Mật khẩu
Bây giờ cái gì cũng cần mật khẩu: thẻ tín dụng, máy tính, điện thoại,
tài khoản ngân hàng, những email, các mạng xã hội... Nhiều thứ thường
xuyên đổi mật khẩu để bảo mật. Dùng nhiều thì mật khẩu thuộc lòng. Ít
dùng sẽ quên mật khẩu, rồi mất tài khoản, khó khăn lắm mới sử dụng lại
được.
Một ngày cô đột ngột ra đi. Anh chợt nhận ra từ lâu mình đã quên “mật khẩu” đăng nhập vào trái tim cô.
Đơn giản chỉ là “anh yêu em”.
(8.2013
Vụn vặt đời thường (3)
@ Taxi Nội Bài: Hôm nọ em chở một bác kia, gớm bác ấy bước lên chùng cả xe của em. Nhưng hai bác đây thì vừa xinh J
@“Loại ấy nói làm gì! Cái đồ cả
nhà không biết đọc sách” – câu miệt thị hay nhất mà tôi được nghe!
@Vừa
lúc nãy nằm với nhau anh còn thề thốt yêu em… - Ôi dào, lúc lên dốc thằng đếch
nào chả phải dô hò!
@ Đàn
ông phải là cụ chột trong gia đình! (á quên, trụ cột…)
@ Đứa trẻ khi sinh ra đã biết nắm chặt
bàn tay... Bởi vậy sống mà biết buông tay là rất khó...
@ Bạn bức xúc: cư xử như
thế thì là chó chứ ko phải là người! Mình bảo: đừng sỉ nhục chó
như thế, thằng ấy nó chỉ xứng là ve chó thôi!
ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ CON CÁ VÀNG (dị bản)
(truyện 100 chữ)
Lại nói, sau khi cá vàng cho 3 điều cầu được ước thấy, ông lão bèn thả cá xuống biển. Về nhà, vợ lão ước có một bữa ăn ngon, bữa ăn lập tức hiện lên. Lão bực mình mắng “đàn bà óc to như trái nho, ước gì như dở hơi”. Thế là bà vợ thành người dở hơi. Lão hối hận “ước gì lại bắt được cá vàng”.
Quả nhiên bắt được cá vàng, nhưng nó không còn 3 điều ước để cho lão nữa vì lần trước đã dùng để đổi lấy mạng sống.
Giới thiệu sách "ĐỒ ĐỒNG TRUNG QUỐC"
Công trình ĐỒ ĐỒNG TRUNG QUỐC của nhà nghiên cứu LÝ TÙNG nằm trong bộ sách giới thiệu những thành tựu của nền văn minh Trung Hoa thời cổ và trung đại. Đây là những công trình dành cho đại chúng, khái quát nhưng đầy đủ và khoa học, nhằm giúp bạn đọc có thêm những kiến thức về văn hóa Trung Hoa trong từng lĩnh vực cụ thể.
Có thể nhận thấy công trình được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, cấu trúc các phần đều nhằm cung cấp những hiểu biết khoa học cơ bản nhưng gần gũi với người đọc, hình ảnh minh họa đẹp và tiêu biểu. Có thể nói, bất cứ ai chưa từng có một khái niệm nào về CỔ VẬT ĐỒNG Trung Quốc thì khi đọc xong cuốn sách này chắc chắn sẽ có được những hiểu biết cơ bản về lịch sử cổ đại Trung Hoa qua các thời kỳ phát triển rực rỡ từ Hạ - Thương kéo dài tới thời Tần – Hán. Tri thức được đúc kết trong công trình này rất hữu ích cho những người nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên lịch sử, khảo cổ, văn hóa... và những người yêu thích và sưu tầm cổ vật…
Công trình ĐỒ ĐỒNG TRUNG QUỐC giới thiệu về các loại hình vật dụng đồ đồng thau với nhiều kiểu dáng, hoa văn, minh văn cùng với tên gọi và chức năng của chúng. Những loại vật dụng này phục vụ sinh hoạt hàng ngày và sử dụng trong nhiều nghi lễ, lễ hội… được chế tác dành cho giai cấp thượng lưu, vì vậy đã phản ánh sinh hoạt, lối sống, sự phân hóa giai cấp khá rõ nét trong xã hội Trung Hoa cổ đại. Hầu hết những tuyệt tác đồ đồng này được chế tác trong thời kỳ đồ đồng thau của Trung Hoa cổ đại phát triển rực rỡ nhất, vì vậy, tuy không giới thiệu sâu về kỹ nghệ đúc đồng thời cổ nhưng người đọc có thể nhận biết được sự hoàn hảo của một nghề thủ công truyền thống nổi tiếng đã sản xuất ra những sản phẩm tinh xảo về kỹ nghệ và tinh tế về trang trí, thực sự xứng đáng là những cổ vật - di sản văn hóa của thế giới. Đặc biệt, công trình còn phân tích những yếu tố truyền thống, cội nguồn của văn minh đồ đồng Trung Hoa là từ những cổ vật bằng gốm nổi tiếng không kém của các nền văn hóa khảo cổ thời đại Đồ Đá trước đó. Nhiều loại hình, kiểu dáng, hoa văn đồ đồng được tiếp thu từ kỹ thuật sản xuất và trang trí đồ gốm. Đây là một quy luật của sự phát triển kỹ thuật và văn hóa – nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu về cổ vật. Trong công trình có nhiều thuật ngữ “tên gọi” các loại hiện vật, đây cũng là một kiến thức cần thiết cho việc nghiên cứu cổ vật đồng Việt Nam.
Điều rất hữu ích của công trình này là đã giới thiệu khái quát về quá trình nghiên cứu, khai quật và bảo tồn những di tích, di vật thuộc thời đại Đồng Thau ở Trung Quốc như thế nào. Từ góc độ ngành bảo tàng, có một chi tiết khá thú vị là hầu hết những cổ vật độc đáo được giới thiệu, minh họa trong công trình này đều được lưu giữ và trưng bày tại các khu di tích, tại bảo tàng các địa phương… Chỉ có một số ít được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia hay tại một nơi khác không phải là nơi đã phát hiện ra chúng. Điều này cho thấy Trung Quốc có một chính sách nhất quán trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Việc lưu giữ các cổ vật tại các di tích, bảo tàng địa phương đã tạo nên sự phong phú, đa dạng và độc đáo riêng cho từng nơi, phục dựng bức tranh nhiều màu sắc của văn hóa Trung Hoa, đồng thời cũng là một “giải pháp” tối ưu cho ngành du lịch khi mà du khách cần phải đi đến nhiều nơi mới có thể chiêm ngưỡng được những di tích, cổ vật nổi tiếng. Qua đó không chỉ giới thiệu, quảng bá sâu rộng về văn hóa mà nhiều dịch vụ du lịch khác đã phát triển đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế xã hội các địa phương, tạo tiền đề quan trọng để bảo tồn di sản văn hóa. Đây là một kinh nghiệm của nhiều quốc gia mà có lẽ Trung Quốc là một trong những nước đã thực hiện thành công.
Tôi đã có dịp đến một số bảo tàng và di tích khảo cổ ở Trung Quốc, nhưng cũng có thể mạo muội nhận xét rằng, những gì giới thiệu trong công trình này tuy rất tiêu biểu, đặc sắc, đa dạng… nhưng chỉ là một phần vô cùng nhỏ trong khối lượng di sản văn hóa đồ đồng đã được phát hiện và nghiên cứu ở Trung Quốc, chưa kể trữ lượng rất lớn còn nằm trong lòng đất mà Trung Quốc có một chiến lược rõ ràng là “Di sản văn hóa không phải là vô tận, chưa khai quật vội, để dành cho con cháu” dù có thể có nơi đã đủ điều kiện khai quật, nghiên cứu và bảo tồn.
Nếu còn điều gì hơi nuốc tiếc khi đọc công trình này thì đó là trong đây thiếu vắng một loại hình cổ vật đồng thau quan trọng: Trống đồng. Tất nhiên, có thể do giới hạn về không gian và thời gian của nội dung công trình nên tác giả chưa thể đề cập hết tất cả các khu vực có nền văn hóa đồng thau nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nói đền ĐỒ ĐỒNG TRUNG QUỐC mà chỉ nói đến khu vực Trung Nguyên/ Hoa Bắc mà thiếu vắng đồ đồng vùng Hoa Nam/ Quảng Tây thì người đọc còn cảm thấy chưa thật sự thỏa mãn.
Người đọc nói chung và những người nghiên cứu nói riêng mong muốn Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục xuất bản những công trình khác hữu ích và hấp dẫn như công trình này.
TS. NGUYỄN THỊ HẬU
Phó Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam,
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. HCM
http://www.nxbhcm.com.vn/
Dịch giả: TS. Trương Gia Quyền
Tác giả: Lý Tùng
Khổ sách: 15.5x23
Số trang: 140
Năm xuất bản: 2013
Giá bìa: 72.000 VNĐ
TÂY NGUYÊN (note cũ)
1. Chưa ra khỏi thành phố Pleiku thì Biển Hồ đã hiện ra long lanh trong nắng sớm. Trên đọan đường ngắn rợp những hàng thông vẫn xanh, nhiều cặp cô dâu chú rể đang tạo dáng chụp hình đám cưới, trông họ thật rạng rỡ. Bạn vừa khéo léo lách xe vòng qua đám chụp hình vừa nói vui “cưới em anh có lời mừng, bao giờ ly dị xin đừng quên anh”, cả xe cười ồ.
Trong cái nắng cao nguyên đã bắt đầu gay gắt gió từ Biển Hồ lồng lộng mang lại hơi se lạnh đầu đông. Mọi người háo hức chụp hình từ góc này góc khác. Cảnh nơi nào cùng đẹp, bạn bè ai cũng rạng rỡ niềm vui. Đứng trên cao nhìn xuống Biển Hồ dường như không còn mênh mông như nhiều năm trước… Biển Hồ như nhỏ hơn, còn tôi như rỗng hơn lơ lửng trong ồn ào vui vẻ…
Đường từ Pleiku lên Kon Tum không còn vẻ hoang vắng. Ven đường đã có nhiều ngôi nhà, khang trang có mà tạm bợ cũng có. Hầu hết xây dựng theo kiểu nhà phố, cũng giống hệt như những con đường khác trên đất nước này. Nếu là người ít đi lại có thể sẽ không biết con đường này đi đến đâu nếu những cột cây số không hiện ra báo rằng còn 30, 20 rồi 10 km nữa là đến Kon Tum. Cố tìm một cái gì đó quen thuộc trên con đường này… và chỉ còn nhận ra “người quen” duy nhất là vài vạt dã quỳ nho nhỏ ven đường. Dạo xưa dã quỳ rực rỡ trải dài ngút ngát dọc đường đi. Có khi cả một triền hoa vàng đột ngột hiện ra hút mắt. Chỉ muốn được lao vào dang tay chạy giữa những bông dã qùy vướng vít quấn quýt quanh mình.
Tháng mười một rồi đấy. Có lần bạn nói sẽ đưa tôi lên cao nguyên đón dã quỳ đầu mùa. Hứa hẹn, hẹn ước… Tiếng Việt mình hay thế…
Thì cao nguyên đấy, cao mà có còn nguyên đâu…
2. Cách đây vài năm hầu như mỗi năm tôi lên Kon Tum một lần, khi thì sưu tầm hiện vật bảo tàng, khi thì giám định cổ vật giúp một vài nhà sưu tập, khi thì điền dã ở các di tích khảo cổ hay các buôn làng. Thời gian di chỉ Lung leng (Huyện Sa Thầy) đang được Viện Khảo cổ học khai quật thì lên thường xuyên hơn, vì đây là công trường khai quật di chỉ tiền sử lớn nhất của VN, đã mang lại những thông tin rất mới về tiền sử tây nguyên và cả khu vực Đông Nam Á. Dù đến huyện xã nào thì cũng phải bắt đầu từ thị xã Kon Tum – nay đã là thành phố. Trong cái thị xã nho nhỏ lặng lẽ này có 2 nơi tôi thường xuyên thăm thú. Đó là Chủng viện Kon Tum và Nhà thờ Gỗ, tên gọi nôm na của Nhà thờ Chánh Tòa Kon Tum.
Chủng viện Kon Tum do vị giám mục đầu tiên của giáo phận Kon Tum xây dựng từ năm 1935 đến năm 1938, cũng có kiến trúc tương tự như nhà thờ nhưng quy mô lớn hơn. Bước qua cổng, du khách cảm thấy thư thái với hai hàng cây sứ lâu năm tỏa bóng mát, thoảng hương thơm dìu dịu trên đường vào trong chủng viện. Trên tầng hai của chủng viện có một phòng truyền thống trưng bày chi tiết về lịch sử truyền giáo tại Kon Tum từ giữa thế kỷ XIX, gồm nhiều hiện vật, các bút tích... của những vị linh mục trên đường truyền đạo, các hình ảnh, tài liệu liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của giáo phận Kon Tum. Cũng có thể coi đây là một bảo tàng nhỏ về vật dụng sinh hoạt, nông cụ, vật thể văn hóa các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh này.
Nhà thờ gỗ Kon Tum do một linh mục người Pháp khởi công xây dựng năm 1913, tọa lạc trên một diện tích rộng giữa trung tâm thị xã, có kiến trúc kết hợp giữa phong cách Roman với kiểu nhà sàn của người Ba Na. Công trình này hoàn toàn bằng gỗ, được những bàn tay tài hoa của nghệ nhân Bình Định, Quảng Nam xây dựng.
Nhìn từ xa màu nâu ấm áp của tháp chuông nhà thờ nổi bật trên nền trời xanh. Được xây chủ yếu bằng gỗ cà chít, nhà thờ là một công trình khép kín gồm: giáo đường, nhà khách, phòng trưng bày về phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc, nhà rông. Trong khuôn viên nhà thờ còn có nhiều công trình khác nhưng sắp xếp hài hòa nên bố cục tổng thể của nhà thờ không bị phá vỡ, ngược lại thánh đường còn được tôn thêmvẻ đẹp trang nghiêm mà gần gũi. Giáo đường không lớn lắm, hàng cột gỗ hai người ôm không xuể giờ ngả màu đen bóng. Hệ thống cột gỗ, rui mè trong nhà thờ tuy không chạm khắc tỉ mỉ, công phu như ở các nhà rường cổ, nhưng chính những hoa văn có đường nét phóng khoáng như con người Tây Nguyên, hồn hậu và khỏe khoắn. Không dùng bê tông cốt thép, thậm chí không có cả gạch, vôi vữa, nét độc đáo của kiến trúc này còn ở chỗ tất cả các bức tường đều được xây bằng đất trộn rơm, và dù gần một thế kỷ trôi qua nhưng vẫn vững vàng, hầu như không có dấu hiệu hư hỏng. Thánh đường còn có rất nhiều khung cửa kính màu vẽ các điển tích trong Kinh thánh, các khung cửa này vừa có tác dụng lấy ánh sáng, vừa tạo thêm vẻ tráng lệ cho giáo đường. Những dãy ghế gỗ sắp thẳng tăm tắp bên trong cũng góp phần tạo thêm chiều sâu cho không gian trang nghiêm, mang đến cảm giác yên bình cho mỗi người khi dừng chân cầu nguyện và chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính của nhà thờ.
Lần nào trở lại Kon Tum cũng vậy, Nhà thờ Gỗ là nơi tôi thường xuyên ghé đến. Chỉ để ngắm nhìn, để đắm mình vào bầu trời xanh cao nguyên trong không gian không rộng lắm luôn tĩnh lặng... Ngồi trên những bậc thềm và Bình tâm, thấy mọi cái đã qua dù may mắn hay rủi ro, cũng đều như có sự sắp đặt nào đấy...
Hình như đấy gọi là số phận.
(note cũ, lại nhớ Tây Nguyên rồi...)
Trong cái nắng cao nguyên đã bắt đầu gay gắt gió từ Biển Hồ lồng lộng mang lại hơi se lạnh đầu đông. Mọi người háo hức chụp hình từ góc này góc khác. Cảnh nơi nào cùng đẹp, bạn bè ai cũng rạng rỡ niềm vui. Đứng trên cao nhìn xuống Biển Hồ dường như không còn mênh mông như nhiều năm trước… Biển Hồ như nhỏ hơn, còn tôi như rỗng hơn lơ lửng trong ồn ào vui vẻ…
Đường từ Pleiku lên Kon Tum không còn vẻ hoang vắng. Ven đường đã có nhiều ngôi nhà, khang trang có mà tạm bợ cũng có. Hầu hết xây dựng theo kiểu nhà phố, cũng giống hệt như những con đường khác trên đất nước này. Nếu là người ít đi lại có thể sẽ không biết con đường này đi đến đâu nếu những cột cây số không hiện ra báo rằng còn 30, 20 rồi 10 km nữa là đến Kon Tum. Cố tìm một cái gì đó quen thuộc trên con đường này… và chỉ còn nhận ra “người quen” duy nhất là vài vạt dã quỳ nho nhỏ ven đường. Dạo xưa dã quỳ rực rỡ trải dài ngút ngát dọc đường đi. Có khi cả một triền hoa vàng đột ngột hiện ra hút mắt. Chỉ muốn được lao vào dang tay chạy giữa những bông dã qùy vướng vít quấn quýt quanh mình.
Tháng mười một rồi đấy. Có lần bạn nói sẽ đưa tôi lên cao nguyên đón dã quỳ đầu mùa. Hứa hẹn, hẹn ước… Tiếng Việt mình hay thế…
Thì cao nguyên đấy, cao mà có còn nguyên đâu…
2. Cách đây vài năm hầu như mỗi năm tôi lên Kon Tum một lần, khi thì sưu tầm hiện vật bảo tàng, khi thì giám định cổ vật giúp một vài nhà sưu tập, khi thì điền dã ở các di tích khảo cổ hay các buôn làng. Thời gian di chỉ Lung leng (Huyện Sa Thầy) đang được Viện Khảo cổ học khai quật thì lên thường xuyên hơn, vì đây là công trường khai quật di chỉ tiền sử lớn nhất của VN, đã mang lại những thông tin rất mới về tiền sử tây nguyên và cả khu vực Đông Nam Á. Dù đến huyện xã nào thì cũng phải bắt đầu từ thị xã Kon Tum – nay đã là thành phố. Trong cái thị xã nho nhỏ lặng lẽ này có 2 nơi tôi thường xuyên thăm thú. Đó là Chủng viện Kon Tum và Nhà thờ Gỗ, tên gọi nôm na của Nhà thờ Chánh Tòa Kon Tum.
Chủng viện Kon Tum do vị giám mục đầu tiên của giáo phận Kon Tum xây dựng từ năm 1935 đến năm 1938, cũng có kiến trúc tương tự như nhà thờ nhưng quy mô lớn hơn. Bước qua cổng, du khách cảm thấy thư thái với hai hàng cây sứ lâu năm tỏa bóng mát, thoảng hương thơm dìu dịu trên đường vào trong chủng viện. Trên tầng hai của chủng viện có một phòng truyền thống trưng bày chi tiết về lịch sử truyền giáo tại Kon Tum từ giữa thế kỷ XIX, gồm nhiều hiện vật, các bút tích... của những vị linh mục trên đường truyền đạo, các hình ảnh, tài liệu liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của giáo phận Kon Tum. Cũng có thể coi đây là một bảo tàng nhỏ về vật dụng sinh hoạt, nông cụ, vật thể văn hóa các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh này.
Nhà thờ gỗ Kon Tum do một linh mục người Pháp khởi công xây dựng năm 1913, tọa lạc trên một diện tích rộng giữa trung tâm thị xã, có kiến trúc kết hợp giữa phong cách Roman với kiểu nhà sàn của người Ba Na. Công trình này hoàn toàn bằng gỗ, được những bàn tay tài hoa của nghệ nhân Bình Định, Quảng Nam xây dựng.
Nhìn từ xa màu nâu ấm áp của tháp chuông nhà thờ nổi bật trên nền trời xanh. Được xây chủ yếu bằng gỗ cà chít, nhà thờ là một công trình khép kín gồm: giáo đường, nhà khách, phòng trưng bày về phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc, nhà rông. Trong khuôn viên nhà thờ còn có nhiều công trình khác nhưng sắp xếp hài hòa nên bố cục tổng thể của nhà thờ không bị phá vỡ, ngược lại thánh đường còn được tôn thêmvẻ đẹp trang nghiêm mà gần gũi. Giáo đường không lớn lắm, hàng cột gỗ hai người ôm không xuể giờ ngả màu đen bóng. Hệ thống cột gỗ, rui mè trong nhà thờ tuy không chạm khắc tỉ mỉ, công phu như ở các nhà rường cổ, nhưng chính những hoa văn có đường nét phóng khoáng như con người Tây Nguyên, hồn hậu và khỏe khoắn. Không dùng bê tông cốt thép, thậm chí không có cả gạch, vôi vữa, nét độc đáo của kiến trúc này còn ở chỗ tất cả các bức tường đều được xây bằng đất trộn rơm, và dù gần một thế kỷ trôi qua nhưng vẫn vững vàng, hầu như không có dấu hiệu hư hỏng. Thánh đường còn có rất nhiều khung cửa kính màu vẽ các điển tích trong Kinh thánh, các khung cửa này vừa có tác dụng lấy ánh sáng, vừa tạo thêm vẻ tráng lệ cho giáo đường. Những dãy ghế gỗ sắp thẳng tăm tắp bên trong cũng góp phần tạo thêm chiều sâu cho không gian trang nghiêm, mang đến cảm giác yên bình cho mỗi người khi dừng chân cầu nguyện và chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính của nhà thờ.
Lần nào trở lại Kon Tum cũng vậy, Nhà thờ Gỗ là nơi tôi thường xuyên ghé đến. Chỉ để ngắm nhìn, để đắm mình vào bầu trời xanh cao nguyên trong không gian không rộng lắm luôn tĩnh lặng... Ngồi trên những bậc thềm và Bình tâm, thấy mọi cái đã qua dù may mắn hay rủi ro, cũng đều như có sự sắp đặt nào đấy...
Hình như đấy gọi là số phận.
(note cũ, lại nhớ Tây Nguyên rồi...)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)
Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM T ham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...





