LẢM NHẢM ĂN THEO CHUYỆN CỤ RÙA (note cũ)

Mỗi lần ra Hà Nội, sáng sớm, men theo hồ Gươm đi dạo, vừa nhìn những người phụ nữ trông nhàu nhĩ trong những bộ đồ mặc ở nhà đang ra sức vặn vẹo, uốn éo, lắc lư theo nhịp điệu sôi nổi của các bản nhạc, vừa ngó nghiêng xuống mặt hồ phẳng lặng nhỡ may được chiêm ngưỡng cụ Rùa hiện lên… tập thể dục một hai ba hít thở hít thở… lại nhớ đến tạp bút “Bờ hồ 5 giờ sáng” của Bọ Lập viết từ xửa xưa sao mà giống y như bây giờ! Có lần tui đưa con gái từ Sài Gòn ra chơi. Nàng vô cùng ngỡ ngàng nhìn những nhóm thể dục nhịp điệu quanh Hồ Gươm. Trong tưởng tượng của nàng, Hà Nội và Hồ Gươm đẹp lãng mạn như những ký ức của mẹ. Vì vậy con gái nói một cách hết sức nghiêm túc: Mẹ, sau này mẹ già thì đừng ra đây mà tập thể dục nhé, xấu cả Hồ Gươm!
Lâu lâu rồi tui có đọc (nhiều) bài báo của GS Hà Đình Đức, người Thanh Hóa, ông đã chứng minh một cách rất thuyết phục rằng Rùa Hồ Gươm có nguồn gốc từ lòai (giải) rùa cổ ở Thanh Hóa. Uh, thì rùa ở trong 1 cái hồ giữa lòng Hà Nội nghìn năm chắc chắn cũng phải có gốc gác từ đâu chứ, như người Hà Nội nào cũng có một nhà quê, ngay cả những gia đình đã 3, 4 đời là “người Hà Nội”. Nhưng sự chứng minh của GS “rùa học” là về sinh học, còn sự “chứng minh” của tui về nguồn gốc Thanh Hóa của cụ Rùa Hồ Gươm lại là từ lịch sử cơ. Đây nhé:

- Truyền thuyết kể rằng Lê Thái Tổ thủa hàn vi ở quê nhà, một lần chạy trốn sự truy lung của giặc đã được “trời” cho gươm báu để hộ thân và cứu nước. Nhưng ông chỉ được cho mượn gươm, còn vỏ gươm thì Lê Thận, một người đánh cá trên sông đánh lưới được. Chắc là cũng do Trời thả xuống cho. Ông Giời cẩn thận ra phết: cho 1 người mượn gươm lại cho một người khác mượn vỏ, thế là ai cũng có “vật chứng” và “nhân chứng” cho cái sự mượn vật quý của Giời, chả thể nào mà lờ lơ lơ đi nhé.

Đất nước thanh bình, Lê Thái Tổ về Thăng Long mở đầu triều đại/ thời đại mới. Một ngày đẹp giời nhà vua dạo chơi trên hồ Lục Thủy (lúc í chưa gọi là hồ Hòan Kiếm), Rùa thần nổi lên… tiếp sau thế nào cả nhà đã biết. Thế, ông rùa này không ở Thanh Hóa thì làm sao biết được việc Giời cho vua Lê mượn gươm báu mà đòi nào??? Mà kể cũng khiếp, từ Thanh Hóa ổng đi bằng cách nào ra Thăng Long để mà đòi lại vật qúy nhỉ? Có khi ngay từ khi cho mượn gươm báu Giời đã sai rùa thần đi (bơi) ra Thăng Long ngay để canh me “đòi nợ” chăng? Mà rõ ràng Giời cho mượn “Gươm” sao về sau lại là “Hòan Kiếm”? Gươm và Kiếm khác nhau chứ nhỉ? Hay gươm thần vẫn còn được lưu truyền đâu đó phòng khi quốc gia “cơ nhỡ”? Trong truyền thuyết cụ Rùa đã ban lẫy nỏ cho An Dương Vương và gươm báu cho Lê Thái Tổ. Sao cụ rùa chỉ ban vũ khí cho vua thôi nhỉ...?

Nghĩ đến đây thì hết mấy vòng Hồ Gươm. Lạy Đức Thái Tổ, lạy Cụ Rùa con không dám phạm thượng, dưng mà con nghĩ nếu còn Gươm thần thì có ai là người được Giời ban cho quyền “tiền trảm hậu tấu” để trừ gian trong dẹp họa ngòai? Ôi, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”…

Ngàn năm Thăng Long, thời Lê kéo dài nhất trong lịch sử và gắn bó lâu dài nhất với Thăng Long nhưng “quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê”… Đức Lê Thái Tổ đứng bên kia Hồ Gươm chắc cũng độ lượng với đám con cháu chỉ xúm xít bên này với Đức Lý Thái Tổ…

SỐ PHẬN...?

Trong lòng bàn tay có ba con đường.
(Chả biết tên gọi các con đường í là gì, mấy lần nghe rồi lại quên rồi, thôi thì tạm gọi theo số 1, 2, 3 vậy, nghe cho có vẻ khu đô thị mới, còn hơn gọi bằng những cái tên… chả ai biết đấy là ai…!).
Con đường thứ nhất (số 1) bắt đầu từ phía dưới ngón tay út, chạy đến giữa ngón trỏ và ngón giữa. Ở đoạn cuối này nó có mấy đường nhánh nhỏ, mờ mờ rồi mất hút, như những con hẻm cụt…
Con đường thứ hai (số 2) nằm giữa bàn tay, như chia lòng bàn tay làm 2 phần gần bằng nhau. Khá thẳng, đoạn đầu đường phía ngón út hơi mờ, giống như con đường mới mở nhưng còn một đoạn chưa tráng nhựa xong…
Con đường thứ ba (số 3) chạy từ giữa cổ tay đến dưới ngón trỏ. Đoạn đầu cũng có hai nhánh, như hai đường nhỏ nhập vào để thành đường lớn…

Đấy là ba đường chính trong lòng bàn tay. Lòng bàn tay như một khu đất rộng rãi, bằng phẳng với ba con đường thẳng từ đầu đến cuối, rõ ràng, hầu như không có “đường ngang ngõ tắt”… Ba con đường này đã được “quy hoạch” đàng hoàng ngay từ khi đứa bé ra đời, tất nhiên ngày ấy bàn tay đứa bé còn nhỏ xíu nhưng ba con đường đã rất rõ nét. Không giống như nhiều bàn tay khác, ba con đường này không có điểm nào gặp nhau cả, mỗi con đường là một tuyến riêng từ đầu đến cuối. Ông thầy tướng số do ông nội mời đến, sau khi lập lá số tử vi, ông cầm bàn tay nhỏ xíu có những ngón tay ngọ ngoạy liên hồi, xem một hồi rồi nói “con bé này bướng bỉnh lắm, rồi sẽ vất vả đây…”.

Lớn lên một chút, lòng bàn tay xuất hiện thêm một con đường nữa. Nó là con đường từ dưới ngón giữa chạy dọc xuống, cắt ngang đường số 1 và đường số 2, đoạn cuối gần song song với đường số 3. Mấy lần bạn bè rủ rê đi xem bói, cô gái hay được mấy bà thầy bói trầm trồ “cô có đường May mắn dài quá, số cô hên lắm, luôn có quý nhân phò trợ!”.
Thời gian trôi qua, lòng bàn tay có thêm vài con đường nhỏ li ti nhưng không làm “phá vỡ cảnh quan” đã “quy hoạch” từ trước. Ba con đường lớn vẫn gọn gàng không bị “lấn chiếm” lòng lề đường gì cả. Một con đường nhỏ nữa được mở nối từ đầu đường số 3 cắt qua đoạn đầu đường số 1 và 2. Vậy là giữa lòng bàn tay xuất hiện một tam giác lớn. Không biết nó có ý nghĩa gì, tò mò, người phụ nữ bèn đi coi bói… Bà thầy (còn trẻ măng – gọi là cô thầy mới đúng) xem tay kết hợp với tướng… mặt, phán rằng, “chị thân lập thân, một mình một đường, cực khổ vất vả… nhưng hậu vận tốt. Từ năm nay sẽ có nhà cửa đất đai đàng hoàng, con cái xuất ngoại, sau này về già nhàn hạ…”.

Thế à… Ừ thì cứ tin như thế đi, như đã… không nghi ngờ những lời tiên đoán trước đây… Thật ra là cũng đã quên mất những lời của các ông thầy bà thầy bói. Cứ đúng tính cách mình mà sống, đã sống như thế, đang sống như thế, và nếu còn sống đến lúc nào thì vẫn sẽ như thế…
Tính cách tạo nên số phận. Số phận mình nằm trong lòng bàn tay mình đấy thôi…

Note cũ xì, post lại vì bạn hỏi mình có hay đi xem bói và tin thầy bói hay không :))

làng hoa tháng giêng





Qua tết cơn rét muộn lại tràn về. Hà Nội mờ trong mưa phùn nhè nhẹ. Xuân đấy…

Phố lơ đãng vài chiếc lá bàng đỏ trên cành khẳng khiu… Vỉa hè mát bóng xà cừ xanh mướt lá. Quán cũ tách cà phê nóng, ngồi ở vỉa hè nghe và ngắm dòng người qua lại. Chợt thấy chiếc xe máy chở cành đào thật đẹp vụt qua. Ô ra giêng rồi mà sao đào còn đẹp thế, mà vẫn còn người chơi đào kìa… Bạn bảo: mấy hôm nay trời ấm lên, đào bây giờ mới nở, đẹp lắm…

Tháng giêng, làng Tứ Liên bỗng bừng lên sắc thắm của đào nở muộn. Ngay đầu làng có cái chợ nhỏ bán tòan đào cành bó thành từng bó vài cành nụ non lộc nảy. Người đi xe máy ghé qua, người đi xe hơi dừng lại… rồi từng bó từng cành lại theo người vào phố. Đường làng đã bê tông hóa nhưng vẫn bụi mù. Xe công nông chạy như điên, chở những chậu quất, đào từ phố về vườn trồng lại chờ tết sang năm. Xe chở phù sa ven sông đổ thêm cho đất vườn. Xe chở xà bần san lấp ao hồ xây nhà cao tầng… Làng hoa như bị đè bẹp bởi những ngôi nhà “bán đất” vây quanh, kiểu phân lô bán nền nửa quê nửa tỉnh. Đi mãi vào trong làng vẫn còn nhiều vườn đào nở rộ, đủ sắc hồng phai đào thắm… Những mảnh vườn ngày một hẹp đi, đầu vườn nào cũng là một gian nhà nhỏ xíu xấu xí, xây gạch trần vữa thô, cửa gỗ xộc xệch mà cái khóa rõ to, chắc để dụng cụ làm vườn hay ngủ canh trộm vào mùa hoa tết! Nhiều cây đào đã cưa sát gốc, nhiều cây hoa nở bung dày đặc trên cành, vài cây đào thế trông già cỗi thế mà vẫn cành thưa hoa thắm… Người phụ nữ cắp cái thúng nhỏ trong có bó lạt trắng ra vườn, tay tuốt từng bông hoa đã nở để cành chỉ còn nụ và lá non mới nhú. Dùng kéo bấm từng cành, lấy lạt buộc khẽ lại, chị xót xa: đào đẹp thế mà giờ có bán cũng chả được mấy đồng … Nhìn cánh hoa rơi rơi đỏ gốc lại nhớ nước mắt Lâm Đại Ngọc chôn hoa. Tự ngạc nhiên: cuộc sống xung quanh xô bồ vội vã thế mà mình vẫn còn thời gian để “sến”?!

Violet tím, hoa bướm hồng tía, hoa cúc vàng rực bên những cây đào thắm…Những người phụ nữ vẫn cần mẫn bên luống hoa, tưới cây xới đất làm giàn. Họ làm như hàng trăm năm nay vẫn cần cù như thế, như thể không nhìn thấy khắp làng những đống đất đá xà bần ngày một lớn hơn, cao hơn, dài hơn, đang lấp dần những khoanh vườn xinh xắn…Mai này làng hoa chắc chỉ có những ngôi nhà nửa quê nửa phố, phô trương và kệch cỡm…

Xe công nông phành phạch chạy lồng lên trên đường làng, dừng lại rú ầm ĩ xả khói đen xì đổ ào từng xe xà bần lên những luống hoa, đổ ngay lên những gốc đào cố nở chùm hoa muộn màng. Những đống xà bần kia đang vùi nốt chút lãng mạn còn lại của Hà Nội, lấp nốt mảnh ký ức nhỏ nhoi của làng hoa nổi tiếng một thời… Trái tim nghẹn lại, tự mắng, ai bảo cứ “sến” vớ vẩn… Thôi, lần sau sẽ chẳng ra Hà Nội vào mùa đào nữa…

ĐIỂM SÁCH

Tìm được bài viết từ lâu lâu rồi, cũng quên mất là có viết như thế này :))

Đọc tiểu thuyết "Chuyện tình mùa tạp kỹ" của Lê Anh Hòai : Những màn tạp kỹ chương hồi

Đập ngay vào mắt người xem là trang bìa cuốn tiểu thuyết với những khuôn mặt có đôi mắt nửa thất thần nửa đầy tinh quái như mời gọi: Xem đi, cứ thử xem cho biết, những CHUYỆN TÌNH trong màn TẠP KỸ của cuộc sống đấy!

Ừ, thì xem thử …

1. LẠ, khi lướt qua từ trang đầu đến trang cuối, thấy những tiêu đề HỒI THỨ NHẤT đến HỒI THỨ BỐN CHÍN, với hai câu thơ mở ra và đóng lại nội dung của từng HỒI… Chẳng có câu kết quen thuộc kiểu như “muốn biết… thế nào xin xem hồi sau sẽ rõ” nhưng bất giác người đọc cứ muốn tiếp tục cùng các nhân vật trong truyện “nhảy cóc” từ chuyện tình này sang chuyện tình khác, từ thơ mộng lãng mạn đến trần trụi trâng tráo, từ chuyện thật (của nhân vật trong tiểu thuyết) đến chuyện “nhảm nhí” mà một vài nhân vật kể lại (hay bịa ra?), từ chuyện tình đang diễn tiến đến chuyện tình trong ký ức/ hồi ức/ tưởng tượng… Trong cái vỏ tuần tự của kiểu chương hồi “cổ điển”, bên trong lại là vô số đọan cách cách nhau bởi dấu ***, các đoạn này thay đổi sắc thái bằng lối kể chuyện hay trần thuật hay miêu tả hay bình luận… Những con người và những mảnh đời, mảnh tình “hiện đại” vô cùng lộn xộn hiện ra chẳng có thứ tự lớp lang gì cả, chẳng theo một bình tuyến thời gian bình diện không gian nào cả…Một mảng của bức tranh đời sống đô thị hiện lên rõ ràng, sắc nét và vô cùng sinh động. Người đọc bỗng quên đi kết cấu chương hồi “chặt chẽ” giả tạo mà tác giả đã cố tình dựng nên, để rồi khi hết mỗi chương lại tò mò đọc tiếp…xem sao.

Kể ra nếu tác giả đừng cho số thứ tự các chương một cách nghiêm ngắn như thế, mà cũng xếp đặt lung tung beng lộn tùng phèo (chẳng hạn, bắt đầu có thể là chương 5, tiếp theo là 31 rồi 43…chương 1 không cần là chương mở đầu và chương kết không phải là chương 49) như những gì anh bày ra và cùng độc giả chiêm nghiệm, thì có lẽ hình thức của cuốn tiểu thuyết này có vẻ nhất quán (?!) hơn chăng, và có lẽ, cũng khó đọc mà thú vị hơn chăng?.

2. HÀI, chính xác hơn là sự hài hước. Tràn ngập trong tiểu thuyết là những câu chuyện tiếu lâm hiện đại, những giai thọai (mà chắc có bạn đọc sẽ bảo là “nhảm nhí”), những bài báo, phiếm luận, tiểu phẩm kiểu “chị Thanh Tâm kính mến” hay “Bạn gái cần biết” hay “Đàn ông sợ gì nhất” qua kiểu ngôn từ tung tẩy, nghĩa đen nghĩa bóng, nghiêm túc dung tục lẫn vào nhau như một mớ bòng bong rối mù chuyển tải các sự kiện, thông tin, tâm trạng, suy nghĩ (mà không cần nhiều đối thọai) của đám người thị dân – công sở. Tác giả cho các nhân vật nhìn, nghe và ngẫm về bản thân, về mọi người về mọi việc từ một góc “lệch pha” làm cho người đọc phải (buồn) cười (ngay cả) ở thời điểm “trang nghiêm” nhất (lễ đón nhận Huy chương “vì sự nghiệp”, đám ma ông bố của nữ nhà thơ…), ở con người “nghiêm túc” nhất (ông giáo sư khả kính – là người truyền giảng Phật pháp lại bị một nhân vật nhận xét là chuyên viết “dâm thư”), ở tâm trạng đáng được đồng cảm nhất (khi nhân vật Trình gặp lại “mối tình đầu” hay lúc anh ta đi khám bệnh lậu) chẳng hạn…Tất cả là thứ ta thường gặp đây đó giống như gia vị nêm vào cho “nồi lẩu” cuộc sống đỡ phần tẻ nhạt. Nhưng khi tập hợp trong một “bàn tiệc” thì có khi làm cho con người “bội thực” vì chính món “đặc sản” mình kỳ công nấu nướng và chiêu đãi chính mình! Ở đây, cái hài không còn chỉ là “hài hước” mà đằng sau nó đã lấp ló cái bi, thậm chí trên “gương mặt cười” của nó người đọc đã thấy cái bi hiện hữu…

Sự hài hước xuyên suốt trong tiểu thuyết này tự nhiên như đời sống, và có thể nói là đặc trưng cho lớp thị dân - nửa - nông dân mà dường như cuộc sống của họ dịch chuyển tịnh tiến từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước đến những năm đầu của thế kỷ này. Thật không dễ nhìn cuộc sống vốn nhiều bức xúc, tù túng, thậm chí có lúc như mất phương hướng, quan sát con người vô định khi tốt lúc xấu khi cao thượng lúc tầm thường khi sâu sắc lúc hời hợt nhạt nhẽo, chẳng có ai chẳng có gì là hòan hảo… bằng đôi mắt hài hước mà không châm biếm chua cay, mà không đẩy mọi sự vào tình trạng lố bịch đến thảm hại, mà vẫn nhìn thấy dưới /qua tất cả những cái đó cuộc sống hỷ nộ ái ố diễn ra một cách hợp - lý – như/vì - nó - đang - tồn - tại. Phải chăng đấy là sự hòan hảo, bởi chỉ có sự thông minh và sâu sắc của cuộc sống mới biết hài hước và đùa giễu chính mình như thế.

3. NGỘ ra, trong cuộc sống, chuyện tình…chưa hẳn là chuyện của TÌNH YÊU, cũng vậy, người tình chưa phải/không hẳn đã là người yêu!

Không chủ định nhưng dường như trong tiểu thuyết này, hai nhân vật Trình và Dung được tác giả khá “ưu ái”. Hiện lên với vẻ ngơ ngác trong tâm trạng và đời sống như Trình hay trong suy tư đầy lý tưởng như Dung… dù hoàn cảnh lối sống tính cách tâm trạng có khác nhau, họ vẫn giống nhau/là nhau ở chỗ, trong các mối quan hệ yêu đương của họ cái “tình” nhiều hơn, nhiều đến độ nó như một thói quen “mặc định” mà chưa hẳn là một nhu cầu nội tâm! Mà YÊU lại là/ phải là sự thôi thúc mãnh liệt từ một nhu cầu nội tâm đặc biệt. Điều này còn thấp thóang trong suy nghĩ của Trình, của Dung khi nhìn nhận về những người khác những mối quan hệ khác luôn có phần dịu dàng thể tất, vì đó như là một điều tự nhiên, ai mà chả thế, đâu có gì là nghiêm trọng, đâu có gì là mãi mãi… Dường như trong cuộc kiếm sống bon chen gấp gáp họ đã không kịp/ không chịu thích nghi, để rồi sau mỗi lần cố bám víu vào những tình cảm mong manh như thế họ lại càng bị trôi tuột đi, chịu nhiều va đập hơn trong cái vòng luẩn quẩn nhưng đầy gai góc của cuộc sống…

Và tác giả, khi cố gắng sắp đặt cuộc sống hiện tại với những mảnh đời xô bồ những mối quan hệ lỏng lẻo vào một kết cấu “chương hồi” cổ điển chặt chẽ , tạo được một hình thức chuyển tải nội dung khá lạ và gây ấn tượng mạnh với người đọc, thì anh cũng làm cho người đọc, sau khi chứng kiến tất cả những cái đó, bất giác hoang mang. Có thể nào/ có khi nào trong cuộc sống những màn tạp kỹ mà ta là nhân vật chính sẽ xuất hiện theo thứ tự “chương hồi”, hay là không thể, và không bao giờ…?

Sài Gòn, 16/9/2007

Những mảnh vỡ (không dành cho người đang yêu :D)


Cà phê không đường

Tôi hay đến quán nhỏ gần một ngã tư, ngồi một mình, lặng lẽ với cảm giác bình yên, ly café không đường để lại một dư vị thật ngọt ngào…

Rồi em đến. Em đã phá vỡ không gian riêng tư của tôi bằng những vần thơ mềm mại đến nao lòng… Tưởng như em và tôi, chúng ta có thể bên nhau đi đến cùng trời cuối đất.

Để khi em ngập ngừng không dám cùng tôi uống ly café không đường của cuộc sống, quán cũ chiều nay café bỗng dưng đắng ngắt.

Không đề

Trời mưa. Cô mơ màng: bây giờ ngồi quán với một cốc cà phê sữa nóng và nghe nhạc thì tuyệt. Anh lắc đầu: trời mát thế này nhậu thịt chó mắm tôm là nhất!

… Thế là tan vỡ một mối tình!

……..

Vợ chồng “khắc khẩu”, bất cứ chuyện gì cũng biến thành cuộc đấu khẩu triền miên.

Rồi họ ly dị. Rồi cả hai đều lấy người khác “hợp khẩu” hơn.

Từ đấy đứa con trở nên khắc khẩu với cả cha và mẹ nó.

MÙA ĐÔNG ẤM ÁP

Dự báo thời tiết: mùa đông năm nay sẽ ấm hơn mọi năm. Anh mừng lắm: cuối năm ra công tác chắc em sẽ không bệnh vì lạnh như mọi lần nữa.

Giữa tháng chạp em ra Hà Nội, mang theo thiệp hồng từ vùng nắng ấm.

Mùa đông năm nay với anh không còn những ngày ấm áp…

Sống mòn

Chiều cuối năm. Quán nhỏ, ly café đen nguội, ly café đá tan hết. Họ chỉ yên lặng. Cuối cùng:

- Anh hãy dịu dàng hơn với cô ấy nhé. Đàn bà chúng em yêu bằng tai mà.

Chị mỉm cười nhưng lòng anh nhói đau.

- Em cũng đừng cả nghĩ nhé. Đàn ông bọn anh ai cũng có lúc vô tâm.

Chị nhìn lá rơi ngoài kia qua đôi vai mệt mỏi của anh.

Chị về, biết mình sẽ đếm thời gian.

Anh đứng đó, nhìn theo ngút mắt.

KHÓA TÌNH YÊU

Cầu cũ chi chít những chiếc khóa nhiều lọai nhiều màu. Chàng và nàng trịnh trọng bấm ổ khóa có khắc tên hai người vào thành cầu, chìa khóa – theo phong tục – được vứt xuống sông. Họ thề thốt: không ai có thể chia lìa hai ta.

Nhưng chỉ vài tháng sau họ chia tay. Lý do: bữa đó vứt nhầm chùm chìa khóa nhà nên cãi nhau mãi vì chuyện ấy. Bèn ra cầu vứt nốt chìa khóa tình yêu xuống sông rồi đường ai nấy đi.

Vết đau

Hồi yêu nhau. Có lần gọt trái cây cho nàng, anh bị đứt tay. Nàng mặt mày tái mét, ôm cả cánh tay anh hốt hoảng đòi đưa đi … bác sĩ!

Lấy nhau rồi. Một lần thấy tấm hình cưới sắp bị rớt, anh mang búa đinh ra sửa. Loay hoay búa đập vào tay. Máu tóe ra. Anh xúyt xoa nhờ nàng lấy giùm bông băng, nàng bực bội: Sao anh vụng thế! Chồng với chả con!

Vết đứt tay ngày xưa giờ bỗng thấm đau, đau thấy 36 ông trời!

Cầu Ô thước

Trước khi anh đi công tác xa họ tổ chức đám cưới đúng vào tháng bảy âm lịch. Cha mẹ hai bên lo lắng vợ chồng họ sẽ như “Ngưu lang Chức nữ”. Họ cười, bây giờ có internet, email, chát chit, điện thọai, webcam… có xa xôi gì đâu khi hàng ngày gặp nhau trên mạng?

Vài năm qua. Anh trở về. Sống chung dưới một mái nhà mà bỗng nghe xa ngái…

Chẳng ai muốn bắc Cầu Ô thước dù đã nhiều tháng bảy mưa ngâu…

VỈA HÈ

Vỉa hè quán café quen vừa được lát gạch. Những viên gạch vuông màu đỏ sẫm được xếp cạnh nhau tạo thành hoa văn sặc sỡ vui mắt. Nhưng chỉ được vài bữa nhiều viên gạch đã bong tróc, khập khiễng, rồi vỡ mẻ. Ông chủ quán bảo: họ làm ẩu lắm, lát gạch mà chỉ có cát và chút xíu xi măng…

… Ngẫm lại, anh và em, và những mối quan hệ của chúng ta cũng giống như những viên gạch trên cái vỉa hè nọ mà thôi…

Một số mảnh trích từ tập truyện NGẮN & RẤT NGẮN

Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

  Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM T ham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong...