứng khiêm nhường bên đường. Đồn công an cạnh barie cũng giống nhau. Hai tòa nhà trụ sở Hải quan cũng tương đương về quy mô. Có khác chăng là phía Việt Nam hàng đòan xe tải chở trái cây chờ nhập khẩu sang Trung quốc, còn phía Trung quốc là những xe tải nhỏ chở hàng hóa tiêu dùng qua Việt Nam. Thật ra lúc ấy hàng hóa nhập từ Trung quốc qua cửa khẩu cho “phải phép” thôi vì hàng lậu đã tung hòanh khắp nơi.

Lần này đến đây tôi không nhận ra nơi mình đã đến cách đây mới 5 năm. Từ phía trụ sở Hải quan Viết Nam nhìn qua bên kia, tòan bộ khu vực cửa khẩu cao hẳn lên như một ngọn đồi, rộng như quảng trường, được lát đá sáng bóng, lát gạch sạch sẽ. Cột mốc phía Trung quốc là một tảng đá to lớn dựng giữa quảng trường, một hàng rào inox chạy suốt chiều ngang, vì vậy khách nhập cảnh không thể đi thằng mà phải đi theo đường hành lang ven lề trái để vào trụ sở Hải quan được xây mới đồ sộ hơn trước. Còn phía nhà ta thì vẫn là tòa nhà cũ, đường bê tông, bước ra khỏi trụ sở Hải quan là bụi mù. Mấy năm rồi mới xây được thêm bãi đậu xe hơi và nhà chờ ở tuốt phía ngòai. Có vài chiếc xe chở khách từ Hải quan ra bãi xe cũng là xe lam Trung quốc…

 “Hữu nghị quan” đã biến thành tòa nhà lầu cửa kính hiện đại, tường xây sạch sẽ, không còn vẻ rêu phong cổ kính. Cũng phải thôi, “hữu nghị quan” giờ ngự trên “ngọn đồi” đá lát sáng bóng, cây đa cổ thụ gần đó cũng được xây bệ gạch tròn xung quanh, ghế đá, bồn hoa… Mọi thứ có vẻ quy củ và hòanh tráng. Chỉ buồn cười những bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt: nhà xí (nhà vệ sinh), “do đó nhập” (lối vào), “nơi tiêu độc đế giày” (thảm chùi chân)… không hiểu dịch kiểu gì nữa?

Từ bên này đi qua bên đó thì phải gò lưng lên dốc, nhìn qua bên đó thì cứ phải “ngước nhìn”. Từ bên kia nhìn về phía mình đúng là kiểu “nhìn xuống” đầy “hạ cố”… Có ai nhận ra điều đó không?!

2. Bằng Tường

Đây là một thị trấn của tỉnh Quảng Tây (Trung quốc) sát biên giới phía Bắc của Việt Nam. Lần trước tôi đến Bằng Tường chỉ là thị trấn nhỏ có phần hiu quạnh, mấy con phố cũ lác đác xe máy xe đạp, vài chiếc xe lôi do phụ nữ lái tập trung ở ga xe lửa. Ngày có vài chuyến xe lửa từ Bằng Tường đi Nam Ninh làm cho thị trấn nhộn nhịp chốc lát… Lang thang ngòai cửa ga trong lúc chờ tàu đến tôi còn kịp ngắm nghía sạp đồ cổ của một ông già bày ở lề đường, tiền xưa bạc cũ gốm cổ đủ cả, đẹp nhất là mấy chiếc tô đĩa gốm vẽ gà trống men màu xanh đỏ của các lò gốm Quảng Đông, trông quen thuộc vì giống gốm Biên Hòa. Cửa hàng bên kia đường bảng hiệu cũng có tiếng Việt “cửa hàng bách hóa” bán đủ lọai quần áo giày dép nước giải khát kẹo bánh. Màu sắc sặc sỡ, giá không đắt, hàng bình dân mà.

Bây giờ Bằng Tường đã trở thành một thành phố mới nơi cửa khẩu: đường phố rộng rãi chiếu sáng bởi hai dãy đèn đường uốn hình hoa râm bụt – biểu tượng của tỉnh Quảng Tây. Nhà đang xây ngổn ngang khắp nơi nhưng phố xá vẫn gọn gàng. Những phố xưa vẫn là những căn nhà phố hình ống một trệt một lầu cửa sổ trang trí hồi văn treo đèn lồng đỏ, như những con phố từ truyện của Lỗ Tấn bước ra. Chỉ khác là nhiều cửa hàng cửa hiệu dùng 2 thứ tiếng Trung – Việt, công ty du lịch, nhà hàng đặc sản san sát, khách du lịch đông đúc, cả Việt cả Trung, đều nói nhiều nói to, như nhau.
Trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố là một tòa nhà 4 lầu mới xây dựng. Bên kia đường một khách sạn 5 sao đang xây tựa lưng vào núi và nhìn lên một ngôi chùa cổ cheo leo vách núi. Bằng Tường đang xây nhiều chung cư cao tầng, có lẽ dân cư ở đây đang tăng lên nhanh chóng.

Thành phố cửa khẩu nối liền với Nam Ninh bằng con đường cao tốc nội địa mỗi bên 3 làn xe hơi và một làn đường phụ. Dải phân cách trồng hoa râm bụt suốt tuyến dài gần 180km. Khỏang 50 km có một trạm dừng rộng mênh mông đủ chỗ cho hàng chục xe lớn, nhà hàng luôn có thức ăn nóng sốt, siêu thị nhỏ nhưng đầy đủ hàng hóa cần cho người đi đường xa. Nhà vệ sinh sạch sẽ. Xe chạy tốc độ khỏang 100km/h, không hề thấy bóng công an vì suốt con đường được theo dõi bằng camera. Đường tốt làm khỏang cách như gần hơn. Không có cảm giác đây là vùng biên, càng không có cảm giác xa xôi heo hút dù con đường chạy giữa những ngọn núi đá nhấp nhô.
Trên đường đôi lúc có cảm giác như đi giữa hai hàm răng sói khổng lồ…

3. Nam Ninh 

Nam Ninh không phải là một thành phố trẻ.  Khởi đầu thuộc vùng đất này thuộc tộc Bách Việt, về hành chính thì Nam Ninh đã có ít nhất hơn 2000 năm lịch sử từ khi vùng Quảng Tây thuộc về nhà Tần vào khỏang đầu thế kỷ 3 trước công nguyên. Trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, Nam Ninh luôn có vị thế quan trọng tại miền biên giới phía Nam, là trung tâm cư trú của người Choang - dân tộc có đông dân chỉ sau người Hán trong cộng đồng 53 dân tộc của Trung Hoa. Đầu năm 1950 thành phố Nam Ninh được thành lập đồng thời được xác định là thủ phủ tỉnh Quảng Tây. Từ tháng 3 năm 1958 trở thành thủ phủ của khu tự trị người Choang Quảng Tây. Khỏang 10 năm trước Nam Ninh còn mang dáng dấp tỉnh lẻ, chỉ khu trung tâm là có dáng vẻ của một thành phố hiện đại với nhà cao tầng, khu thương mại, đường rộng rãi sáu làn xe hơi, nhưng xe đạp vẫn thong thả quay vòng trên những làn đường này… Từ khách sạn trung tâm nhìn ra nhà ga Nam Ninh, mỗi ngày có hàng chục chuyến tàu đến, trăm ngàn lượt khách chủ yếu vẫn là nông dân từ các tỉnh miền núi phía nam đổ về tìm việc làm ở các công trường xây dựng ở phía Đông thành phố. Hôm nay đến Nam Ninh, nếu chỉ quan sát bằng con mắt thường ta khó có thể tìm ra mối liên hệ giữa “khu tự trị người Choang” với thành phố đang lớn lên từng ngày, “phố Đông” ở Nam Ninh đã hiện hữu, đẹp đến ngỡ ngàng!

Điều nhận thấy đầu tiên Nam Ninh là một “thành phố xanh”, xanh từ những hàng cây giữa dải ngăn cách của đường cao tốc, xanh từ những bóng mát từ những hàng cây ven đường, xanh từ những thảm cỏ xanh, luống hoa nho nhỏ trên vỉa hè, xanh dưới cầu vượt, xanh trước những chung cư, và xanh từ những công viên rộng mênh mông giữa lòng thành phố. Có đến 36% diện tích thành phố được phủ xanh, một con số đáng kể nếu ta biết rằng Nam Ninh đã lớn gấp đôi so với trước đây, khỏang 23.000 km2. Dân số hiện nay của Nam Ninh gần 7 triệu người, chưa kể số lượng gần 3 triệu  người nhập cư “thời vụ”. Thành phố đang hướng đến mốc 10 triệu dân, bởi vậy dọc những con đường tôi qua chỉ thấy những chung cư cao vài chục tầng (trông xa xa không hiểu sao những tòa nhà ở đây lại “dẹp lép” như vậy, hóa ra vì chúng dài mà cao quá). Những ngôi nhà riêng ngòai mặt phố dần biến mất, chỉ ở khu phố trung tâm còn vài căn nhà mang dáng vẻ cổ xưa nay là cửa hàng bán đồ lưu niệm luôn tấp nập khách du lịch. Bù lại, nhiều nhà hàng, khách sạn kiến trúc rất hiện đại nhưng có lối trang trí đậm nét văn hóa truyền thống với mái ngói xanh, đèn lồng đỏ và vô số kiểu dáng và chi tiết hoa văn trong nội thất. Chung cư cao tầng là chính sách nhất quán trong sự quy họach của nhiều thành phố Trung quốc, để tạo ra sự “an cư” cho cư dân đồng thời để có thế xây dựng cảnh quan đô thị quy củ, hiện đại.

Cũng như nhiều thành phố khác ở Trung quốc, đường phố ở Nam Ninh rất rộng với 6 làn xe chính, vỉa hè rộng rãi đủ chỗ cho người đi bộ đổ ra từ những bến xe bus hay từ những tòa nhà cao tầng. Giao thông công cộng phát triển nhất là xe bus, nhiều tuyến nhiều lọai xe bus tùy thuộc vào khỏang cách và mức độ dân cư đi lại. Xe máy điện, xe đạp vẫn còn phổ biến nhưng xe hơi cũng đã bắt đầu có hiện tượng kẹt đường vào giờ tan tầm. Giao thông công cộng phát triển ở Nam Ninh thể hiện 2 mặt: sự họach định chính sách lâu dài, quy họach đô thị từng bước chặt chẽ, những biện pháp chế tài nghiêm ngặt của chính quyền thành phố, đồng thời cũng là quá trình của tự giác và ý thức cư dân đô thị. Ví dụ: trên xe bus chỉ có tài xế (sư phụ), hai cửa lên xuống phân biệt rõ ràng. Cửa lên phía trước, hành khách tự giác bỏ tiền lẻ vào khe hộp tiền hay trình vé tháng. Cửa xuống phía sau, tự giác nhường cho người già, trẻ em. Được như vậy cần có sự thực hiện đồng bộ: nhiều tuyến xe, nhiều chuyến xe, bến xe thuận tiện, giá vé rẻ, tiển lẻ phổ biến, khuyến khích mua vé tháng, nhưng “kiểm tra giao thông” cũng thường xuất hiện bất ngờ trong vai người đi xe bus, phát hiện ngay người lậu vé hay sai phạm của tài xế như bỏ bến phóng nhanh vượt ẩu. Mỗi lỗi như vậy bị phạt khá nặng nên tính răn đe cao. Chỉ mới hơn 5 năm mà “văn hóa xe bus” đã phổ biến ở Nam Ninh. Đây là bước chuẩn bị cho cư dân làm quen với metro: tính tự giác, thói quen khẩn trương đúng giờ, đúng bến. Hiện nay Nam Ninh bắt đầu xây dựng tuyến metro xuyên đông tây thành phố.

Trong lịch sử, vùng Hoa Nam từ phía nam sông Trường Giang nằm trong khu vực văn hóa Đông Nam Á cổ với kỹ nghệ đúc đồng và nông nghiệp trồng trọt hình thành và phát triển từ rất sớm. Nhưng từ thời nhà Hán vùng này xa dần văn hóa truyền thống Đông Nam Á mà hòa nhập vào khối văn hóa Hoa hạ của miền Trung nguyên. Vùng Quảng Tây có thể được coi là một trong những “cửa ngõ” quan trọng để văn hóa Hoa Hạ đi về phía Nam. Bởi vậy thật dễ hiểu khi Quảng Tây xây dựng Trung tâm hội nghị và triển lãm ASEAN. Tòa nhà rất đẹp nằm trên một ngọn đồi cao ở phía đông Đại lộ Dân tộc. Đây là nơi thường xuyên tổ chức hội chợ triển lãm quốc tế, được tạo hình một bông hoa dâm bụt, loại hoa tiêu biểu cho Nam Ninh, 12 cánh hoa màu trắng lộng lẫy tỏa sáng dưới ánh nắng, tượng trưng cho 12 dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Tây. Một sự trùng hợp tình cờ chăng vì hiện nay Đông Nam Á có 12 quốc gia, trong đó 10 quốc gia đã gia nhập khối ASEAN. Chỉ tiếc một điều, tại sao chúng ta không xây dựng được một trung tâm như thế ở Lạng Sơn, Quảng Ninh hay Lào Cai, Cao Bằng, khi mà địa đầu phía Bắc của ASEAN là các tỉnh biên giới của Việt Nam? “Cái bóng” của nền văn minh Hoa hạ đến giờ vẫn còn quá lớn chăng, hay là ý thức tự chủ về kinh tế - văn hóa của chúng ta đã bị “cớm nắng”?!

Một lần tôi đến thăm xưởng chế tác đá ngọc ở khá xa trung tâm thành phố – nơi có nhiều sản phẩm độc đáo lấy mẫu từ những di vật tìm thấy trong các di tích khảo cổ học ở Quảng Tây. Bên kia xưởng đá ngọc là khỏang trống rộng mênh mông. Bức tường bao quanh cao vút phía trên có vòng dây thép gai, đưa mắt ra xa hơn thấp thóang mấy tháp canh. Những dãy nhà cao 5,6 tầng còn mới, tường sơn màu xanh, khung cửa màu trắng trông sạch sẽ, bình yên, nhưng nhìn kỹ mới thấy song sắt đan vào nhau khá dày. Đó là nhà tù của thành phố Nam Ninh. Giữa trưa nắng chói chang, một tiếng kèn ôboa vọng ra, bản valse nổi tiếng “dòng Đanuyp xanh” của Johann Strauuss. Tiếng kèn ngập ngừng những nốt đầu tiên nhưng cứ đến nốt cao nhất thì nghẹn lại…
Người tập kèn kiên nhẫn thổi lại đọan nhạc… thời gian với anh ta chắc còn dài lắm…

Nam Ninh - Sài Gòn, 2012

MỈM CƯỜI, VẪY CHÀO LẦN CUỐI...

Trong cuốn sách này ra mắt ngày 17.7.2026 tại HN, gia đình thực hiện nhân một năm ngày bạn đi xa Có những người bước vào đời mình không ồ...