@ Dù bây giờ vẫn còn những người trọng nam coi thường nữ, thích có con trai, thậm chí phải có con trai bằng mọi cách, thì cũng có nhiều người vẫn nghĩ rằng, nếu chỉ có con gái thì vẫn tuyệt vời làm sao! Này nhé, con gái còn nhỏ thì nhõng nhẽo cha mà cha thì luôn cưng chiều con gái, con gái khi lớn thì biết lo cho cha mà cha thì luôn *nghe lời* con gái. Thậm chí mẹ muốn cha làm gì cứ để con gái *đòi* là xong ngay. Nếu có hai con gái chúng cũng yêu thương nhau hơn và chia sẻ với nhau nhiều điều, từ nhỏ đến lúc cha mẹ già cả ốm đau hay khi không còn cha mẹ, kể cả những việc lớn trong gia đình thì các chị em gái bây giờ cũng giải quyết ngon lành. Với các chàng rể *khách* thì (hình như) bố mẹ vợ cũng dễ cư xử hơn là với các nàng dâu.
Ở nhà tôi “tình hình” là như thế
@ *Ngày của Cha* là một ngày Lễ mới du nhập vào VN nhưng trong quan niệm dân gian từ xưa vai trò của người Cha rất lớn. Không kể những quan niệm gia trưởng, ông bà mình vẫn nói * con gái hưởng đức Cha con trai nhờ lộc Mẹ*. Vì vậy, mình cứ nghĩ thế này, một người đàn ông cư xử tệ bạc với một người phụ nữ khác, làm cho người phụ nữ yêu thương mình phải rơi nước mắt, nếu lúc đó họ nghĩ rằng, người phụ nữ này cũng được một người cha yêu thương như họ bây giờ yêu thương con gái, nếu họ “giật mình” rằng, có thể một ngày nào đó đứa con gái thiên thần của mình cũng sẽ bị một người đàn ông nào đó đối xử như vậy, chắc hẳn họ sẽ cư xử khác, phải không?
Chúc những người Cha luôn bao dung, mạnh mẽ, luôn là trụ cột (ko phải là Cụ Chột) trong gia đình, để cho vợ con luôn coi 365 ngày là Ngày của Cha :)
Linh tinh lang tang (84) Mưa chiều
Chiều. Cơn mưa trút xuống ào ào, rồi tạnh thật nhanh, đúng là “sau cơn mưa trời lại không mưa” như thi nhơn Bùi Chát chiêm nghiệm. Ô, lâu rồi mới thấy “mưa Sài Gòn”.
Bây giờ Sài Gòn có những ngày nóng hầm hập như chảo rang, ngột ngạt như ngày hè Hà Nội. Đâu rồi hơi gió sông gió biển lao xao trên phố ngay cả trong những ngày nắng nhất?
Bây giờ mùa mưa Sài Gòn có khi còn vào tháng chạp, có khi tháng tư “tắm Phật” rồi mà vẫn chẳng thấy mưa đâu. Đâu rồi bầu trời nặng nước và hơi gió lành lạnh báo hiệu mùa mưa về khi mùa nắng tháng ba đang còn gay gắt.
Bây giờ Sài Gòn có những cơn mưa dai như… mưa Huế. Đâu rồi những cơn mưa ào đến ào đi, để mặt trời lại vui vẻ ló ra và dịu dàng những tia nắng cuối chiều tạm biệt phố.
Bây giờ Sài Gòn còn có cả mùa đông. Mỗi sáng cuối năm vẫn cần áo lạnh khăn ấm, dù có vẻ như để diện nhiều hơn. Mỗi tối trên phố đôi lứa nép sát vào nhau hơn. Đâu rồi… mà thôi, có cái này cũng hay, vì Sài Gòn trở nên lãng mạn hơn…
Mọi người bảo: do biến đổi khí hậu. Sự bất thường khó chịu của thời tiết hiện diện ngày càng rõ ràng. Mình bảo: Người điên thì thời tiết cũng khùng, dzậy thui
Nhưng mà chiều nay Sài Gòn vẫn còn cơn mưa mát mẻ, dù là mưa ào vài phút thì cũng làm nhẹ cả bầu không khí. Sài Gòn lại là Sài Gòn, bạn còn nhớ không...?
Bỗng nhớ: ở một nơi nào đó, có mưa...?
Ừ, mình biết... "cũng may Cali trời mưa ít, không như Sài Gòn..."
ĐI TÌM TẤM BẢNG CHỈ ĐƯỜNG
NguyỄn Thị Hậu
Đi đến đâu tôi cũng hay để ý đến bảng tên đường, và cùng với nó là những bảng báo giao thông.
Ví dụ, cách đây vài năm tôi đến Huế, đi trong khu vực Thành Nội tôi hỏi cậu lái xe của cơ quan: này, bảng tên đường ở đây có gì là lạ nhỉ? Cậu ta buông ngay một câu đầy vẻ “ngoa ngoắt”: thành phố thì nhỏ xíu đường thì ngắn ngủn nhưng bảng tên đường thì to đùng, có khi to nhất nước! Ừ thật, là vì trên bảng tên đường có thêm biểu tượng “Di sản văn hoá thế giới” khá lớn nằm ở một góc.
Gần đây, một vài đô thị đã có sáng kiến là bảng tên đường còn kèm theo “lý lịch” vắn tắt của nhân vật được đặt tên đường. Chưa kịp vui với sáng kiến hữu ích cho du lịch và cho việc biết/nhớ lịch sử của người dân thì đã phải buồn (cười) vì cái bảng “Tiểu sử đồng chí Ngô Thời Nhiệm (Bính Dần 1746 – Quý Hợi 1803)” không biết ở thành phố nào mà cư dân mạng tung lên Facebook.
Có lần đi qua khu Phú Mỹ Hưng (quận 7, TPHCM), cả bác tài taxi và tôi đều không biết đường cần đến nằm ở đâu. Đô thị mới, tuyến đường chính mỗi bên 5,6 làn xe cùng dải phân cách dài suốt đường. Anh lái xe lúng túng vì không tìm thấy bảng chỉ dẫn trước khi đến giao lộ. Đến sát giao lộ phải chạy chậm tìm bảng tên đường, khi nhìn thấy thì không kịp chuyển làn đường, đành đi quá lên rất xa mới quay lại được. Đường thì rộng thế, đầu đường, giao lộ thường là những toà nhà lớn, bảng tên đường bé xíu nếu sơ ý chút thôi thì không nhìn thấy.
Tinh thần “tiết kiệm” mấy cái bảng báo như thế có ở nhiều nơi trong nước, không hiếm lần chúng ta ngơ ngác băn khoăn thậm chí hốt hoảng vì không biết phải đi đường nào trước những giao lộ bùng binh hay chạy hoài không thấy nơi mình muốn đến. Mà ghé xe vô hỏi thì thế nào cũng gặp tình trạng mỗi người chỉ đường một kiểu! Không muốn nhưng cứ nhớ đến các nước khác, ngay Thailand hay Singapore thôi, trên đường thành phố hay xa lộ thì hệ thống bảng báo cũng rất hoàn chỉnh, theo quy định gần đến giao lộ thì có những bảng báo theo khoảng cách nhất định, treo ngang đường trên cao vừa tầm khoảng cách cho lái xe nhận ra. Trên đó gồm các yếu tố: làn đường nào chạy tốc độ bao nhiêu, đi thẳng đến đâu, rẽ thì đến đâu, cách bao nhiêu thì chuyển làn đường để rẽ phải, rẽ trái, quay đầu xe… Vì vậy xe chạy không cần giảm tốc độ vẫn có thể nhận biết cần đi theo đường nào để đi cho đúng, giảm thiểu tai nạn do người tham gia giao thông bị động khi chuyển làn đường.
Tôi rất thích những cái bảng tên đường ở Boston (Mỹ) vì tôi ở đấy có 4 ngày thăm thú nơi này nơi kia mà toàn đi bộ, thi thoảng mới đi xe bus. Bảng tên đường ở các giao lộ thường được treo cùng với bảng chỉ dẫn giao thông (đường một chiều/ cấm xe hơi/ cấm đậu xe/ đường có trường học…), vừa có chữ, có ký hiệu lại vừa có hình vẽ “tả thực”, nếu không biết chữ Anh thì cũng hiểu nội dung bảng báo. Tôi nói đùa với bạn: nhìn bảng chỉ dẫn thế này, không khéo có ông cán bộ giao thông nào ở nhà mình sang đây “tham quan học tập kinh nghiệm” lại về báo cáo “người Mỹ nói chung là không biết đọc!”.
Nhưng thật, dù là người “không biết đọc” thì vẫn có lúc phải ra ngoài đường chứ nhỉ? Trẻ em nhìn thấy những bảng báo như thế mỗi ngày, sau này khi đủ tuổi, các em học Luật giao thông thi lấy bằng lái xe chắc chắn sẽ dễ dàng hơn. Những tấm bảng chỉ dẫn như thế giúp người ta đi đúng đường đúng luật. Bởi vì nếu không được thông báo, cảnh báo một cách rõ ràng thì có nhiều khả năng vi phạm luật, nguy cơ xảy ra tai nạn cũng sẽ tăng. Lúc đó có truy trách nhiệm về ai thì cũng đã muộn.
Nhưng trên hết, đó là sự quý trọng tính mạng con người và tinh thần thượng tôn pháp luật, từ việc nho nhỏ là những tấm bảng chỉ đường.
Lại nhớ câu “chốt hạ” của bác tài taxi sau khi nghe câu chuyện của tôi “nhà mình á, có khi người ta không muốn có bảng báo rõ ràng, vì như vậy còn làm ăn gì được nữa!”
Thời báo kinh tế Sài Gòn số ngày 12/6/2014
truyện 100 chữ (p.3) 3/2
Ý NGHĨA LỊCH
SỬ
Xưa mẹ
Âu đẻ trăm trứng, người nay chỉ nhắc 50 con theo mẹ lên núi có con giai trưởng
làm vua, anh em làm Lạc hầu Lạc tướng, chả thấy nhắc gì đến 50 con theo cha ra
biển (chắc chỉ làm dân).
1.
Biển không quan trọng như núi (“lên rừng xuống biển”, Sơn tinh Thuỷ tinh)
2. Sử
miệng cũng chỉ nói về dòng dõi của vua, còn dân thì… miễn, huống hồ sử viết!
3. Con
cháu đã đi ra biển rồi thì… biến, nhé. “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, là
thế!
ĐÊM MƯA Ở
TOKYO
Đêm mưa lạnh.
Chuyến tàu dừng lại. Một người đàn ông bước lên, nhìn quanh, bất giác ông bước tới ngồi xuống bên cạnh người phụ nữ đang chăm chú vào chiếc Ipad. Chị không ngẩng lên nhưng nhận thấy ánh mắt ông lướt qua... cảm giác quen thuộc lạ lùng.
Ông nhắm mắt. Gương mặt nhìn nghiêng với đôi môi dịu dàng kia thoang thoảng hương thơm ấm áp.
Đến ga, chị nhẹ nhàng đừng dậy bước xuống. Khi tàu chuyển bánh, ông còn kịp ngoái lại. Họ nhìn nhau và biết đang lạc mất nhau.
Đêm mưa lạnh.
Chuyến tàu dừng lại. Một người đàn ông bước lên, nhìn quanh, bất giác ông bước tới ngồi xuống bên cạnh người phụ nữ đang chăm chú vào chiếc Ipad. Chị không ngẩng lên nhưng nhận thấy ánh mắt ông lướt qua... cảm giác quen thuộc lạ lùng.
Ông nhắm mắt. Gương mặt nhìn nghiêng với đôi môi dịu dàng kia thoang thoảng hương thơm ấm áp.
Đến ga, chị nhẹ nhàng đừng dậy bước xuống. Khi tàu chuyển bánh, ông còn kịp ngoái lại. Họ nhìn nhau và biết đang lạc mất nhau.
Dao (2)
Lưỡi dao luôn nghĩ mình sắc bén mới được việc còn cán dao nhẵn nhụi chả làm được gì, vì vậy nó và cán dao hay chòng choẹ với nhau. Một ngày kia lưỡi bị gãy rời khỏi cán. Người bèn vứt cả cả hai vào thùng rác. Bà ve chai lượm được, lưỡi dao bị bán sắt vụn, cán dao thành củi. Thế là hết chuyện.
Lưỡi dao luôn nghĩ mình sắc bén mới được việc còn cán dao nhẵn nhụi chả làm được gì, vì vậy nó và cán dao hay chòng choẹ với nhau. Một ngày kia lưỡi bị gãy rời khỏi cán. Người bèn vứt cả cả hai vào thùng rác. Bà ve chai lượm được, lưỡi dao bị bán sắt vụn, cán dao thành củi. Thế là hết chuyện.
TRUYỆN 100 CHỮ (P.3)
Tự do
Cô giáo hỏi: Vì sao Nữ thần Tự do lại cầm cây đuốc mà không cầm thứ khác? Các học sinh lần lượt trả lời những lý do khác nhau. Đến một em kia: Thưa cô, vì bà ấy là nữ thần tự do nên muốn cầm gì mà chả được!
Ra vậy, nhiều người cũng hiểu Tự do là muốn làm gì nói gì mà chả được, thảo nào cái “làng mình” nó thế!
Cô giáo hỏi: Vì sao Nữ thần Tự do lại cầm cây đuốc mà không cầm thứ khác? Các học sinh lần lượt trả lời những lý do khác nhau. Đến một em kia: Thưa cô, vì bà ấy là nữ thần tự do nên muốn cầm gì mà chả được!
Ra vậy, nhiều người cũng hiểu Tự do là muốn làm gì nói gì mà chả được, thảo nào cái “làng mình” nó thế!
Ai
khổ?
Ông giám đốc kia có anh lái xe tâm phúc. Mọi việc công tư của ông anh ta đều biết và thường được sai/nhờ nhiều chuyện phục vụ cho những việc khuất tất của sếp. Khốn nỗi anh chàng lái xe đúng là loại “nhiệt tình + ngu dốt” nên đã làm hỏng nhiều việc thì chớ lại còn cho thiên hạ thấy bao điều xấu xa của sếp.
Làm lính cứ than khổ khi sếp dốt, mấy ai biết nỗi khổ của sếp khi có lính ngu!
Ông giám đốc kia có anh lái xe tâm phúc. Mọi việc công tư của ông anh ta đều biết và thường được sai/nhờ nhiều chuyện phục vụ cho những việc khuất tất của sếp. Khốn nỗi anh chàng lái xe đúng là loại “nhiệt tình + ngu dốt” nên đã làm hỏng nhiều việc thì chớ lại còn cho thiên hạ thấy bao điều xấu xa của sếp.
Làm lính cứ than khổ khi sếp dốt, mấy ai biết nỗi khổ của sếp khi có lính ngu!
THỊ
"Thị ơi thị rơi bị bà, bà để bà ngửi chứ
bà không ăn" - Thị rất cảnh giác nên bám chặt vào cành nhưng con giai của
bà lão đã vác dao ra chặt. Kết quả: không chỉ 1 thị mà còn vài thị khác rụng
rơi.
Từ đó “Thị” được dùng để chỉ đàn bà và làm tên lót cho con gái, vì họ cảnh giác đến mấy thì cuối cùng cũng rơi vào tay một ai đó.
Từ đó “Thị” được dùng để chỉ đàn bà và làm tên lót cho con gái, vì họ cảnh giác đến mấy thì cuối cùng cũng rơi vào tay một ai đó.
CÙNG CON ĐỌC SÁCH MỖI NGÀY
Nguyễn Thị Hậu
Thiên hạ giờ cứ kêu ca: bọn trẻ không biết đọc sách, bọn trẻ chỉ biết mạng miếc chả biết sách vở là gì, bọn trẻ toàn đọc truyện tranh sách ngôn tình linh tinh… tóm lại là “hiện nay văn hoá đọc xuống cấp”.
Thế nhưng có bao giờ người lớn tự hỏi, chúng ta đã dạy con trẻ đọc sách như thế nào?
Xưa nay thường là ru con ngủ bằng ca dao, truyện thơ, bằng kể truyện cổ tích… những gì ta được nghe hồi nhỏ đến lượt mình sẽ lại “mẹ kể con nghe” (đến bài học lịch sử mà còn “anh kể em nghe chuyện Mỵ Châu…” nữa là). Thói quen của chúng ta là người lớn nói – trẻ em nghe, người lớn dạy – trẻ em (phải) nghe. Người lớn, nếu có đọc sách, thì dạy lại trẻ em những gì mình biết từ sách vở, và trẻ em, tiếp nhận qua sự truyền đạt của người lớn, bằng cảm quan và bằng cả thái độ của người lớn. Thói quen này vô hình trung làm cho trẻ thụ động tiếp nhận, rồi lười suy nghĩ, rồi… chỉ biết nói theo, nói lại những gì đã được/bị nghe. “Truyền miệng” có lẽ là đặc điểm mang tính truyền thống nhất và quan trọng của “truyền thông” nước ta, từ phạm vi trong gia đình đến ngoài xã hội (“di chứng” là cái loa phường còn hiện diện ở những đô thị mà internet đã trở thành “một phần tất yếu của cuộc sống”).
Thay vì “kể” ta hãy đọc sách cho con nghe, mỗi ngày. Khi nghe đọc chuyện, trẻ sớm biết được rằng từ ngữ trong sách vở tương ứng với ngôn ngữ nói, đồng thời cũng làm quen với cách diễn đạt của sách vở. Ngôn ngữ của trẻ sẽ phong phú và chính xác hơn. Một cuốn cẩm nang về cách đọc nhận xét: “Mỗi lần trẻ nghe đọc, một thông điệp thú vị được truyền đến não chúng. Thậm chí có thể gọi đó là một cách quảng cáo giúp trẻ liên tưởng đến những điều thích thú khi nhìn thấy sách báo”. Nhiều bậc cha mẹ đã nhận thấy, khi con trẻ ham thích theo dõi câu chuyên cha mẹ đọc cho nghe thì chúng càng muốn “tự đọc” nhanh hơn, và nhiều trẻ còn muốn tự mình viết ra những câu chuyện. Việc học chữ của trẻ vì vậy trở nên nhẹ nhàng và đầy hứng thú. Đồng thời, khi đọc sách cùng trẻ, sự trao đổi, đối thoại với trẻ còn giúp chúng ta khám phá ra nhiều điều thú vị, đó là sự cảm nhận thế giới tự nhiên một cách trong sáng và bất ngờ của trẻ, sự hồn nhiên và lòng tốt một cách bản năng của trẻ đối với những vấn đề xã hội giúp người lớn nhìn lại mình và sống tốt hơn. Đọc sách cùng con không chỉ để giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh mà còn giúp trẻ khám phá ra chính mình: sở thích, khả năng, xu hướng… Qua đó cha mẹ hiểu hơn tính cách của con, giúp việc ứng xử với con trẻ phù hợp hơn
.
Ngoài việc tăng cường tình cảm trong gia đình thì việc “đọc sách cùng con” còn mang lại một điều quan trọng: thiết lập và củng cố mối liên hệ gần gũi, gắn bó một cách “bình đẳng” giữa người lớn và trẻ nhỏ, bởi vì ta có thể “áp đặt” cho trẻ những gì ta biết từ kinh nghiệm từ sự từng trải, nhưng trong thế giới biến đổi từng giờ với vô vàn kiến thức mới thì ta và trẻ phải cùng khám phá, tự học, hay là học lại, và đôi khi, chính chúng ta cũng học được nhiều điều từ trẻ. Việc “tự đọc” là trẻ chủ động khám phá, tiếp nhận, tìm hiểu, nhận xét, phê phán… từ đó sớm hình thành tính tự chủ trong suy nghĩ và hành xử. Có vô vàn lợi ích mà sách vở mang lại cho trẻ con nói riêng và con người nói chung, tuỳ từng giai đoạn đời người mà sự lựa chọn hay cần thiết những thể loại sách khác nhau. Đọc sách cũng cần tạo được sự hứng thú và thói quen từ nhỏ, khi lớn lên trẻ sẽ dễ dàng đọc được sách tri thức, kỹ thuật, sách chuyên ngành – những loại sách “khó đọc” nhưng rất cần thiết cho sự trưởng thành về trí tuệ và hữu ích cho quá trình làm việc.
Nhiều gia đình trẻ ở đô thị ngày nay đã có thói quen “đọc sách cùng con” vào buổi tối, trước khi cho trẻ ngủ. Phòng ngủ của trẻ cũng có giá sách nho nhỏ bên cạnh các loại đồ chơi, trẻ cũng được dạy biết giữ gìn sách vở cũng như đồ chơi, quần áo. Trẻ còn biết tự mình tiết kiệm tiền để mua sách. Tuy nhiên, làm cách nào để duy trì thói quen này thì không chỉ cần sự cố gắng của các bậc cha mẹ mà còn cần sự hỗ trợ từ những người “làm sách”. Ngoài việc xuất bản nhiều sách hay và quảng bá rộng rãi của các nhà xuất bản, nếu mỗi nhà sách có được một nhân viên chuyên phụ trách “góc sách cho trẻ” để có thể giới thiệu, hướng dẫn chọn lọc sách phù hợp cho từng lứa tuổi khi phụ huynh đi mua sách… thì chắc chắn, việc đọc sách cho trẻ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.
Văn hoá đọc phải được hình thành từ thời thơ ấu, nhưng là do người lớn tạo ra và khuyến khích con trẻ. Văn hoá đọc – nói cho cùng là việc học LÀM NGƯỜI. Nếu văn hoá đọc “xuống cấp” thì trước hết, người lớn phải tự trách mình.
NGƯỜI ĐÔ THỊ số ra ngày 5/6/2014.
ĐA DẠNG ĐỂ CÓ SỨC ĐỀ KHÁNG
TS. Nguyễn thị Hậu
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hoá đã nhận định rằng, trong số các quốc gia ở Đông Nam Á, Việt Nam có thể coi là quốc gia chịu ảnh hưởng văn hoá Hán mạnh nhất. Tất nhiên sự hấp thụ văn hóa Trung Quốc của Việt Nam không giản đơn là kết quả của thời kỳ 1000 năm “Bắc thuộc” hay là hệ quả tất yếu của giao lưu tự nhiên do gần gũi về địa lý “núi liền núi sông liền sông”. Thực tế quá trình “tiếp biến văn hoá” diễn ra phức tạp hơn nhiều.
Trên đại thể, quá trình giao lưu giữa Văn hoá Việt Nam và văn hoá Trung quốc diễn ra trong một thời gian rất dài và chịu sự chi phối của tình thế chính trị nên luôn ở hai trạng thái: bị đồng hoá và chống đồng hoá, giao lưu tự nguyện và giao lưu cưỡng bức. Mức độ và cường độ của các trạng thái này khác nhau ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử. Có thể thấy rằng những thành tựu của văn hoá Việt Nam có được từ sự giao lưu với văn hoá Trung quốc chính là quá trình tiếp nhận và sáng tạo, chọn lọc những gì phù hợp, đồng thời sắp xếp lại những giá trị văn hoá theo quan niệm văn hoá bản địa. Vì vậy có thể hiểu như là quá trình “Việt hóa” các yếu tố văn hóa Trung Quốc.
Nghiên cứu văn hoá Đông Nam Á nhiều học giả đã nhận xét: Đồng Nam Á = Hoa + Ân, với hàm nghĩa phía Bắc ĐNA chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa còn phía Nam chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ. Điều này cũng đúng với Việt Nam. Ảnh hưởng của văn hoá Trung quốc không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ: phía Bắc “nặng” hơn, sâu hơn phía Nam, do 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, từ sau thế kỷ X sự mô phỏng mô hình nhà nước Trung Hoa được các triều đại nhà nước quân chủ Đại Việt đầy mạnh, thể chế các triều đại phong kiến Đại Việt xây dựng theo “hình mẫu” của Trung quốc - một quốc gia có nền văn minh vào loại sớm và lớn thế giới. Trong khi đó khu vực phía Nam từ thế kỷ XV trở về trước, với nhà nước Chăm Pa (khu vực miền Trung), nhà nước Phù Nam (một phần ở Nam bộ) chịu ảnh hưởng của văn hoá và thể chế nhà nước Ấn Độ lâu dài và sâu sắc hơn, giống như nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á. Sự ảnh hưởng này nhạt dần rồi mất đi khi nhà nước “vương quyền kết hợp với thần quyền” kiểu Ấn Độ không còn tồn tại, văn hoá khu vực này trở về với các yếu tố văn hoá truyền thống của ĐNA.
Do hoàn cảnh lịch sử mà sự ảnh hưởng của văn hoá Trung quốc đối với 54 tộc người của quốc gia Việt Nam cũng khác nhau, trong đó người Việt (Kinh) thể hiện sự tiếp biến với văn hoá Trung quốc tuy chỉ là “lớp phủ bên ngoài” nhưng khá dày, như nhiều nhà nghiên cứu đã minh chứng. Việc giao lưu với văn hoá Trung quốc của người Việt (Kinh) diễn ra trong một thời kỳ dài khoảng 2000 năm vừa hoà bình vừa chiến tranh, khởi nghĩa chống lại sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc. Từ thế kỷ XV, cuộc “Nam tiến” của Chúa Nguyễn rồi Triều Nguyễn trong đó người Việt (Kinh) là chủ thể, văn hoá của các tộc người phía Nam vốn chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ dần dần được phủ một lớp văn hoá Việt (Kinh), một cách tự nhiên do sự cộng cư của/ với người Việt. Sau “500 năm như thế” ảnh hưởng của văn hoá Trung quốc ở vùng đất phía Nam vẫn mỏng hơn so với phía Bắc, văn hoá các tộc người phía Nam luôn là sự hoà trộn những yếu tố văn hoá dân gian bản địa và sự cởi mở “không từ chối” tiếp nhận những yếu tố văn hoá khác, mặc dù có thể nhận thấy văn hoá (người) Việt vẫn là chủ đạo.
Ngoài ra, lưu dân người Việt và người Hoa di cư xuống phía Nam thời các Chúa Nguyễn đã mang theo nhiều yếu tố văn hoá truyền thống. Phần lớn là nông dân, thương nhân, thợ thủ công, số ít là tầng lớp quan lại người Hoa “bài Thanh phục Minh”, vì vậy những yếu tố văn hoá dân gian Việt, Hoa được duy trì trong làm ăn, trong đời sống dân thường nên dễ dàng giao hoà với văn hoá Chăm, Khmer và các tộc người khác, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Nam bộ. Văn hoá Đại Việt ở phía Nam (của các Chúa Nguyễn) là sự hoà hợp của các nền văn hoá Việt - Chăm – Hoa nên phần nào thoát khỏi tư tưởng coi mô thức văn hoá Trung Hoa là “chuẩn mực”.
Theo chiều dài lịch sử và chiều rộng của lãnh thổ, có thể hình dung nền văn hoá Việt Nam như một “cơ thể sống” mà văn hoá của những tộc người những vùng miền qua nhiều giai đoạn lịch sử trở thành hệ thống mạch máu nuôi sống nền văn hoá một cách mạnh khoẻ để có thể chống lại và vô hiệu hoá những “virus văn hoá lạ”, không phù hợp . Quá trình tiếp nhận (những) yếu tố văn hoá “ngoại sinh” cũng giống như việc tiêm chủng “vacxin” làm tăng sức đề kháng của văn hoá dân tộc. Để duy trì sức mạnh của văn hoá dân tộc cần thiết phải “giữ gìn và phát huy bản sắc” đồng thời phát huy được tính đa dạng vốn có của các cộng đồng người, các vùng miền, sự phong phú của từng cá nhân. Đó là chủ thể sáng tạo ra văn hoá dù cộng đồng hay cá nhân là tộc người đa số hay thiểu số, nhờ vậy cho đến nay nền tảng xã hội Việt Nam vẫn là các giá trị, truyền thống, tập quán văn hóa bản địa, những yếu tố quan trọng định hình nên bản sắc dân tộc Việt Nam.
Không thể phủ nhận những giá trị tích cực mà văn hoá Trung quốc đem đến cho văn hoá Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, một nền văn hoá mà hàng trăm năm chỉ có một “hình mẫu”, một “chuẩn mực” trong thế giới chuyển biến và rộng mở từng ngày thì không tránh khỏi sự trì trệ, lạc hậu, chưa kể là “hình mẫu” đó ngày nay cũng bộc lộ quá nhiều nhược điểm – như cuốn sách Người Trung quốc xấu lậu nổi tiếng của nhà văn Bách Dương đã vạch ra. Mặt khác, thừa nhận tính đa dạng của văn hoá truyền thống cũng cần công nhận sự đa dạng của văn hoá đương đại để tránh được sự “độc quyền văn hoá” trong một quốc gia đa tộc người, đồng thời cũng hạn chế sự “độc quyền” tiếp nhận một loại “vacxin văn hoá” nào đó. Khi biết tiếp nhận thêm nhiều hình mẫu chuẩn mực mới thì văn hoá luôn được sáng tạo và phát triển, hành trang mang tới tương lai là những di sản văn hoá thực sự quý giá chứ không chỉ là những mảnh vụn bộn bề của quá khứ.
Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 29/5/2014
http://www.thesaigontimes.vn/115534/Da-dang-de-co-suc-de-khang.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Kiến tạo siêu đô thị giàu bản sắc và ký ức
Dự thảo Luật Phát triển đô thị thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ về phân quyền, tự chủ và tạo động lực phát triển; đồng thời bước đầu đề cập...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...
