Đồng nghiệp (2)



Sáng hôm qua họp BCH Hội Sử TP xong, mấy anh em đồng nghiệp cũ tại Bảo tàng lịch sử kéo nhau đi nhậu vì lâu lắm rồi mới có dịp tụ tập.

Tình cờ gần như cả Phòng Sưu tầm của BTLS (giai đoạn 1994 – 1998) có mặt: anh Trưởng phòng – bây giờ là PGS giảng dạy tại Đại học XHNV, 4 thành viên của phòng thì 1 cô là Giám đốc BT, 2 anh là phó giám đốc của 2 bảo tàng khác, với mình nữa. Tất cả là Tiến sĩ và đều làm luận văn từ những công trình khai quật, các sưu tập cổ vật tại BTLS. Thấm thoát đã 15 năm từ ngày Phòng Sưu tầm của BTLS “tan tác” mỗi người một nơi.

Ngày ấy phòng Sưu tầm BTLS có 6 anh em rất thân nhau, không chỉ vì hợp tính mà còn vì đều là những người say mê công việc, không nề hà chuyện khó nhọc nào dù là nam hay nữ. Phòng có 2 nữ và 4 nam, tuổi sàn sàn nhau, anh trưởng phòng lớn hơn vài tuổi, là người Nam bộ, vui tính nhưng cũng rất nghiêm khắc “khó tính” trong công việc. Chính anh là người đầu tiên đi học TS và sau đó hối thúc, tạo điều kiện “bắt” anh em trong phòng đi học. Nhờ đó mà phòng sưu tầm là phòng duy nhất của BT toàn bộ là TS. Chính vì vậy mà đến năm 1997 – 1998 cấp trên đã điều động 3 người về các bảo tàng khác làm chánh, phó giám đốc, người ở lại cũng nhận trách nhiệm cao hơn (như mình, từ cán bộ nghiên cứu “nhảy” ngay lên Trưởng phòng, rồi chỉ 3 tháng sau “lên” Phó giám đốc). Phòng Sưu tầm “chia ly” nhưng cũng từ đó mấy anh em càng gắn bó với nhau hơn vì mỗi người đều gặp những khó khăn, thử thách – không phải chỉ từ công việc mà chủ yếu từ những mối quan hệ trong công việc đã mang đến nhiều mệt mỏi. Những lúc như thế mấy anh em lại gặp nhau, ngồi nhậu “xả” ra hết những gì ấm ức, bực bội, rồi tào lao đủ chuyện… sau cuộc nhậu lại thấy nhẹ nhõm. Có thể nói anh em phòng Sưu tầm đều thành đạt về nghề nghiệp, ko phải là chức vụ mà ai cũng giỏi chuyên môn, làm việc gì cũng tốt.

Cuộc nhậu hôm nay nhắc lại nhiều chuyện “hồi đó”: hồi đó mấy anh treo hình các cô mặc bikini trong phòng, 2 đứa con gái phản đối thì ngày hôm sau trên tường ngay sau lưng 2 cô là tấm hình một nàng thiếu vải “mát mẻ” to vật vã. Hai đứa em “tắt đài” luôn hết dám nói gì.

Hồi đó đi khảo sát toàn đi bằng xe máy, mỗi anh chở 1 em. Ngồi sau xe máy chạy vù vù chỉ dám nắm chặt cái yên xe. Biết các anh sợ “bà xã” nên 2 cô em trêu: em ko ôm eo mà chỉ nắm vào thắt lưng thôi, đứt ráng chịu nha. Nhờ doạ thế nên các ông anh mới chạy xe từ tốn.

Hồi đó mỗi lần đi khai quật là gần như cả phòng cùng đi. Đúng là 3 cùng ăn ở và… ngủ, vì thường mượn 1 nhà dân ở chung cả đoàn khai quật, sinh hoạt như anh em một nhà. Nhờ vậy… giữa mấy anh em không còn gì là “lãng mạn” nên miễn nhiễm chuyện linh tinh, chơi với nhau được hơn 20 năm đến bây giờ (dù cũng có lúc bà xã các anh cũng hơi lạnh lùng với tụi em, nhỉ?)


Hồi đó phòng Sưu tầm hay đi chơi chung, chụp hình bao giờ cũng khoác vai ôm tay. Bị đem ra cơ quan phê bình “toàn người có vợ có chồng sao lại thân mật quá vậy?!”



Hồi đó đọc báo miêu tả chuyện mại dâm, 2 đàn bà trong phòng ko hiểu, thì thầm hỏi thằng em út, nó "tà" mãi 2 đứa vẫn ngơ ngác. Nó lại mắng: 2 bà ngu quá thể. :)

Hồi đó… bao nhiêu chuyện vui buồn hôm nay nhắc lại, cả chuyện vài lần 2 đứa tụi em khóc khóc mếu mếu vì bị mắng oan. Cậu em út trong phòng dỗ không được, mắng “hai bà có nín ko, đã xấu lại còn hay khóc” – thế là tạnh hẳn :)



Mà mình nghiệm ra, trong một tập thể làm việc dù lớn dù nhỏ, người đứng đầu cực kỳ quan trọng. Tính cách “thủ trưởng” thế nào thì không khí làm việc và quan hệ đối xử của thành viên với nhau như thế. Thủ trưởng là người nhân hậu, công bằng thì cơ quan vui vẻ ít đấu đá, sống tình cảm với nhau. Thủ trưởng không mưu mô trù dập cấp dưới không sợ hãi cấp trên thì nhân viên thẳng thắn và trung thực. Và ngược lại. Phòng sưu tầm của mình và BTLS trước năm 1998 may mắn có được người Trưởng phòng và ông Giám đốc như thế!

Bây giờ anh em đều gần đến tuổi nghỉ hưu rồi… gặp nhau vẫn thương quý nhau như ngày nào. Mà em nghĩ có khi đến lúc tụi mình bạc đầu răng rụng gặp nhau vẫn thân thiết vậy thôi, có cần gì hơn nữa, phải không?

20.7.2013



TẢN MẠN VỀ CHỢ

Nói năng chợ búa

Người ta hay nhận xét: ăn nói kiểu chợ búa, ăn nói như hàng tôm hàng cá… Và xã hội cũng mặc định rằng, chợ, và người buôn bán ở chợ chỉ có kiểu ăn nói đanh đá, ghê gớm, “vô văn hóa” như thế!
Có thật ngôn ngữ ở chợ từ xưa đến nay chỉ có như thế không?

Năm 1975 về Sài Gòn. Lần đầu đi chợ tôi được nghe mời chào bằng giọng nói ngọt ngào: Mua bán trả giá lời lẽ nhẹ nhàng, nếu có đôi co một chút cũng chỉ như phân trần giải thích… Dù bán được hay không cũng đều có lời cám ơn, dù không mua được hàng, thậm chí mua đắt hơn một chút nhưng người mua vẫn vui lòng vì cảm giác mình tự nguyện mua, không bị ai ép buộc. Cái sự “thuận mua vừa bán” này phổ biến từ gian hàng đồ dùng cao cấp đến hàng rau cá thịt. Thi thoảng có cuộc to tiếng thì thường là giữa những người bán hàng với nhau, một lời can ngăn từ bất cứ ai cũng có thể ngăn chặn cuộc cãi vã.

Đang quen với việc mua bán ở mậu dịch và phải luôn “ngọt nhạt” với các cô mậu dịch viên nên ấn tượng nhất của tôi về “ngôn ngữ chợ búa” ở đây chính là cách xưng hô thân mật: người bán xưng “dì” (nếu lớn tuổi), xưng “con” nếu nhỏ tuổi, gọi người mua là con, là dì, là cậu… Đây chính là cách xưng hô trong gia đình của người Việt ở Nam bộ, anh chị em ruột thịt về phía mẹ có chỉ có 2 danh xưng là Dì (chị và em gái) và Cậu (anh và em trai) của mẹ. Việc đem hệ thống xưng hô từ gia đình ra ngoài xã hội là một đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam, phần nào “quy định” cách ứng xử ngoài xã hội. Có lẽ vì người bán mua chủ yếu là phụ nữ nên việc “hướng về” bên ngoại như một điều tất nhiên, cách xưng hô cũng “quy định” cách ứng xử nơi “chợ búa” tựa như đều là những người có bà con về bên ngoại: gần gũi, thân mật, không khách sáo và có phần xa cách như với bên nội?

Cách xưng hô ở chợ như vậy cho ta nhận ra dấu ấn “văn hóa mẫu hệ” khá rõ của người Việt Nam bộ, có lẽ đã được gìn giữ từ thời lưu dân Ngũ Quảng vào khai phá vùng đất phương Nam. Có thể suy luận thêm chút nữa, phải chăng cho đến thế kỷ 16, 17 người Việt vẫn thiên về “mẫu hệ” - truyền thống cơ bản của văn hóa Đông Nam Á?

Cách xưng hô, ứng xử theo kiểu “mẫu hệ” như thế này đã mai một. Bây giờ chỉ ở chợ thôn quê, vài chợ nhỏ chợ hẻm, nơi kẻ mua người bán không mấy xa lạ với nhau… ta còn nghe được người bán người mua gọi nhau thân mật gần gũi như thế. Ở những chợ lớn, chợ nơi thị thành xưng hô nói năng đã khác.

Mà bây giờ, ăn nói “kiểu chợ búa”, “hàng tôm hàng cá”… đâu cần phải ra đến chợ mới có!




Chợ xưa chợ nay

Chợ xưa là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa của một khu vực nhất định, thường là chợ “làng”. Nông thôn miền Bắc xưa kia, chợ làng họp nơi bến sông hay đầu làng – ranh giới giữa “nơi ở” khép kín trong lũy tre làng với cánh đồng liền khỏanh của các làng liền kề nhau. Chợ họp trên bãi đất tương đối rộng, bằng phẳng, có cây đa hay cây gạo lớn tỏa bóng mát. Hàng ngày họp chợ từ sáng sớm đến khi mặt trời cao hơn con sào là tan chợ. Chỉ có vài hàng quán như hàng nước chè, hàng xén, hàng lò rèn… còn lại là buôn gánh bán bưng. Hàng hóa chủ yếu là “cây nhà lá vườn”, người bán người mua đều quen biết. Thuận mua vừa bán ít khi nói thách mặc cả, có khi còn mua chịu bán thiếu… Có làng chợ họp tháng dăm ba phiên. Vào ngày phiên chợ tấp nập, hàng hóa phong phú hơn, người các làng khác cũng đến mua bán trao đổi…

Ở Nam bộ, sông rạch nhiều nên đi lại bằng ghe xuồng là chính. Chợ thường họp nơi bến sông, ngã ba ngã tư kênh rạch gặp nhau hay có đường bộ cắt ngang. Ngày hai lần nước lớn nước ròng, nơi giáp nước ghe xuồng cắm sào neo đậu chờ con nước để đi tiếp nên thành chợ trên sông hay trên bến dưới thuyền. Dần dần trên bờ hình thành các thị tứ với tiệm cà phê, chạp pô, tiệm vàng, tiệm gạo, rau trái… Chợ cũng họp hàng ngày rồi theo phiên. Có khi ngày phiên theo con nước cho tiện ghe xuồng lui tới.

Quan sát chợ xưa có thể nhận biết nhiều điều về “đất nước, con người” vùng quê ấy: dân cư, ngôn ngữ, sản phẩm, các mối quan hệ xã hội qua xưng hô… Đi chợ là nhu cầu không chỉ/ không phải để mua bán mà còn để gặp gỡ, giao lưu, thể hiện các mối quan hệ tình cảm, quan hệ xã hội… Nghe lời nói thách trả giá mặc cả… không chỉ để biết giá cả chất lượng hàng hóa mà còn có thể biết được tính tình, thái độ của người bán kẻ mua.
Tên gọi của chợ - một lọai địa danh – là một yếu tố văn hóa, thường gắn liền với các đặc sản của làng/ vùng miền ấy. Bây giờ những tên chợ đậm chất dân dã đang mất dần...

Chợ nay. Muốn nói đến các siêu thị đang mọc ra nhan nhản khắp nơi, từ đô thị đến vùng nông thôn. Hình thức giống nhau, nội thất trang trí bày hàng giống nhau. Tên gọi của siêu thị, trung tâm thương mại ít khi mang dấu ấn địa danh. Trong đó mua bán sòng phẳng, lịch sự, người mua hàng có thể chọn lựa thỏai mái, tự mình quyết định khi mua món hàng nào đó theo giá ấn định sẵn. Quan hệ “tình cảm” trong việc mua bán nhạt đi, mất đi… vì người bán “vô hình” mà chỉ có người tính tiền (ở nước ngòai đã có siêu thị người mua tự tính tiền, tự quẹt thẻ trả tiền). Siêu thị - chợ hiện đại phản ánh mối quan hệ của xã hội đô thị: coi trọng tính cá nhân, đặt giá trị vật chất của hàng hóa lên trên quan hệ tình cảm trong mua bán. Tính chất văn hóa vùng miền (sản phẩm, ngôn ngữ, xưng hô…) không thể hiện trong siêu thị, trung tâm thương mại. Tên gọi các Chợ hiện đại - phần nhiều là tên nước ngòai - nghe... nhạt hóet, không mang chút ký ức văn hóa nào cả.

Chợ - ký ức của những con người được di truyền qua nhiều thế hệ phụ nữ. Đi chợ với mẹ, mong mẹ đi chợ về... tuổi thơ của ai mà không có những ký ức đẹp như thế...

(Trong tập tản văn "Buổi trưa trong quán cà phê", 2012)

HỌ CHÚ HỎA, TÊN QUÁCH ĐÀM (lưu bài của bạn hiền PHẠM HOÀNG QUÂN)

14/07/2013 17:10 (GMT + 7)
TTCT - Nửa đầu thế kỷ trước, ở Sài Gòn - Chợ Lớn làm ăn, Huỳnh Văn Hoa và Quách Diệm được thương giới nghiêng mình nể phục, liệt vào hạng thượng thừa “Bạch thủ thành gia” (tay trắng nên nhà).

Nhà Chú Hỏa - Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM hiện nay - do ông Huỳnh Văn Hoa xây xong năm 1934 - Ảnh: Minh Đức
Khách sạn Majestic, Bảo tàng Mỹ thuật hay chợ Bình Tây mà nay còn thấy chỉ là một phần nhỏ trong thành tựu kinh doanh của họ. Thật trớ trêu là họ và tên hai đại gia này trước giờ bị gọi sai bét!
Chú Hỏa, họ và tên
Người Sài Gòn nhiều thế hệ vẫn hay nhắc đến nhân vật “Chú Hỏa” - một trong tứ đại hào phú lừng lẫy của Sài Gòn xưa mà dân gian đúc kết “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa” (*) với những giai thoại ly kỳ cả về tài sản và đời riêng.
Hiện nay, tại tòa nhà tiêu biểu của “Chú Hỏa” - nơi đang là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (số 97 Phó Đức Chính), ở tấm biển inox ghi lược sử tòa nhà đặt trang trọng ngay lối đi bên trái cửa chính viết: “Hui Bon Hoa tên thật là Hứa Bổn Hòa”. Cách xác định Hui Bon Hoa là Hứa Bổn Hòa cũng thấy trên Wikipedia và rất nhiều bài viết.
Thế nhưng hồi năm 1960, ông già bác cổ Vương Hồng Sển đã tỏ ra cẩn thận khi viết trong Sài Gòn năm xưa: “Hui Bon Hoa, tục danh “Chú Hỏa”, mặc dầu về sau danh vọng lớn, địa vị cao, cũng không ai gọi “Ông Hỏa” bao giờ. Sớm nhập Pháp tịch nên ký âm theo Pháp ngữ làm vậy rồi gọi như vậy cho đến đời đời, không rõ theo Hán tự hà danh hà tánh?” (bản in 1997, tr.284).
Xưa hơn nữa là hồi năm 1924, Đào Trinh Nhất viết: “Trong bọn Hoa kiều bây giờ, duy chỉ có Hoàng Trọng Tán là giàu nhất, tư bản có đến 3.000 vạn, trong Nam kỳ đã suy tôn lên làm ông vua tiền bạc, hay là ông vua nhà cửa, vì Hoàng có nhiều nhà cửa đất cát lắm”. Hoàng (Huỳnh) Trọng Tán là con thứ ba của Chú Hỏa, là người kế nghiệp lãnh đạo Công ty Hui Bon Hoa. Hồi ấy, Đào Trinh Nhất đã gọi đúng họ (Hoàng/Huỳnh) của gia tộc này nhưng do không gắn kết mối liên hệ cha con giữa Chú Hỏa với Huỳnh Trọng Tán nên người sau không lưu ý.
Phần viết về Hoa kiều Việt Nam trong Hoa kiều chí cho biết Hui Bon Hoa tên chữ Hán là Huỳnh Văn Hoa (). Họ Huỳnh cũng có thể đọc/viết là Hoàng, nhưng theo thói quen của người Hoa ở miền Nam, khi tự phiên âm họ này sang chữ Việt thì người ta đều viết là Huỳnh.
Hui Bon Hoa là cách phiên âm từ tên gốc Hán  theo âm Hạ Môn (Trung Quốc) có ảnh hưởng bởi cách phiên âm của người Anh vào cuối thế kỷ 19. Còn Hứa Bổn Hòa là cách đoán mò của người Việt khi nhìn thấy chữ Hui Bon Hoa mà không thấy mặt chữ Hán, thêm câu chuyện mê tín “Con ma nhà họ Hứa” không biết nguồn cơn ra sao lại xuất phát từ nhà cũ của Chú Hỏa rồi lan truyền khắp Sài thành khiến nhiều người tin chắc ông này họ Hứa.
Lược sử một số cơ sở phúc lợi của cộng đồng người Hoa ghi nhận hai anh em Trọng Huấn và Trọng Tán là sáng lập viên của nhiều nơi, tiêu biểu như Phước Thiện y viện (nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi), Thành Chí học hiệu (nay là Trường THCS Minh Đức, đường Nguyễn Thái Học, Q.1), hiến đất xây Bệnh viện Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện phụ sản Từ Dũ), chùa Phụng Sơn (đường Nguyễn Công Trứ, Q.1).
Đầu thế kỷ 20, người con thứ hai của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Huấn trở về Hạ Môn (Trung Quốc) mở Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường (). Khu nhà trụ sở công ty này ngày nay là một trong 10 di tích kiến trúc danh tiếng ở đảo Cổ Lãng, năm 2002 được liệt hạng di tích lịch sử kiến trúc trọng điểm của thành phố Hạ Môn, vừa là trường biểu diễn nghệ thuật, vừa là địa chỉ du lịch, phong cách xây dựng gần giống Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.
Hồi tháng 5-2009, một đoàn công tác điền dã từ quê hương “Chú Hỏa” gồm các nghiên cứu viên thuộc Học hội lịch sử Hoa kiều và Bảo tàng lịch sử Hoa kiều Tuyền Châu đã đến Sài Gòn, thăm Bảo tàng Mỹ thuật và nhiều di tích kiến trúc khác cùng khu mộ gia tộc Huỳnh Văn Hoa ở Bình Dương. Mục đích của đoàn công tác này là nhằm thu thập tư liệu để bổ sung cho các hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật có liên quan gia tộc Huỳnh Văn Hoa ở Hạ Môn, Tuyền Châu, một mặt nhằm phục vụ các nghiên cứu về lịch sử Hoa kiều.
Tên thật của Quách Đàm
Cũng tương tự những lầm lẫn trong tên gọi “Chú Hỏa”, ông Quách Đàm - người mà nay bức tượng vẫn được đặt ở chợ Bình Tây (Q.6) - lại không phải tên là Đàm. Tên thật ông này là Diệm  (cũng đọc Diễm).
Về sự lầm lẫn này có thể từ một trong hai nguyên nhân: một là nhìn lầm mặt chữ, có thể là do người Việt đầu tiên đã sơ ý nhìn chữ Diệm ra chữ Đàm rồi phiên âm sai, vì chữ Diệm dễ lầm với mấy chữ Đàm như sau: (đàm, viết lối hành thư),  (đàm), (đàm), (đàm); hai là nghe lầm âm, việc này có thể do người Pháp ký âm và viết tên Quách Diệm là Quach Dam (Quach-dam) bởi nghe người Triều Châu phát âm Diệm là “iam”, gần như âm Đàm.
Trên những văn bản chữ Hán do các học giả Hoa kiều ở Chợ Lớn như Lý Văn Hùng, Thi Đạt Chí... viết trong khoảng 1950-1960 đều viết Quách Diệm, trong Hoa kiều chí - Việt Nam (Đài Bắc, 1958) và Quảng Đông tỉnh chí - Hoa kiều chí (1996) đều viết tên là Diệm, tiểu sử nhân vật này trong các sách kể trên đều không nói Quách Diệm còn có tên khác là Đàm.
Kẹt một nỗi là tên Quách Đàm đã trở nên rất phổ biến, từ cửa miệng cho đến tất cả các bài viết bằng tiếng Việt gần 70 năm qua, đến như Tsai Maw Kuey trong luận văn bằng Pháp ngữ Les Chinois au Sud-Vietnam (1968) cũng viết tên người này theo chữ Việt là “Quách - Đàm” (tr.37, tr.283). Gần đây, trong một nghiên cứu về Đồng Minh Hội, Thomas Engelbert cũng viết tên hai nhân vật Quách Đàm và Hứa Bổn Hòa bằng chữ Việt, điểm sai này có lẽ do tác giả chủ quan khi tham khảo tài liệu tiếng Việt.
Vấn đề điều chỉnh tên riêng Quách Đàm cho đúng là Quách Diệm coi ra phức tạp hơn tên Huỳnh Văn Hoa rất nhiều, bởi trước giờ nhân vật này chỉ được người Việt biết đến chỉ độc nhất một cái tên, bao nhiêu bài viết, bài nghiên cứu đã ghi nhận, bây giờ sửa lại thành ra lạ lẫm.
Cách xử lý vấn đề này của ban biên tập công trình Southeast Asian Personalities of Chinese Descent - A Biographical Dictionary khá linh hoạt và đáng để chúng ta tham khảo, khi tác giả Việt Nam gửi phần viết về Quách Đàm, người biên tập vẫn giữ vậy và ghi tiêu đề là Quách Đàm, nhưng phần tên chữ Hán lại viết  (Guo Yan/Quách Diệm), và chú thêm “also known as Quách Đàm” (còn được biết với tên Quách Đàm), đây là cách chấp nhận sai lầm một khi sự sai lầm đã trở thành thói quen và ảnh hưởng rộng đến xã hội.
Viết sai tên người bình thường đã là chuyện rất vô duyên, Quách Diệm và Huỳnh Văn Hoa lại thuộc hàng có tên có tiếng mà sự nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử kinh tế và văn hóa vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
Mặt khác, họ là những nhân vật thường xuyên được nhắc đến bởi các học giả nước ngoài nghiên cứu lĩnh vực Hoa kiều Đông Nam Á, việc ghi sai tên họ đối tượng dẫn đến tình trạng “từ khóa” (keyword) trong nghiên cứu bất thông, đương nhiên sẽ cản trở học giới trong nước tiếp cận và khai thác những vấn đề hoặc thành tựu nghiên cứu mới.
Các quan hệ giao lưu văn hóa trên bình diện quốc tế ngày càng mở rộng, việc ghi sai họ tên của một nhân vật lịch sử gần đây phần nào sẽ ảnh hưởng đến bộ mặt văn hóa - du lịch của một thành phố lớn.
PHẠM HOÀNG QUÂN
Chú Hỏa tên Tây là Jean Baptiste Hui Bon Hoa, tên thật là Huỳnh Văn Hoa (1848-1901), còn có tên Tú Vinh, hiệu Tình Nham, nguyên tịch Hạ Môn, Phước Kiến. Tuổi thanh niên sang Sài Gòn làm công cho hiệu buôn, sau hùn hạp một số thương vụ, lần hồi tích góp được số tiền vốn mở riêng tiệm cầm đồ bình dân, sau nhờ quan hệ với những người Pháp có thế lực mới mở thêm việc mua bán nhà đất.
Trở thành đại phú gia, thành lập Công ty Hui Bon Hoa, tài sản của công ty ở Sài Gòn - Chợ Lớn ước khoảng 30.000 căn nhà phố, 13 tiệm cầm đồ. Huỳnh Văn Hoa có 4 con trai, 11 con gái. Sau Thế chiến thứ nhất, Công ty Hui Bon Hoa lần lượt mở chi nhánh tại Hạ Môn, Thượng Hải, Hong Kong, Đài Loan.
Sau Thế chiến thứ hai mở chi nhánh tại các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Canada, kinh doanh địa ốc, tiền tệ, mậu dịch quốc tế. Năm 1956 chuyển văn phòng chính sang Paris, năm 1974 gia tộc hầu hết di cư sang Pháp và các quốc gia khác. Tại Sài Gòn thời Pháp thuộc, tên Hui Bon Hoa được đặt tên cho một con đường (nay là đường Lý Thái Tổ).
Tượng ông Quách Diệm ở chợ Bình Tây hiện nay - Ảnh: Minh Đức
Quách Diệm (thường được gọi là Quách Đàm, 1863-1927), tự Thiệu Trí, hiệu Nhược Ngu, nguyên tịch Long Khê, huyện Triều An, Quảng Đông. Năm 14 tuổi sang Chợ Lớn mua bán phế liệu, da trâu, sau mở xưởng thuộc da, lập Công ty Thông Hiệp, kinh doanh xuất nhập khẩu hóa vật, thổ sản, xưởng rượu, xưởng dệt.
Trong thị trường lúa gạo có mạng lưới thu mua khắp Nam kỳ, là cổ đông chính nhà máy xay lúa Di Xương, sau lại mở thêm ba nhà máy Thông Mậu, Thông Thạnh, Thông Nguyên (ở Mỹ Tho).
Lập nhà máy đường Tây Ninh, mở hãng Thông Nguyên thu mua bông vải ở Campuchia. Lập hãng tàu biển Nguyên Lợi hoạt động vận tải các tuyến Sài Gòn - Singapore, Hong Kong, Quảng Châu, Sán Đầu (cũng là những nơi có phân hãng của Thông Hiệp và Di Xương). Năm 1902, Quách Diệm góp 1/5 tổng số tiền trùng tu Hội quán Nghĩa An, năm 1924 xây chợ Bình Tây.
____________
(*): Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt; tổng đốc Phương - Đỗ Hữu Phương; bá hộ Xường - Lý Tường Quan và chú Hỏa - Hui Bon Hoa.

Sách

 Cuốn sách và tác giả và dịch giả mình yêu thích :)



Một phần nước Nga trong tôi... (dù tôi chưa bao giờ đến nước Nga)

VIẾT CHO SINH NHẬT CON GÁI CHÂU QUYÊN





Mẹ sinh con sau một cơn đau kéo dài đến 2 ngày. Lúc mới lọt lòng con là một cô bé tròn trịa có cặp mắt rất to và đôi môi đỏ như son. Cô bác sĩ vừa đỡ con ra đời đã nói “con bé xinh quá, hiếm có đứa trẻ nào mới sinh mà nết nào ra nét ấy như thế”. Nằm trên bàn sanh mẹ như quên hết nỗi đau đớn vừa trải qua, tràn ngập cảm giác dịu dàng của lần đầu làm mẹ khi mẹ nhìn thấy con.
Thấm thoắt con đi nhà trẻ, rồi mẫu giáo. Con vào lóp 1 tung tăng váy xanh áo trắng… lên cấp 3 với tà áo dài tinh khôi. Con vô đại học, rồi đi làm… Chưa bao giờ con làm mẹ phải buồn lòng vì bất cứ chuyện gì. Con hơn 2 tuổi thì mẹ sinh em gái. Sàn sàn tuổi nhau nhưng con luôn là Chị Hai dịu dàng, nhường nhịn em, chăm sóc em chu đáo. Nghề của mẹ hay phải đi công tác, con đã sớm biết phụ mẹ nấu cơm đi chợ. Món nào mẹ cũng chỉ hướng dẫn 1,2 lần là con biết làm. Bây giờ có những món con nấu còn ngon hơn cả mẹ nữa. Cuối tuần là những ngày con trổ tài nấu nướng còn mẹ thì khoe… trên blog.
Rồi sẽ ngày “con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy”, mẹ vừa mong nó đến để  yên tâm  thấy con trưởng thành có người đi cùng con với tất cả tình yêu trên con đường dài phía trước … lại cũng mong nó đừng vội đến, bởi vì nếu nhà mình mà vắng con thì sẽ buồn lắm… Nhưng dù con ở đâu làm gì thì mẹ con mình sẽ mãi là những người bạn có thể chia sẻ với nhau tất cả như nhiều năm qua, phải không?
Cuộc sống không phải lúc nào cũng là những điều tốt đẹp, luôn có  cả niềm vui và cả những nỗi buồn. Nhưng đừng để hận thù, ghen ghét, đố kỵ có chỗ trong trái tim, và dù thế nào mẹ cũng luôn tin rằng con gái của mẹ không bao giờ làm tổn thương người khác, vì như vậy chính tâm hồn mình trở thành khuyết tật. Hãy luôn giữ được tình yêu thương và sự quan tâm đến người thân, với mọi người, và hãy luôn mỉm cười, con nhé. Mẹ cầu mong  cuộc sống của con được bình yên, Niềm vui và Hạnh phúc sẽ luôn ở bên con.
Điều may mắn nhất của mẹ là đã có con và em, và thành công nhất của mẹ là hai cô con gái ngoan hiền. Và cũng như tất cả những người mẹ khác, với sự thiên lệch thường tình, bao giờ con gái của mẹ cũng là cô gái xinh đẹp nhất!
Chúc mừng sinh nhật con gái yêu của mẹ!
(Note cũ mà không cũ J

Ngôi nhà có hàng rào sơn trắng




Dọc những con đường trải dài tôi qua ở nước Mỹ, bất cứ nơi đâu cũng có thể bắt gặp ngay bên đường, hoặc thấp thoáng trong cánh rừng thưa, hay trong một thị trấn nho nhỏ nào đấy… những ngôi nhà có hàng hiên rộng, vài chậu hoa xinh xắn trên bệ cửa sổ rèm buông lay nhẹ, bãi cỏ xanh nho nhỏ và bên ngoài là hàng rào thấp sơn màu trắng.


Không hiểu sao khi nhìn thấy những ngôi nhà như thế, trái tim chợt lỡ nhịp, một tình cảm dịu dàng tràn ngập như khi gặp lại mối tình không trọn vẹn. Những ngôi nhà có hàng rào sơn trắng, với tôi, luôn mang lại cảm giác bình yên mà bất cứ gia đình nào cũng muốn có. Hàng rào thấp sơn trắng như một ranh giới mong manh, ở trong là những gì thân thuộc ấm áp, bên ngoài là xa lạ lạnh lùng… Hàng rào có cổng, cũng thấp thôi, mỗi ngày được mở ra cho người nhà ra vào, đón tiễn những người khách. Một ngày nào đó, cổng rào luôn đóng im ỉm “nội bất xuất ngoại bất nhập”, một ngày nào đó người trong nhà lại ra vào bằng cách vượt qua rào, đạp đổ rào, khách đến nhà cũng bằng cách ấy… Có lẽ ngày ấy sự bình yên của ngôi nhà đã bắt đầu ra đi…


Có lần, trong giấc mơ tôi thấy mình đứng ngập ngừng bên cạnh cổng rào, không dám đẩy cổng dù nó chỉ được gài chốt sơ sài, cũng không dám bấm chuông, sợ rằng chính tiếng chuông sẽ làm mình chợt tỉnh… Hình như phía sau tấm rèm lay nhẹ kia có ánh mắt ai đó tò mò nhìn người khách lạ đứng tần ngần bên rào nhà mình. Rồi nhận ra người khách kia chỉ là kẻ qua đường tình cờ dừng chân chốc lát, ánh mắt kia yên tâm rời khỏi cổng rào quay về với những gì thân quen với nó. Và tôi, không thể dừng chân lâu hơn, đành bước đi, để lại cảm giác hạnh phúc mình – đã – mơ - ước - từ - lâu ở lại phía sau, bên kia hàng rào thấp sơn màu trắng. 


Kiếp sau, hay nếu may mắn được lên Thiên đàng, nhất định tôi sẽ xây một ngôi nhà nhỏ có hàng rào sơn màu trắng bình yên…

 Sài Gòn 13.7.2013


Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

  Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM T ham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong...