CHỈNH TRANG KHU VỰC TRUNG TÂM CẦN GÓP PHẦN BẢO TỒN DI SẢN ĐÔ THỊ

 

Thành phố Hồ Chí Minh đang chỉnh trang một số công trình ở khu trung tâm TPHCM. Tôi được biết thông tin trên báo chí về đơn vị tài trợ và thực hiện việc chỉnh trang này. Cảnh quan (mặt tiền) đường Lê Lợi và vài đoạn đường khác đã sáng sửa mới mẻ hơn. Nhưng những gì hiện lên ở phía trước chợ Bến Thành thì là chưa phù hợp với cảnh quan đô thị và di sản ký ức của người dân thành phố.

 Không biết công ty có tư vấn/hỏi ý kiến của các nhà kiến trúc đô thị, nghiên cứu lịch sử - văn hóa Sài Gòn - TPHCM không, vì bên cạnh thiện ý đóng góp cho thành phố thì việc trùng tu bên ngoài, chủ yếu là màu sắc, của các công trình cần theo nguyên tắc "trung tâm đô thị từ công trình đến cảnh quan là di sản đô thị". Vì vậy chỉnh trang cũng cần tuân thủ việc ứng xử với di sản văn hóa!

Nếu màu sơn đỏ trên mái của chợ Bến Thành có thể tạm chấp nhận - vì cùng tông đỏ, tuy màu tươi quá nhưng hy vọng qua vài tháng sẽ trầm màu xuống thành màu "nâu đỏ" quen thuộc - thì mảng "biển xanh" khu vực bùng binh trước đây lại quá đối lập về màu sắc! Theo ý nhà tài trợ màu xanh muốn nhắc về "tính chất sông nước". Nhưng màu xanh và sóng nước sông nước Sài Gòn/Nam bộ không giống sóng biển như được thể hiện, sự minh họa này thô thiển quá!

Nhân đây, cũng rất mong bùng binh Chợ Bến Thành được tái lập, vừa trả lại cảnh quan di sản đồng thời tạo ra một "dòng chảy liên tục" từ bùng binh Nguyễn Huệ đến bùng binh chợ Bến Thành, nối liền "trung tâm kinh tế" và "trung tâm chính trị" (UBNDTP), phản ánh tư duy sông nước và không bị ngăn trở trong sự phát triển của thành phố.

Về công trình "màu hóa" Hồ con rùa, theo ý kiến của một số kiến trúc sư thì công trình này chỉ cần cạo rêu rửa lại sạch sẽ là những mảng đá này sẽ sáng sủa hơn, hòa hợp cùng màu sắc của hoa cỏ trang trí bên dưới. Kiến trúc hồ con Rùa được thiết kế với chất liệu bê tông trần. Đây là một phong cách kiến trúc được thế giới công nhận. Nó có vẻ đẹp của sự mạnh mẽ, mang màu sắc phong trần của thời gian...Nhưng nay đã được mặc áo mới với màu sắc sặc sỡ....nhìn biểu tượng "yêu kiều", "thục nữ" hẳn lên". Hay: "Chất liệu bê tông trần và đá rửa là “chất liệu thật” , theo trường phái thô mộc, trở về với bản chất của màu sắc và chất liệu kiến trúc bền vững. Sơn “xanh,đỏ” lên thực chất là “bèo hoá “kiến trúc."

Trường hợp này làm tôi nhớ đến việc Bưu điện TP có lần được tài trợ và đã sơn màu hồng "cho đẹp, vì giống Nhà thờ Tân Định". Nhưng sau khi có sự phản ứng từ cộng đồng và ý kiến các nhà kiến trúc, văn hóa, Bưu điện TP đã rất nghiêm túc dừng lại ngay và sau đó đã sơn lại màu vàng "Đông dương" - màu đặc trưng của các đô thị hồi thế kỷ 20, sang trọng và thân thiện! Việc "sửa sai" này được cộng đồng tán thưởng và ghi nhận.

Cũng vậy, các dãy phố cũ của TPHCM trên đường Lê Lợi hay Võ Văn Kiệt, Bến Bình Đông... chỉ cần sơn lại đúng màu vàng như vậy, những ô cửa màu xanh lá đậm... là đủ đẹp và tạo dấu ấn về một đô thị cổ xưa. Mấy năm gần đây khu trung tâm thành phố đã giảm bớt việc trưng bày quá nhiều bông hoa màu mè trên các đường phố chính mà tăng thêm trang trí bằng đèn, đường phố mang vẻ đẹp của một thành phố hiện đại hơn. Vì vậy rất mong các nhà tài trợ/ thực hiện lưu tâm!

Tài trợ cho văn hóa thành phố là điều đáng quý, nhưng quý hơn là những nét văn hóa ấy được trân trọng và giữ gìn, bởi vì như vậy là cùng thành phố giữ gìn di sản, thiện tâm của nhà tài trợ sẽ được cộng đồng ghi nhận lâu dài! Ông bà mình vẫn nói: của cho không bằng cách cho. Văn hóa chính là ở đó!

 Nguyễn Thị Hậu, 30.1.2026



https://vnexpress.net/tao-hinh-song-nuoc-truoc-cho-ben-thanh-de-ket-noi-lich-su-do-thi-5011128.html



 

CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VÀ “BẢN SẮC ĐÔ THỊ” TP. HỒ CHÍ MINH

 Báo Pháp Luật TPHCM Xuân Bính Ngọ 2026

Lịch sử - văn hoá là tiềm năng, chất liệu của Công nghiệp văn hoá

Khái niệm công nghiệp văn hóa (Cultural Industries) được UNESCO đề cập từ cuối thế kỷ XX, chỉ những ngành kinh tế khai thác sáng tạo, tri thức và giá trị văn hóa làm nền tảng. Thế giới ngày nay phát triển ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) sản xuất theo phương thức công nghiệp với sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệ thuật với kinh tế và công nghệ. Trong các ngành này việc sử dụng trí tuệ của con người là then chốt, toàn bộ quá trình sản xuất mang dấu ấn sáng tạo cá nhân, sản phẩm được sản xuất và phân phối theo nhiều cấp độ khác nhau. Sự sáng tạo, tính năng động trong kinh doanh kết hợp với tiến bộ của công nghệ tạo nên giá trị và thương hiệu cũng như mức độ phổ biến của các sản phẩm CNVH.

Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị năng động và có tiềm năng lớn nhất nước trong hoạt động giao lưu và hội nhập kinh tế - văn hóa với thế giới. Nhiều loại hình CNVH đã có mặt ở đây từ giai đoạn phát triển đầu tiên của đô thị Sài Gòn – một đô thị mang những đặc trưng về lịch sử - xã hội độc đáo, có quá trình phát triển cởi mở, năng động. Ngày nay thành phố mới bao gồm tỉnh Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu là hai khu vực mà về cơ bản, có cùng quá trình lịch sử và đồng dạng ở nhiều lĩnh vực văn hoá. Điều kiện thuận lợi đó góp phần tăng thêm tiềm năng và giá trị cho CNVH của “siêu đô thị” này.

Quá trình phát triển lịch sử phát triển và hình thành cộng đồng cư dân thành phố có tính đa dạng, hòa hợp về văn hóa nhưng vẫn lưu giữ được đặc trưng từng tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm, cũng như văn hóa vùng miền của người nhập cư vào thành phố trong suốt tiến trình lịch sử. Bên cạnh đó là sự hiện diện nhiều nét văn hoá riêng của một số cộng đồng ngoại kiều (Ấn, Pháp trước kia, Nhật, Hàn hiện nay) trong đời sống hàng ngày. Tất cả cùng lắng đọng tạo thành lớp trầm tích lịch sử - văn hóa thể hiện bằng hệ thống di sản vật thể và phi vật thể. Đó chính là chất liệu, nguyên liệu cung cấp cho sự sáng tạo trên các lĩnh vực của CNVH.

Luôn giữ nhịp phát triển hiện đại nhưng thành phố vẫn giữ được bản sắc rất riêng – không chỉ nằm ở những công trình, cảnh quan hay món ăn, mà còn ở tinh thần sáng tạo và đổi mới của con người Sài Gòn, người Nam bộ. Chính tinh thần ấy là nền tảng để thành phố bước vào kỷ nguyên công nghiệp văn hóa, nơi văn hóa trở thành nguồn lực phát triển bền vững và là “thương hiệu” của đô thị.

Công nghiệp văn hóa – động lực mới của đô thị sáng tạo

Bản sắc của một đô thị không chỉ là di sản quá khứ, mà là cách con người nơi đó sống, cảm nhận và sáng tạo. Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh là một đô thị sông nước và hướng biển, hình thành đô thị là hình thành thương cảng. Cảng thị là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa Nam – Bắc, Đông – Tây. Từ khi hình thành đến nay, thành phố luôn mở lòng đón nhận những yếu tố văn hoá – kỹ thuật mới, rồi từ sự “không chối từ” đó mà thử nghiệm cái mới, ứng dụng vào đời sống, tạo nên tính cách độc đáo: cởi mở, tự do và sáng tạo. Đó là nền tảng cơ bản rất thích hợp để phát triển CNVH.

Từ cuối thế kỷ 19 đến nay, thành phố luôn có những công trình kiến trúc – nghệ thuật với nhiều hình thức từ truyền thống đến hiện đại, từ công sở, công trình công cộng kiểu phương Tây đến các công trình tôn giáo, tín ngưỡng Hoa, Việt, Chăm… Từ những con phố xưa xen giữa các cao ốc, những ngôi chợ truyền thống vẫn sôi động bên cạnh các trung tâm thương mại, những quán cà phê trong hẻm nhỏ, sân khấu ca nhạc, cải lương, triển lãm nghệ thuật, rạp phim hoạt động hàng ngày... Lễ hội  truyền thống được duy trì bên cạnh việc sáng tạo ra lễ hội hiện đại… Tất cả tạo nên một “bản giao hưởng đô thị” nhiều cung bậc. Trong bản giao hưởng đó, ký ức và đời sống đương đại cùng tồn tại, hoà quyện với nhau. Chính sự dung hòa đan xen giữa cũ và mới này là mảnh đất màu mỡ cho các ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Sài Gòn là thành phố sản sinh và lan tỏa văn hóa đại chúng của cả nước: từ âm nhạc, điện ảnh, đến thời trang, mỹ thuật và truyền thông.

Hình ảnh Sài Gòn trong điện ảnh từ những thước phim xưa đến các bộ phim đương đại – đã trở thành một biểu tượng của đời sống đô thị Việt Nam. Âm nhạc Sài Gòn từ bolero, cải lương đến nhạc trẻ, phản ánh tinh thần cởi mở, sáng tạo, dám khác biệt. Những nhà thiết kế trẻ, họa sĩ đương đại, startup công nghệ sáng tạo đang góp phần định hình diện mạo mới của thành phố.

Các không gian sáng tạo đang phát triển, không chỉ là những không gian hoành tráng, hiện đại mà có khi chỉ là một quán cà phê nhỏ, một căn hộ chung cư, một đoạn đường nhỏ xinh, một khu vực nghệ thuật đường phố… đang trở thành những nơi “thí nghiệm” và trải nghiệm năng lượng sáng tạo đô thị – nơi nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng cùng kiến tạo giá trị văn hóa mới. Ẩm thực Sài Gòn – từ cà phê vỉa hè, hủ tiếu gõ đến nhà hàng cao cấp, luôn thể hiện tính chất “truyền thống và hiện đại” cũng là một loại hình “công nghiệp văn hóa” sống động, hấp dẫn mọi người, thể hiện khả năng dung nạp và biến hóa không giới hạn của đô thị này.

Điều đặc biệt của TP. Hồ Chí Minh là khả năng sáng tạo từ “ký ức Sài Gòn”: Những con hẻm, khu chung cư cũ, rạp hát, chợ xưa… không chỉ là di sản vật thể, mà còn là chất liệu cảm xúc cho các nhà sáng tạo trẻ. Nhiều dự án nghệ thuật và du lịch đang tìm cách “đánh thức ký ức đô thị”: tái hiện Sài Gòn xưa qua triển lãm, âm nhạc, tour “đi bộ qua di sản các thời đại” hay qua những bộ sưu tập thời trang, tranh vẽ, podcast kể chuyện thành phố.

Một khu lò gốm cổ ở Lái Thiêu là nơi bạn trẻ tìm về và phục hồi một dòng gốm cổ với những nét hoa văn và mẫu mã hiện đại. Những công trình tuyệt đẹp ven biển Vũng Tàu, những ngôi làng xưa với đình chùa miếu cổ ở Bình Dương hay Bà Rịa đều có thể trở thành chất liệu cho nhiều loại hình CNVH.

Trong dòng chảy đó, công nghiệp văn hóa không làm mất đi bản sắc, mà ngược lại, giúp tái sinh nó trong hình thức mới. Khi một bộ phim, một bức tranh hay một thương hiệu ẩm thực mang trong mình tinh thần Sài Gòn, thì bản sắc ấy được lan tỏa không chỉ trong nước mà cả ra thế giới. Công nghiệp văn hóa không chỉ là ngành kinh tế, mà là tinh thần sáng tạo của thành phố. Với Sài Gòn – nơi con người luôn dám nghĩ, dám làm, dám khác biệt – bản sắc và sáng tạo không đối lập, mà hòa quyện, bổ sung cho nhau.

Thách thức và tầm nhìn của CNVH thành phố

Hiện nay công nghiệp văn hóa của TP.HCM vẫn đang đối diện nhiều thách thức lớn. Đó là sự mai một của di sản đô thị, thiếu chính sách đầu tư cho ngành sáng tạo nhất là đối với lĩnh vực kinh tế tư nhân. Một thời gian dài sân khấu cải lương không được quan tâm đúng mức gây ra những “tổn thương” mà phải mất nhiều thời gian mới phục hồi được. Nhiều yếu tố văn hoá truyền thống có nguy cơ đánh mất tính hoặc phai nhạt tính bản địa giữa thời đại toàn cầu hóa. Việc phát triển các khu “đô thị sáng tạo” như Thủ Đức hay như quyết định mới đây của lãnh đạo thành phố “ưu tiên phát triển không gian công cộng và văn hóa, tạo nên Không gian văn hóa Hồ Chí Minh ven sông Sài Gòn – biểu tượng kết nối giữa đô thị hiện đại và giá trị lịch sử của thành phố” cần gắn với việc bảo tồn ký ức và bản sắc đô thị, để không biến sáng tạo thành sao chép hay làm nhạt nhoà bản sắc.

Thành phố cần một “Chiến lược văn hóa đô thị” dựa trên các đặc trưng và giá trị truyền thống: Thành phố sông nước và hướng biển, trung tâm kinh tế - sáng tạo, văn hoá đa dạng - truyền thống và hiện đại. Tất cả cần được gìn giữ và phát triển làm “nguồn vốn văn hoá” cho các nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo đồng thời được chính quyền hỗ trợ tất cả những điều kiện cần thiết. Từ đó văn hóa trở thành trục trung tâm của phát triển bền vững. Đó cũng là con đường để TP. Hồ Chí Minh vừa hiện đại, vừa không đánh mất mình.

Trong thế kỷ 21 - “thời đại toàn cầu hóa”, hoạt động văn hóa đô thị là “tấm gương” phản ánh sự hiện đại và bản sắc của thành phố một cách trung thực và rõ ràng nhất. Nếu Hà Nội là “thành phố nghìn năm văn hiến”, Huế là “kinh đô di sản”, thì Sài Gòn chính là “thành phố của sáng tạo và bản sắc sống động, nơi mỗi ngày văn hóa được làm mới, ký ức được kể lại, bản sắc và truyền thống tiếp tục đồng hành cùng con người và nhịp sống đô thị.

TP. Hồ Chí Minh có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực sáng tạo khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ở thế hệ trẻ. Thông qua các hội thi hoặc “tuần lễ thiết kế sáng tạo” hay những nơi xuất hiện những sản phẩm của công nghiệp văn hóa như hội thảo, triển lãm nghệ thuật hội họa, điêu khắc, thời trang, âm nhạc, nghệ thuật dân gian, trải nghiệm điện ảnh, trải nghiệm “ký ức, hồn đô thị” và những hình thức khác. Tinh thần tự do, tính cách dám nghĩ dám làm của con người thành phố là động lực quan trọng nhất của các hoạt động văn hoá và sự phát triển CNVH.

Công nghiệp văn hóa của “TP.HCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình” cần bắt đầu từ những tiềm năng văn hóa của chính mình, đồng thời từ sự thay đổi quan điểm về nguồn lực thực hiện công nghiệp văn hóa: năng lực sáng tạo là của cộng đồng (các nhà hoạt động văn hoá chuyên nghiệp và cộng đồng chung), dưới sự định hướng và tạo điều kiện về pháp lý, về không gian và phần nào về cơ sở vật chất của chính quyền. Cộng đồng tạo ra và nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Sài Gòn – TP. HCM thì cộng đồng cũng là chủ thể phát triển công nghiệp văn hoá để phản ánh, quảng bá và lưu truyền những bản sắc ấy.

Nguyễn Thị Hậu

TP. Hồ Chí Minh 11.2025




TẠI LỄ TRAO GIẢI 'TINH HOA VIỆT" CỦA BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT

 https://tinhhoavietawards.vn/

Rất vui được tham dự Lễ công bố giải Tinh Hoa Việt và cùng anh Nguyễn Ngọc Hồi Giám đốc Sở TT.TT TP cùng trao giải cho hạng mục Di sản văn hóa.





NGƯỜI MIỀN TÂ Y KHÔNG QUEN “ĐÓNG CỬA KHÉP LÒNG”

 Nguyễn Thị Hậu

Không biết từ bao giờ khi nói về miền Tây Nam bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) thì tính cách của con người nơi đây luôn được gắn với những từ như hào sáng, phóng khoáng, rộng rãi, nghĩa khí… Chắc không phải do người miền Tây tự nói về mình, mà thường là nhận xét từ góc nhìn của người “bên ngoài” với sự trân trọng và thấu hiểu. Những tính cách đó được hình thành một cách tự nhiên từ điều kiện thiên nhiên, theo lịch sử khai khẩn và trong đời sống cộng đồng. Nó được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ người miền Tây, lưu truyền qua nhiều biến đổi của thời cuộc và được coi là một hệ giá trị nhân văn sâu sắc của đất và người miền Tây.

Hào sảng là tấm lòng rộng như sông nước và sẵn sàng sẻ chia

Miền Tây là vùng đất cuối của dòng Mê Kông vĩ đại. Chảy qua hàng ngàn cây số núi cao rừng thẳm, qua bao thác ghềnh hung dữ, để rồi về đến miền Tây Nam bộ là dòng Cửu Long hiền hoà bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn. Dòng sông của mùa nước nổi tràn bờ, của nhịp điệu ngày hai lần nước lớn nước ròng, của tiếng bìm bịp kêu chiều khắc khoải, của giề lục bình lờ lững tím ngát trôi xuôi… Bầu trời miền Tây chói chang mùa nắng, sầm sập cơn giông mùa mưa, lấp lánh hàng triệu vì sao những đêm trời cao trong vắt…

Trên vùng đồng bằng sông Cửu Long từ hàng trăm ngàn kinh rạch chằng chịt đan xen với nhau đã kết nối những con người xa xứ cùng tạo dựng xóm làng. Hàng trăm kinh đào lớn nhỏ bằng sức lực người miền Tây để thoát nước rửa phèn nuôi dưỡng những cánh đồng lúa vàng những vườn cây trái ngọt… Không gian miền Tây rộng rãi, đồng ruộng miền Tây mênh mông nào phải tự nhiên mà có? Nó được hình thành từ những bước chân giẫm đạp lên gai góc sình lầy, những đôi tay chai sần cầm leng cầm cuốc, từ mồ hôi, máu và nước mắt của hàng triệu người nghèo khó, tội đồ, sa cơ thất thế, của cả những người có chí làm ăn dám thử sức mình ở “vùng đất mới”.

Người miền Tây không quen “đóng cửa khép lòng”, họ sống như dòng nước cứ chảy, cứ cho đi. Rạch nhỏ ra rạch lớn, rạch lớn ra sông, sông nhỏ ra sông cái… Dòng sông Cửu Long nhận nước từ đầu nguồn rồi chảy ra biển cả, hàng năm bồi đắp từng lớp phù sa mới cho đồng bằng thêm màu mỡ để rồi nhận lại những vụ mùa vàng. miền Tây khi có ai ghé nhà, dù quen hay lạ cũng được mời bữa cơm, ly nước và có thể tá túc qua đêm thậm chí vài ngày mà không bị hỏi han dòm ngó. Mỗi mùa nước nổi, hàng xóm giúp nhau sửa nhà cửa thêm chắc chắn, cứu đồ đạc lúa má, đóng giúp chiếc xuồng “năm quăng” để có cái mà kiếm ăn trong cơn nước lũ… Những việc làm không cần tính công xá, không ai coi là “làm ơn” mà cũng không ai quên giúp lại người khác mỗi khi hữu sự. Bởi vì đó lẽ tự nhiên của tình người.

Sống và lao động trong điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù như thế, con người ở đây dần hình thành tâm thế hào sảng, hành xử rộng rãi, bao dung, như dòng sông như bầu trời nào của riêng ai… Không gian rộng rãi khoáng đạt đưa tầm mắt người miền Tây xa hơn những “cánh đồng chó ngáp”, đưa nghĩ suy của người miền Tây vượt ra khỏi tâm thức truyền thống ngàn năm trong “luỹ tre làng”, để người miền Tây có thể nhìn khác, nghĩ khác và làm khác. Người miền Tây lao động và chiến đấu như một lẽ thường tình, dù ai có nói “miền Tây được thiên nhiên ưu đãi” thì người miền Tây cũng chỉ cười mà rằng, “ờ, ông trời không cho làm sao mình có”?

Lối sống thuận thiên làm nên sự an nhiên, lao động hết mình tạo nên lòng tự trọng. Sự hào sảng của người miền Tây bắt nguồn từ đó.

Hào sảng ở tinh thần lạc quan và sự bộc trực, chân thành trong ứng xử

Cuộc sống miền Tây gắn với thiên nhiên, vốn dĩ nhiều rủi ro khi lũ về, nước dâng, mùa vụ có khi mất trắng. Lại có năm nước kém đất phèn mặn, hạn hán ruộng khô nứt nẻ… Nhưng lạ thay, người miền Tây vẫn luôn giữ nụ cười lạc quan. Đó chính là cái “hào sảng tinh thần” vì tin rằng ngày mai vẫn có cái để làm, để ăn, để sống. Hào sảng ở đây là sống cởi mở, không bi lụy, biết buông bỏ cái khổ, tin vào điều lành. Đó không phải là sự “vô lo” mà biết lo ít đi để sống trọn hơn, “biết đủ là đủ”. “Trời sinh voi, sinh cỏ” là câu người miền Tây thường nói, nhưng nói vậy không phải để ỷ lại mà để nhắc với nhau một niềm tin: nếu mình sống tử tế, trời đất không nỡ phụ người. Vì vậy, người miền Tây không hay than nghèo kể khổ, ai cũng khó như mình than thở ích gì, hãy cùng kiếm công chuyện làm ăn chứ đừng ngồi đó mà than thở.

Sống với tấm lòng nhân hậu và giản dị, luôn phải đối phó với khó khăn của thiên nhiên và xã hội, người miền Tây thiên về hành động thực tiễn hơn là lý luận bằng lời. Sự hào sảng không chỉ ở thái độ mà là việc làm không toan tính, cần thì làm ngay: mua vài tờ vé số là giúp người bán có một bữa ăn, thấy việc sai trái thì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”. Nhưng hành xử cũng đầy lòng trắc ẩn: có xung đột thì luôn bênh vực người yếu thế trước, rồi “hạ hồi phân giải” phải quấy tính sau. Lỡ “đụng độ” nhưng khi đã tỏ tường phải trái thì “làm một ly” để bỏ qua, tha thứ, không “nhớ lâu thù dai” vì như vậy ai chơi với mình? Hào sảng từ nội tâm nhờ không chất chứa hận thù, không nhỏ nhen cố chấp.

Người miền Tây không thích “làm màu”, cũng không thích tranh luận hơn thua. Trong câu chuyện thường ngày, họ dùng tiếng cười để hóa giải mâu thuẫn, dùng cách nói nhẹ nhàng thân mật để khuyên răn nhau: “thôi, bỏ đi Tám” là xong, không để bụng. Hào sảng là “biết quên” những điều nhỏ nhặt, giữ cho lòng nhẹ và tình người bền. Người miền Tây nói năng thẳng thắn, thật bụng, không vòng vo tam quốc” mà nghĩ sao nói vậy, “ghét nói ghét, thương nói thương”. Sự bộc trực ấy đôi khi làm người nơi khác cho là “tự nhiên quá” hay “thiếu tế nhị”, nhưng thật ra là sự chân thành không khách sáo. Cách nói trực diện, thẳng thắn cũng làm cho thế lực cường quyền “khó chịu”, nhưng đó là sự thể hiện nghĩa khí trước uy quyền. Hào sảng ở người miền Tây còn là sự công bằng chính trực.

Miền Tây là nơi dừng chân sau cùng trong hành trình mở đất của người Việt. Những lớp cư dân đi khẩn hoang phải dựa vào nhau mà sống, giúp nhau lao động sản xuất, đoàn kết chống thú dữ. Không chỉ vậy, họ còn phải hoà hợp với cư dân bản địa, học kinh nghiệm làm ăn trồng trọt, đồng thời cởi mở trong giao lưu văn hoá. Sự liên kết cộng đồng mạnh mẽ đã tạo ra đặc trưng “văn hóa mở”: ai cũng được chấp nhận, ai cũng có thể bắt đầu tại đây, chấp nhận những điều mới mẻ, dám làm dám chịu, không sợ sai và sửa sai nhanhNhững khác biệt không bị phán xét mà được dung nạp để rồi từ từ hoà nhập. Chính từ đó, hào sảng trở thành tính cách cộng đồng chứ không chỉ là một vài cá nhân. Tuy nhiên tính cách này kết tinh ở nhiều nhân vật lịch sử đã trở thành đại diện cho người miền Tây.

Hào sảng làm nên hồn cốt và tâm thế tự do của người Nam Bộ

Tính cách hào sảng của người miền Tây là kết tinh của đất – nước – người trải qua một quá trình lịch sử và vượt qua biết bao thử thách từ thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội. Sự hào sảng giúp kết nối những con người một cách chân thành, tạo nên sức mạnh giúp họ đi qua khó khăn, giữ được niềm vui sống và lan tỏa tình yêu cuộc đời. Nếu người Bắc nổi tiếng cẩn trọng, người Trung kiên cường, thì người Nam – đặc biệt là miền Tây – luôn được nhớ đến bởi sự phóng khoáng, hào sảng, “làm chết bỏ, chơi tới bến”. Hào sảng không chỉ là tính cách mà là một triết lý: sống nhẹ nhàng, sống chân thành, sống chia sẻ. Một cộng đồng hào phóng sẵn lòng cho đi và đón nhận, luôn tin vào tình nghĩa “bà con mình”.

Ở nơi cuối sông cùng đất, miền Tây Nam bộ như đứa con út của dòng Mê Kong và dải đất chữ S kéo dài khó nhọc. “Giàu con út khó con út”, chấp nhận số phận và ứng phó linh hoạt để tồn tại nhưng không bi lụy không hạ mình, luôn chính trực và hào sảng, khi còn giữ được những phẩm chất đó thì người miền Tây còn giữ được cho mình một tâm thế tự do như ông cha mình trước đây!

Sài Gòn tháng 11.202




CHỈNH TRANG KHU VỰC TRUNG TÂM CẦN GÓP PHẦN BẢO TỒN DI SẢN ĐÔ THỊ

  Thành phố Hồ Chí Minh đang chỉnh trang một số công trình ở khu trung tâm TPHCM. Tôi được biết thông tin trên báo chí về đơn vị tài trợ...