DI SẢN VĂN HÓA - TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VÀ DU LỊCH Ở ĐẶC KHU LÝ SƠN

 Trích phần cuối bài đăng Tp chí Phát trin Kinh tế - Xã hi Đà Nng [ISSN 1859-3437], số 194 (02-26) tr 25-31

Tóm tắt

Hệ thống di sản văn hóa tại đặc khu Lý Sơn có loại hình phong phú, đa dạng, phản ánh lịch sử - văn hóa và truyền thống bảo vệ chủ quyền biển đảo của cộng đồng cư dân Lý Sơn. Đây là tiềm năng, nguồn tài nguyên to lớn để đầu tư và phát triển công nghiệp văn hóa, nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch phản ánh ý nghĩa và giá trị quan trọng của di sản văn hóa của Lý Sơn.

Bài viết đề xuất một vài ý tưởng ứng dụng vào công nghiệp văn hóa để thúc đẩy du lịch Lý Sơn phát triển. Đây là giải pháp khả thi, bền vững, giúp gắn kết bảo tồn di sản với phát triển kinh tế, vừa tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù truyền thống nhưng phù hợp với thời đại công nghệ 4.0, góp phần nâng cao vị thế của văn hóa biển đảo trong thời đại hội nhập.

1. Công nghiệp văn hóa – nền tảng mới cho phát triển du lịch hiện nay

2. Nguồn lực di sản văn hóa phục vụ công nghiệp văn hóa và du lịch tại đặc khu Lý Sơn

3. Di sản, công nghiệp văn hóa và phát triển du lịch tại Lý Sơn

3.2 Một số nhận thức của tác giả từ khảo sát thực tiễn tỉnh Vân Nam, Trung quốc (tháng 6.2025)

Vân Nam là một trong những tỉnh có nền văn hóa dân tộc phong phú bậc nhất Trung Quốc, nơi cư trú của hơn 25 dân tộc thiểu số như Bạch, Di, Hani, Nạp Tây, Thái... Sự đa dạng văn hoá được phản ánh qua nghi lễ, lễ hội, trang phục, kiến trúc, âm nhạc và tín ngưỡng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa. Các đô thị du lịch nổi tiếng như Côn Minh, Đại Lý, Lệ Giang, Shangri-La đã trở thành trung tâm thu hút du khách trong và ngoài nước, đồng thời là các “điểm nóng” trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá của tỉnh.

Tại tỉnh Vân Nam đã có nhiều hình thức ứng dụng công nghiệp văn hoá vào du lịch, trở thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, phản ánh lịch sử văn hoá khu vực một cách độc đáo, hiện đại. Một số phương thức kết hợp di sản – du lịch và công nghiệp văn hóa đã mang lại hiệu quả tốt:

- Tái hiện và thương mại hóa di sản văn hóa dân tộc. Nhiều hình thức văn hoá dân gian đã được phục dựng và tổ chức lại dưới dạng sản phẩm du lịch, như Lễ hội Tết đuốc của người Di, Lễ hội March Street của người Bạch hay nghi lễ cầu mưa của người Hani. Các làng văn hóa dân tộc được quy hoạch như những “bảo tàng sống”, nơi du khách có thể trải nghiệm nghề thủ công, tham gia lễ hội truyền thống, thử trang phục bản địa – qua đó tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và khai thác văn hóa bản địa.

- Phát triển biểu diễn nghệ thuật gắn với không gian du lịch. Một điển hình là chương trình nghệ thuật ngoài trời “Ấn tượng Lệ Giang” do đạo diễn Trương Nghệ Mưu thực hiện. Với hơn 500 nghệ sĩ là người dân địa phương tham gia biểu diễn ngay tại khu du lịch dưới ngọn núi thiêng Ngọc Long, đã mang lại cho du khách cảm xúc chân thực tự nhiên và đồng cảm với cộng đồng bản địa. Đồng thời với các sản phẩm du lịch đại trà còn có những sản phẩm cho phân khúc du khách cao cấp hơn, như các khách sạn, nhà hàng tiện nghi cao cấp tại các công trình kiến trúc bản địa cổ xưa, đặc biệt nhất là show biểu diễn nghệ thuật “Lệ Giang thiên ctình” tại Thành cổ Lệ Giang, tiền vé khoảng 50USD/người. Sân khấu trong nhà hoành tráng kết hợp kỹ xảo đỉnh cao, toàn bộ nghệ sĩ diễn viên chuyên nghiệp.

- Sáng tạo sản phẩm văn hóa đặc trưng từ di tích lịch sử văn hoá, từ các sản phẩm thủ công bản địa. Tất cả các địa điểm cảnh quan tự nhiên và di tích văn hoá đều trở thành khu du lịch. Các sản phẩm đặc sản như trà Phổ Nhĩ, thổ cẩm Bạch tộc, trang sức bạc của người Di được xây dựng thành thương hiệu địa phương, phân phối trong hệ thống cửa hàng lưu niệm, chợ đêm và cả trên nền tảng số. Nhiều doanh nghiệp văn hóa sáng tạo ở Vân Nam cũng đã áp dụng công nghệ VR/AR để số hóa trải nghiệm làng nghề, di tích, giúp mở rộng thị trường du lịch qua nền tảng trực tuyến[1].

- Quảng bá du lịch văn hóa qua truyền thông và điện ảnh. Hình ảnh Vân Nam được quảng bá mạnh mẽ qua các bộ phim truyền hình, phim tài liệu và chương trình truyền hình thực tế như “Divas Hit the Road”, “Thiên Long Bát Bộ”. Nhiều địa danh sau khi lên sóng truyền hình, lên phim đã trở thành điểm đến “trending”, minh chứng cho sức mạnh của ngành công nghiệp truyền thông – giải trí trong thúc đẩy du lịch văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng bản địa. Gần đây bộ phim Đi đến nơi có gió được quay nhiều cảnh quan đẹp tại Đại Lý, trong đó có Thôn Vân Miêu. T khi bộ phim được chiếu trên truyền hình đến nay, từ một thôn nghèo bình dị, Vân Miêu thôn đã trở thành một địa điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng.

Sự phát triển đó bắt đầu từ chính sách nhà nước và sự thực hiện của chính quyền địa phương. Qua một số công trình nghiên cứu, được biết từ nhiều năm trước Tỉnh Vân Nam đã triển khai chiến lược phát triển “vành đai công nghiệp văn hoá” gắn với du lịch sinh thái và dân tộc, thông qua việc xây dựng các khu công nghiệp văn hóa như Công viên văn hóa sáng tạo Côn Minh đã quy tụ các doanh nghiệp xuất bản, làm phim, thiết kế trò chơi; Thung lũng văn hóa số Đại Lý là nơi ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn và phát triển sản phẩm du lịch thông minh. Chính sách của chính quyền địa phương đã khuyến khích đầu tư vào khu vực nông thôn, hỗ trợ đào tạo cho cộng đồng dân tộc và phát triển hạ tầng số, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho công nghiệp văn hóa phát triển gắn với du lịch[2].

3.3 Một vài ý tưởng có thể ứng dụng tại đặc khu Lý Sơn.

- Xây dựng không gian văn hóa sáng tạo, phục vụ cho công nghiệp văn hoá.

Phát triển một trung tâm văn hóa – sáng tạo biển đảo: đặc khu Lý Sơn sẽ nơi tổ chức trưng bày, trình diễn nghệ thuật dân gian, trải nghiệm nghề thủ công và kể chuyện di sản. Chất liệu mang tính sử thi, thấm đẫm văn hóa dân gian từ hệ thống di sản văn hóa có thể xây dựng nên những tác phẩm điện ảnh, truyền hình về lịch sử khai thác biển, quá trình bảo vệ chủ quyền biển đảo từ thời Nguyễn đến nay. Với những cảnh quan độc đáo và tuyệt đẹp Lý Sơn có thể trở thành một phim trường cho các tác phẩm phản ánh về văn hóa biển Việt Nam. Những chương trình nghệ thuật thực cảnh hoành tráng với không gian biển, di tích núi lửa... phục vụ du lịch vừa hấp dẫn vừa góp phần bảo tồn tính truyền thống những lễ hội của cộng đồng bản địa.

-       Thiết kế sản phẩm du lịch từ sáng tạo văn hóa.

Xây dựng các bộ phim từ chất liệu lịch sử gắn với Lý Sơn, phản ánh đời sống văn hoá cộng đồng còn giữ nhiều nét truyền thống nhưng đang thay đổi trong bối cảnh xã hội hiện đại hoá. Đặc biệt sự chuyển biến trong quá trình Đô thị hoá hiện nay với nhiều biến đổi về tâm lý, lối sống, mối liên hệ giữa các thế hệ, sự thay đổi sinh kế… là những chất liệu phong phú và hấp dẫn cho các tác phẩm điện ảnh.

Không gian và di sản thiên nhiên, đời sống cư dân biển đảo là đề tài cho các tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh của tác giả trong và ngoài nước, của cộng đồng bản địa và du khách...  Sản xuất truyện tranh, video, phim hoạt hình về hải đội Hoàng Sa bằng nhiều ngôn ngữ. Tổ chức các cuộc thi ký hoạ, nhiếp ảnh, thi viết về Lý Sơn để tập hợp thành chất liệu cho các ngành công nghiệp văn hoá… Đó cũng là nguồn tác phẩm để có thể tổ chức các cuộc triển lãm mỹ thuật lớn tại Lý Sơn.

Đầu tư cho sáng tạo, thiết kế mẫu mã, sản xuất bộ sưu tập sản phẩm lưu niệm như mô hình thuyền Hoàng Sa, tượng cá Ông, bưu thiếp về lễ hội, di tích lịch sử, cảnh quan tự nhiên, tổ chức các show biểu diễn thời trang và những sự kiện văn hoá khác tại Lý Sơn…

-       Thu hút và đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo và du lịch

Đề xuất cơ chế, chính sách thu hút nhà đầu tư vào lĩnh vực phát triển công nghiệp văn hoá ở Lý Sơn, với định hướng Lý Sơn là một đô thị biển, một trung tâm du lịch lớn, đồng thời cũng là một trung tâm bảo tồn di sản văn hoá về truyền thống bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Kêu gọi đầu tư các mô hình kinh doanh về công nghiệp văn hóa, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Khuyến khích các mô hình đầu tư và kinh doanh đa dạng cho các tổ chức văn hóa, ứng dụng cơ chế vận hành/ quản lý hiện đại, sáng tạo dựa vào nền kinh tế số...

-  Một số giải pháp trước mắt:

+ Xây dựng và phát triển hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển nhưng không phá huỷ và làm tổn hại di sản tự nhiên, di sản văn hoá.

+ Lý Sơn cần được xem xét như vùng thực nghiệm “đặc khu văn hóa biển đảo” – kết hợp quản trị di sản với phát triển du lịch và công nghiệp sáng tạo.

+ Ban hành cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong ngành công nghiệp văn hóa tại Lý Sơn: giảm thuế, hỗ trợ bảo vệ bản quyền, đầu tư hạ tầng số…

+ Có chính sách ưu đãi phủ hợp cho du lịch cộng đồng tại Lý Sơn để phát triển bền vững.

+ Tăng cường hợp tác quốc tế (UNESCO, KOICA, JICA, v.v.) để học hỏi mô hình bảo tồn di sản kết hợp công nghiệp văn hóa từ Trung quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan...

Phát triển du lịch ở Lý Sơn từ công nghiệp văn hóa là con đường khả thi, bền vững, giúp gắn kết bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch, lấy cộng đồng làm nhân tố trung tâm, tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù bằng công nghiệp văn hóa. Đây là con đường phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng biển đảo, góp phần bảo vệ chủ quyền đất nước.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 12.2025

 



[1] UNESCO. (2009). Culture and sustainable development. Paris: UNESCO. Nguồn: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000189520

[2]Zhang & Zhao, 2018. Đã dẫn










TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

 GIẢI NHÌ CUỘC THI :)
https://nld.com.vn/bao-nguoi-lao-dong-trao-giai-cuoc-thi-viet-ve-ca-phe-tra-viet-2026-196260405124535869.htm

Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.

Thời ông bà tôi trong nhà chỉ bình trà nóng, để uống, để tiếp khách hay trò chuyện với nhau. Đến thời cha mẹ tôi thỉnh thoảng có phin cà phê thơm lừng vào sáng chủ nhật. Nhưng ấm trà luôn là biểu tượng của gia đình, như lối sống của ông bà, cha mẹ: ít lời, nhẫn nại, bền bỉ...

Thế hệ tôi đã quen với cà phê. Mỗi ngày thường bắt đầu bằng ly cà phê buổi sáng ở quán vỉa hè với bạn bè, đồng nghiệp, và một bình trà đá dường như không bao giờ cạn. Từ thói quen uống trà trong nhà thay đổi ra ngoài phố uống cà phê cho biết cuộc sống thành phố đã khác xưa.

Các con tôi thì gần như chỉ uống cà phê. Với chúng quán cà phê là không gian làm việc, gặp gỡ bạn bè hay họp hành online. Cà phê của giới trẻ bây giờ - cà trà nữa - nhiều lựa chọn, đa dạng hơn, đôi khi khó phân biệt Đông – Tây qua thức uống, phản ánh một thế giới phức tạp và ngày càng phẳng.

Có thể nghĩ rằng các thế hệ đang dần xa nhau: từ trà sang cà phê, từ chậm sang nhanh, từ ấm trà nóng trong gia đình đến quán cà phê mát lạnh trên phố. Nhưng vì biết chấp nhận sự thay đổi của cuộc sống nên chúng tôi không làm mất đi sự gắn kết của gia đình. Các thế hệ gần gũi hơn khi ngồi lại bên nhau, người nhâm nhi chén trà như nhắc lại quá khứ, người uống ly cà phê pha máy như hướng đến tương lai. Cả hai điều đều cần thiết vì “chúng ta là một gia đình”.

Và ở đâu đó giữa vị chát của trà và vị đắng của cà phê vẫn có một điểm chung: cả hai đều mang lại vị “ngọt hậu” của truyền thống gia đình. Chính vì vậy trong nhà tôi, mỗi sáng trước khi các con pha một bình cà phê mang đi làm thì luôn đặt những ly trà nóng trên bàn thờ để cúng ông bà, cha mẹ.

Mời các bạn vào link đọc để tăng lượng đọc cho bài nhé :)

https://nld.com.vn/tra-ca-phe-ket-noi-gia-dinh-196260330130631171.htm



 

NHỮNG NGƯỜI XÂY NHÀ ĐỂ LẠI KÝ ỨC ĐÔ THỊ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Người Sài Gòn xưa hay kể về một nhân vật với cái tên đời thường là chú Hỏa. Không phải ai cũng nhớ rõ tiểu sử nhưng nhiều người biết ngôi nhà lớn giữa trung tâm thành phố - nay là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - từng là của gia đình ông, Hui Bon Hoa. Ngôi nhà không được xây để “lưu giữ quá khứ”, nó được xây cho một hiện tại rất cụ thể: để ở, để tiếp khách, để khẳng định một vị thế giữa đô thị Sài Gòn hồi đầu thế kỷ 20.

Ở khu đất số 1 đường Lý Thái Tổ cũng có một cụm bảy căn biệt thự của chú Hỏa, tạo thành cả một “quần thể sống” giữa không gian đô thị, nơi tiếp nối đời sống của một gia tộc nổi tiếng. Những căn biệt thự ấy nếu nhìn bằng con mắt hôm nay có thể chỉ là bất động sản có giá trị “kim cương”. Nhưng nếu nhìn từ lịch sử đô thị ta có thể nhận ra một điều: một cá nhân không chỉ xây nhà, mà có thể còn định hình một không gian của thành phố.

Khu đất có 7 biệt thự kể trên hay toà nhà như Bảo tàng Mỹ Thuật, khi được tổ chức như vậy thì đã vượt khỏi giá trị vật chất là tài sản riêng của một cá nhân. Nó bắt đầu có giá trị di sản bởi mang cấu trúc đặc trưng của đô thị: tạo nên dấu ấn kiến trúc của một con đường, một khu vực, định hình cách cư trú của một tầng lớp thị dân, và quan trọng hơn, nó âm thầm ảnh hưởng đến ký ức của những người nhìn ngắm nó hay chỉ đi ngang qua nó, suốt nhiều thế hệ.

Có thể nhận thấy một điều, phần lớn những người để lại dấu ấn cho đô thị thường không phải là những người “thực hành bảo tồn”. Họ là những người làm ăn, buôn bán, tích lũy và rồi xây dựng nhà cửa, dãy phố, chợ, bệnh viện, trường học, cả đình chùa hay nhà thờ nữa… như một phần của công việc kinh doanh và đời sống. Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn từng có một lớp người như vậy: ông Hui Bon Hoa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ... Người Hoa với những dãy nhà phố nối nhau, vừa ở vừa buôn bán, người Việt những căn nhà vườn rồi chuyển dần thành phố thị, người Pháp với biệt thự và công sở. Mỗi nhóm người, mỗi lựa chọn xây dựng dù mục đích là gì cũng đã góp phần phát triển đô thị.

 Trải qua thời gian họ để lại những công trình mang dấu ấn đô thị. Đó chính là thứ mà sau này chúng ta gọi là di sản. Bởi vì di sản có được không chỉ bắt đầu từ ý định giữ lại cái cũ mà phải bắt đầu từ việc làm cho cái hiện tại trở nên tốt đẹp, đủ hữu dụng và có thể tồn tại lâu dài, hơn cả một đời người. Cứ nhìn những công trình di sản mà xem, dù là công sở, công trình công cộng hay nhà ở tư nhân thì đều được xây bằng vật liệu tốt và kỹ thuật cao cấp ở thời đại ấy, kiến trúc công trình và toàn bộ nội thất được chăm chút ở mức tối đa về chức năng, mỹ thuật trang trí mang tính tiêu biểu cho một trường phái, một xu hướng của thời đại. Một không gian được tính toán để có thể sử dụng lâu dài, linh hoạt, gần như không phải cơi nới cải tạo dù qua nhiều đời người. Và đặc biệt các công trình ấy đều cho biết nó thuộc về nơi nào, không lẫn với bất cứ đâu!

Tất cả điều đó tạo nên sự hoàn hảo của công trình trong một không - thời gian nhất định. Từ yếu tố kỹ thuật, sự hoàn hảo luôn là sự hợp lý. Chính vì vậy mà các công trình tồn tại lâu dài, từ đó những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, giá trị sử dụng thực tiễn có điều kiện tích luỹ ngày càng dày thêm!

2.

Đi giữa thành phố hôm nay đôi khi ta có cảm giác, nhiều công trình rất hiện đại rất tốn kém nhưng không giúp con người có thể hình dung chúng sẽ tồn tại trong ký ức của thành phố như thế nào sau vài chục năm nữa? Chúng được xây dựng vội vã để khai thác nhanh, tối ưu “lợi nhuận” trong một vòng đời ngắn ngủi, có thể để đáp ứng nhu cầu của một tầng lớp thị dân luôn muốn phô trương sự giàu có nhanh chóng. Điều đó có vẻ như là một “quy luật” của “hiện đại hoá”! Nhưng một đô thị nếu chỉ có những công trình được xây dựng không dựa trên giá trị cốt lõi mà chỉ nhằm đáp ứng lợi ích nhất thời thì sẽ không thể tạo ra chiều sâu lịch sử của đô thị. Thành phố lớn lên chỉ như một cái bong bóng khổng lồ, màu mè phô trương, lơ lửng đâu đó ngoài sự ghi nhớ của con người. Thành phố đó là một nơi không có gì tạo ra ký ức.

Vì sao một đô thị “hiện đại” lại tạo ra cảm giác đó? Câu trả lời không chỉ ở bối cảnh xã hội mà còn ở các cá nhân. Trước hết, những công trình xưa được xây với giả định tồn tại qua nhiều thế hệ. Ngày nay, quan hệ đất đai làm cho vòng đời của công trình thường chỉ tính bằng vài chục năm nên không có đầu tư cho sự lâu dài. Từ đó logic kinh tế đã thay đổi, công trình được tính toán để tối ưu lợi nhuận trong thời gian ngắn chứ không phải để tích lũy giá trị qua thời gian. Vì vậy cái “đẹp bền vững” thường thua cái “hiệu quả ngay”. Những người như chú Hỏa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ và gia tộc của họ đã sống, làm ăn và gắn bó cả đời với chính nơi họ xây dựng. Ngày nay, nhiều công trình được đầu tư bởi những chủ thể không thực sự “sống ở đó” mà họ chỉ đến và đầu tư, khai thác. Đó chính là sự đứt gãy giữa cá nhân và không gian sống.  Khi không có sự gắn bó và trải nghiệm thì rất khó để lại ký ức.

Và cuối cùng, đó là sự thiếu vắng một tầm nhìn văn hóa. Xây một công trình có thể chỉ cần tiền. Nhưng để một công trình có khả năng trở thành ký ức phải có thêm những thứ khác: cảm nhận về cái đẹp, ý thức về sự bền vững, sự hiểu biết về lịch sử và trách nhiệm với thành phố. Xây dựng là chuyện của hiện tại. Nhưng di sản chỉ xuất hiện khi trong cách xây dựng ấy đã có sẵn một ý thức về sự nối tiếp quá khứ và tương lai.

3.

Những người thuộc lớp “đại gia” của Sài Gòn xưa, có lẽ điều làm người ta nhớ đến họ không chỉ vì sự giàu có mà vì cuộc sống của họ thực sự phản ánh đời sống thành phố. Họ xây nhà cho mình nhưng ngôi nhà ấy đã trở thành một phần của thành phố. Những ngôi chợ, nhà thờ, trường học, bệnh viên… mà họ để lại đều là những công trình hiện diện lâu dài, mang lại lợi ích trong đời sống chung nên mới có cơ hội trở thành ký ức trong cộng đồng. Vậy nhưng cho đến nay ở thành phố chúng ta hầu như chưa có một sự ghi nhận đáng kể nào đối với chủ nhân những công trình ấy!

Có thể là một gian trưng bày trong Bảo tàng thành phố, nhà lưu niệm hay một công viên nhỏ, một con đường kế bên công trình được mang tên họ... Bình dị thôi nhưng là sự ghi nhận những đóng góp của các thế hệ thị dân thành phố. Bởi vì đô thị Sài Gòn  không chỉ được hình thành từ các bản quy hoạch tổng thể của chính quyền, mà còn được “hồn vía” nhờ những quyết định mang tính chất cá nhân, như chủ nhân của các công trình nay đã trở thành di sản.

Trong quá trình phát triển của thành phố, nếu có điều gì đáng lo thì không phải là thành phố thiếu những công trình mới và hoành tráng, mà là thiếu vắng những công trình có khả năng “ở lại với thời gian” bằng tâm thức của cộng đồng. Nói một cách khác, thành phố chỉ thực sự “phát triển bền vững” khi có các công trình bền vững và những ký ức bền vững. Và như vậy, liệu chúng ta có đang khuyến khích xây cái “ở lại” không, hay chỉ khuyến khích những cái chỉ là “quay vòng nhanh”?

TP. Hồ Chí Minh ngày 23.3.2026







 

Giữ ‘gen đô thị’ trước áp lực phát triển (TC NGƯỜI ĐÔ THỊ)

 Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản Sài Gòn vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn là lựa chọn cho tương lai.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, chuyên gia hàng đầu về khảo cổ học và bảo tồn di sản, cho biết bảo tồn di sản không chỉ là “giữ hay không giữ”, mà còn liên quan đến các yếu tố sâu hơn như cấu trúc xã hội, kinh tế... Chính điều này khiến việc bảo tồn trở nên phức tạp, đôi khi dẫn đến những kết quả không như mong muốn(*).

Di sản đô thị: Không chỉ là công trình, mà là ký ức sống

Những ngày gần đây, câu chuyện chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa, Nhà chú Hỏa… được chỉnh trang đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Qua đó đặt ra câu hỏi: đâu là ranh giới giữa bảo tồn và cải tạo, giữa gìn giữ ký ức và nhu cầu phát triển? Và quan trọng hơn, ai là người có quyền quyết định diện mạo của những không gian đã trở thành một phần ký ức chung của thành phố? Để giải quyết những câu hỏi đó, việc hiểu đúng về di sản là rất cần thiết.

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, di sản đô thị là một tổng thể gồm cả vật thể và phi vật thể. Chúng gồm di tích khảo cổ dưới lòng đất, cảnh quan và công trình trên mặt đất, các yếu tố kiến trúc và phi vật thể như lễ hội, lối sống, văn hóa, đạo đức… Tất cả tạo nên khía cạnh lịch sử - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn, phản ánh quá trình phát triển đô thị.

Tuy vậy trong nghiên cứu và thực tiễn, người ta thường chú ý nhiều đến di tích vật thể vì chúng hiện hữu rõ ràng. Vì vậy bảo tồn di sản đô thị, dưới góc độ này, trước hết là bảo tồn các khu vực có công trình di sản như một tổng thể, sau đó mới đến các công trình đơn lẻ.

Dẫu thế, cũng cần biết rằng, bảo tồn vật thể chính là cơ sở để bảo tồn yếu tố phi vật thể, bởi khi một công trình mất đi, ký ức về nó cũng dần biến mất. Ví dụ với những công trình không còn như Thương xá Tax, trong khi thế hệ trước vẫn còn nhớ được hình ảnh và vị trí công trình, thì các thế hệ sau sẽ dần lãng quên. Tương tự, hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng đã bị đốn hạ để dành đất làm hạ tầng cầu đường, hàng cây này giờ cũng chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh… Đây chính là mối quan hệ giữa di sản hữu hình và ký ức đô thị.

Từ thực tiễn trong và ngoài nước, theo bà Hậu, bảo vệ di sản thực chất là vấn đề chính sách và thực thi chính sách văn hóa đô thị. Nó bắt đầu từ cấp vĩ mô nhưng được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể của nhiều bên tham gia.

Ngoài ra, hệ thống di sản cũng phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị, bao gồm đặc trưng tự nhiên, lịch sử - văn hóa và cộng đồng cư dân. Qua gần 20 năm nghiên cứu, bà rút ra bốn đặc trưng cơ bản mà nếu mất đi, “gen” Sài Gòn – TP.HCM sẽ thay đổi, dẫn đến một diện mạo khác, một bản sắc khác.

Chúng gồm, thứ nhất là địa lý tự nhiên - nền tảng của đô thị. Sài Gòn - TP.HCM có cảnh quan sông nước hướng biển và tính kết nối. Thứ hai, ngay từ khi hình thành, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế, giao thương, dịch vụ và công nghiệp. Thứ ba là sự đa dạng văn hóa tộc người, gắn với quá trình nhập cư liên tục và biến động dân cư. Cuối cùng, đây là đô thị được quy hoạch theo kiểu phương Tây từ rất sớm.

Từ bốn đặc trưng trên có thể hình dung hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thành phố. Về phi vật thể, sự đa dạng tộc người kéo theo đa dạng lễ hội, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng (Việt, Hoa, Khmer, Ấn…), trong khi với nhánh vật thể, các đặc trưng này biểu hiện thành một hệ thống di sản phong phú.

Theo cách tiếp cận loại hình học, có thể phân chia di sản vật thể thành chín loại hình để nhận diện chức năng, cấu trúc và phục vụ trùng tu chính xác, tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Việc phân loại các loại hình di sản cũng nhằm nhận diện và có cách ứng xử phù hợp: có cái cần giữ, có cái có thể chuyển đổi.

Bà Hậu cũng lưu ý cảnh quan và văn hóa đô thị là một quần thể, không thể tách rời thành các đơn vị đơn lẻ. Do đó nếu khu trung tâm thành phố đã được xác định là vùng di sản thì cần được bảo tồn như một chỉnh thể, không thể chỉ giữ riêng từng công trình như nhà hát hay nhà thờ, trong khi cảnh quan xung quanh lại bị phá bỏ. Khi bối cảnh không còn, giá trị của công trình cũng sẽ suy giảm.

Vì vậy, các lý thuyết quy hoạch di sản đô thị đều nhấn mạnh: cảnh quan phải được nhìn nhận như một tổng thể. Mọi can thiệp vào công trình đều cần xét đến toàn bộ không gian đô thị xung quanh, đúng như cách đô thị được hình thành và quy hoạch từ đầu.

Nhiếp ảnh và vai trò lưu giữ lịch sử đô thị

Nhưng dù thuộc phân loại nào, thì cũng không thể phủ nhận mọi di sản vật thể đều gắn với di sản phi vật thể, trong đó ký ức đô thị là quan trọng nhất. Khác với nông thôn - nơi gắn kết bằng huyết thống, đô thị gắn kết qua mối quan hệ giữa con người và không gian sống.

Vì vậy đã có không ít người cố gắng lưu giữ những ký ức này. Một trong số đó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Hòa. Với hơn 45 năm kinh nghiệm, những năm gần đây, ông dành nhiều tâm huyết ghi lại hình ảnh lịch sử, di sản và văn hóa Sài Gòn.

Tại buổi tọa đàm, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết mình vốn là nhiếp ảnh gia tự do, trước đây tập trung chủ yếu vào mảng chân dung cũng như thời trang. Tuy nhiên bởi nhận ra tư liệu, hình ảnh về Sài Gòn giai đoạn 1975 - 1990 còn tương đối ít, nên sau khi con cái trưởng thành, ông đã dành nhiều thời gian hơn để chụp thành phố.

Một trong những hướng đi mà ông đặc biệt theo đuổi là đối chiếu ảnh xưa - nay. Trong đó, ông sử dụng tư liệu từ khoảng thập niên 1920 rồi sau đó chụp lại cũng đúng góc cũ để thấy được sự thay đổi.

Chẳng hạn ga Sài Gòn – chợ Bến Thành trước đây có bùng binh lớn, nhưng nay không còn. Ngoài ra tại công trường Mê Linh cũng từng đặt tượng Hai Bà Trưng nên con đường mang tên này (hiện nay đặt tượng Trần Hưng Đạo), và giữ cho đến ngày nay, minh chứng cho sức bền của ký ức đô thị…

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cũng ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt của thành phố này, có thể kể đến như vào dịp Tết không kẹt xe, không gian trở nên tĩnh lặng. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, ông cũng ghi được hình ảnh núi Bà Đen quan sát được từ trung tâm thành phố, nơi chỉ số ô nhiễm giảm mạnh vì thực hiện giãn cách xã hội… Ngoài ra ông cũng gắn liền với những bức ảnh chụp các ngôi trườngsở hữu kiến trúc Pháp, như trường Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Lê Hồng Phong…

Từ những trải nghiệm đó nhiếp ảnh gia Minh Hòa khẳng định rằng: “Nhiếp ảnh không chỉ là ghi hình mà là kể chuyện. Khi hiểu và kể lại câu chuyện đằng sau mỗi không gian, mỗi công trình, thì người xem (dù là cư dân hay người đến từ nơi khác) đều có thể hình thành tình cảm sâu sắc hơn với thành phố này”.

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh cũng có khả năng phản ánh hiện thực đặc biệt về quy hoạch đô thị. Chẳng hạn khi chụp một loạt tượng đài, ông nhận ra và lấy làm tiếc là có những công trình dân sự vượt quá chiều cao của các di sản. Trong khi từ góc nhìn trên cao qua drone hay trực thăng, thì bên cạnh cảm xúc ngoạn mục trước cảnh quan là một nỗi buồn trĩu nặng khi những mái ngói xuất hiện xen lẫn cao ốc một cách lộn xộn, phản ánh sự thiếu nhất quán trong khâu quy hoạch qua các thời kỳ…

Như vậy có thể nhận thấy Sài Gòn – TP.HCM là một thành phố có cấu trúc giàu lịch sử, nhưng đang phải đối diện với áp lực phát triển nhanh.

Tiếng nói cộng đồng và áp lực thay đổi chính sách bảo tồn

Tại buổi tọa đàm, trả lời câu hỏi của độc giả về việc nhìn nhận vai trò của các công trình thời Pháp thuộc tạo ra dư luận mới đây, TS. Nguyễn Thị Hậu nhận định việc xem xét công bằng chỉ mới được thực hiện tương đối quy củ, khách quan trong những năm gần đây, bởi trước đó từng tồn tại quan điểm cho rằng những gì thuộc về phong kiến hay là thực dân thì “không phù hợp” với ngày hiện tại.

Bà khẳng định đó là cách nhìn có phần phiến diện, khi chỉ đặt mọi thứ trong lát cắt lịch sử đơn tuyến. Theo bà, mỗi công trình đều mang giá trị lịch sử với chính vùng đất nơi nó tồn tại. Chẳng hạn với một đô thị hơn 300 năm như Sài Gòn, thì những công trình 100 - 200 năm tuổi hoàn toàn có ý nghĩa như những “chứng nhân” của quá trình hình thành và phát triển. Do đó không thể so sánh đơn giản với các vùng có lịch sử hàng nghìn năm để rồi phủ nhận giá trị của chúng.

Không dừng ở đó, các công trình còn có giá trị kiến trúc và văn hóa. Mỗi công trình tiêu biểu cho một phong cách, một tầng lớp xã hội và một thời kỳ nhất định. Từ những ngôi nhà gỗ dân gian đến các dinh thự, biệt thự hay công trình công cộng… tất cả đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đô thị. Kiến trúc, vì thế, không chỉ là hình thức, mà còn là một phần quan trọng của ký ức văn hóa.

Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến giá trị kinh tế của di sản. Nếu được nhìn nhận, khai thác đúng cách, các công trình này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch văn hóa. Do đó, điều quan trọng không nằm ở việc giữ lại một cách thụ động, mà là sử dụng một cách phù hợp để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị.

Từ góc nhìn đó, có thể thấy việc đánh giá di sản cần bắt đầu bằng sự tôn trọng lịch sử của chính vùng đất. Dù công trình thuộc về giai đoạn nào, miễn là được xây dựng, tồn tại và gắn bó với đời sống con người ở đó, thì đã trở thành một phần của di sản. Và khi nhìn nhận như vậy, ta mới có thể thấy rõ giá trị thực sự của chúng trong dòng chảy liên tục của đô thị.

Bà cũng nói thêm trong khoảng hai thập niên gần đây, có thể nhận diện bốn nhóm tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến câu chuyện bảo tồn di sản. Trước hết là chính quyền và các cơ quan quản lý đô thị - bao gồm các sở, ngành liên quan đến di sản và cả bất động sản xung quanh. Đây là lực lượng nắm quyền quyết định về quy hoạch, cấp phép và định hướng phát triển, nên có vai trò mang tính then chốt.

Thứ hai là giới nghiên cứu và giảng dạy. Tuy vậy, bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở học thuật mà không đi ra cộng đồng. Ngoài ra, những phát hiện, tri thức về giá trị di sản cần được truyền đạt rộng rãi, để cả xã hội (trong đó có nhà quản lý) có thể hiểu được, đưa ra quyết định thận trọng hơn nữa.

Thứ ba là cộng đồng, không chỉ cư dân tại chỗ mà bất kỳ ai quan tâm đến di sản đều có quyền lên tiếng. Những câu chuyện như bảo vệ cảnh quan Hồ Tây tại Hà Nội hay các công trình tại TP.HCM gần đây cho thấy tiếng nói cộng đồng không bị giới hạn về mặt địa lý, bởi di sản là tài sản chung, nên trách nhiệm gìn giữ cũng rất rộng mở.

Nhòm thứ tư, và ngày càng có sức ảnh hưởng lớn, là các nhà đầu tư. Trước đây, nhóm này thường được xem là một phần của cộng đồng, nhưng với tác động ngày càng mạnh mẽ đến diện mạo đô thị, họ dần trở thành lực lượng riêng biệt. Mục tiêu của họ không thể khác đi chính là lợi nhuận, từ đây đặt ra vấn đề cân bằng giữa lợi ích phát triển và bảo tồn, bởi phát triển đô thị không thể tách rời giá trị di sản.

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng chính quyền, nhà quản lý và nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định, nhưng theo thời gian, tiếng nói của cộng đồng cũng đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Có thể minh chứng qua việc thay đổi màu sơn hay thiết kế cảnh quan ở chợ Bến Thành, khu vực Hồ Con Rùa… gần đây.

Từ đó có thể rút ra mỗi cá nhân đều có tiếng nói trong việc bảo vệ di sản. Nếu chỉ dừng ở sự tiếc nuối mà không lên tiếng, thì những giá trị ấy rất dễ biến mất. Ngược lại, khi nhiều người cùng quan tâm, cùng bày tỏ, tiếng nói cộng đồng sẽ tạo thành áp lực tích cực, buộc các quyết định phải được cân nhắc thấu đáo hơn nữa.

Bảo tồn, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của một nhóm riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành giữa nhiều phía. Và điều quan trọng nhất là giữ được nhận thức rằng: “Những gì còn có thể giữ lại thì cần được giữ bằng mọi cách có thể”.

Minh Anh

https://nguoidothi.net.vn/giu-gen-do-thi-truoc-ap-luc-phat-trien-52093.html




DI SẢN VĂN HÓA - TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VÀ DU LỊCH Ở ĐẶC KHU LÝ SƠN

 Trích phần cuối bài đăng  T ạ p chí Phát tri ể n Kinh t ế - Xã h ộ i Đ à N ẵ ng [ISSN 1859-3437], số 194 (02-26) tr 25-31 Tóm tắt Hệ thốn...