Giữ cho lòng nhân trong sáng


            Có những giá trị truyền thống không mất đi, nhưng trong bối cảnh xã hội mới có thể bị thay đổi ít nhiều, nhất là biểu hiện của nó. Lòng nhân ái của người Việt là một giá trị như thế. Trong dòng chảy gấp gáp của đời sống hiện đại và dưới sự soi chiếu của mạng xã hội, chúng ta buộc phải đặt ra một câu hỏi “làm thế nào để lòng nhân ái tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển đúng với bản chất của nó”?

Nhân ái là một truyền thống hơn là một phong trào

Nhân ái trong văn hóa Việt Nam là một truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác, bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày, bằng những hành xử tử tế khi hữu sự. Lòng nhân ái thường giản dị, thầm lặng, không phô trương, không hô hào lớn tiếng. Nó như dòng sông chảy mãi được tiếp thêm từ những nguồn mạch của đời sống. Sự nhân ái bắt đầu từ lòng trắc ẩn “thương người như thể thương thân”, biết cảm nhận nỗi đau, sự thiệt thòi, biết nhận ra sự thiếu thốn, cùng quẫn của người khác. Từ đó có những chia sẻ nhỏ bé mà ấm áp “một miếng khi đói bằng một gói khi no", bằng thói quen giúp nhau khi “tối lửa tắt đèn”, bằng sự im lặng rất tự nhiên sau mỗi lần cho đi, bằng một nụ cười cảm thông mỗi khi chìa tay giúp đỡ.

Người Việt Nam từ lâu hiểu rằng, giúp người không chỉ là trao đi vật chất, mà còn là giữ gìn cảm giác an toàn và lòng tự trọng người được giúp. Vì thế, lòng tốt thường kín đáo, không cần sự chứng kiến và tung hô của đám đông. Thậm chí, lòng nhân ái còn ngại ngần trước “sự biết ơn” và ca ngợi thái quá, bởi như vậy là biến lòng nhân ái, sự tử tế thành “bất thường”, hạ thấp cả người trao tặng và người tiếp nhận. Vì thế, Nhân ái ở đây là một hành vi văn hóa chứ không phải một hành động khác thường để gây chú ý.

Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã mang đến cho lòng nhân ái một không gian mới. Bên cạnh không gian truyền thống là “đời thực”, lòng nhân ái còn hiện diện trên một không gian mới: “mạng ảo mà không ảo”. Chưa bao giờ việc kêu gọi và kết nối sự giúp đỡ lại nhanh và rộng rãi như hôm nay. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng nghìn người xa lạ có thể cùng chung tay vì một hoàn cảnh khó khăn. Nhưng cũng từ đây, những việc làm xuất phát từ lòng nhân ái bắt đầu bước vào “vùng ánh sáng mạnh”: Những con số, hình ảnh, lời kể, sự theo dõi của cộng đồng với nhiều trường hợp khiến lòng nhân ái đứng trước lằn ranh mong manh giữa việc giúp người hoạn nạn với sự thử thách lòng tin của con người. Những câu chuyện gây băn khoăn về hoạt động từ thiện trong thời gian gần đây có thể xem như những “vệt mờ” trong quá trình chuyển biến của “môi trường từ thiện”. Chúng không đủ để phủ nhận truyền thống nhân ái, nhưng đủ để nhắc nhở rằng lòng tốt cũng có thể bị lợi dụng và tổn thương.

Lòng nhân ái trở thành một hiện tượng xã hội luôn được theo sát, đánh giá, so sánh… mà bên cạnh sự khách quan nhìn nhận cũng không thiếu những chủ quan và thiên kiến. Nhận thức được sự thay đổi này thì cả ở người trao tặng sự tử tế và người nhận được đều cần có một ý thức văn hóa cao hơn, ứng xử ăn hóa phù hợp hơn. Bởi vì, điều làm xã hội trăn trở không hẳn là đúng, sai của từng câu chuyện cụ thể, mà là cảm giác bất an: liệu nhân ái có đang bị đặt nhầm chỗ? liệu sự giúp đỡ có còn giữ được sự t tế vốn có? Khi sự nghi ngờ len vào cả những hành động thiện chí, khi lòng tốt liên tục bị đòi hỏi phải tự chứng minh, thì đó là dấu hiệu cho thấy niềm tin vào lòng nhân ái đang bị lung lay, cần được bảo vệ và chăm sóc lại.

Lòng nhân ái là niềm tin vào con người

Lòng nhân ái ở người Việt Nam không chỉ là đạo đức mà đó còn là một cơ chế tự bảo vệ xã hội, được hình thành qua quá trình lịch sử luôn phải đối phó với thiên tai, chiến tranh và đói nghèo. Hàng ngàn năm trôi qua với bao cơn lũ lụt bao kỳ hạn hán, hàng chục cuộc chiến tranh kéo dài ác liệt gây ra bao biến động xã hội, nền kinh tế nông nghiệp chịu rủi ro cao trước sự bất thường của thời tiết... Trong bối cảnh đó không có lòng nhân ái thì cộng đồng không thể tồn tại được, bởi vì giúp người hôm nay” cũng là “cứu mình ngày mai”. Lòng nhân ái không viển vông trìu tượng xuất phát từ thực tế và có giá trị thực tiễn.

Là “bản năng cộng đồng” nên truyền thống nhân ái tồn tại bền bỉ qua những biến động lịch sử. Mỗi xã hội đều có những giá trị cần được bảo vệ bằng sự tỉnh táo và công bằng. Với người Việt Nam, nhân ái là một giá trị quý giá như vậy. Giữ cho lòng nhân ái được bình yên vì nó không cần được thổi phồng hay tô màu lòe loẹt, cần được trả về đúng không gian văn hóa của mình: lặng lẽ, bền bỉ và chân thành. Tuy nhiên, để ngăn ngừa và loại trừ một vài cá nhân đã lợi dụng hoàn cảnh và niềm tin của các nhà hảo tâm, lòng nhân ái cũng cần có những “điều kiện” nhất định để đảm bảo cho lòng nhân không bị biến dạng và giữ vững niềm tin vào con người: Trong thời đại internet, lòng nhân ái cần là hành xử trên nền tảng văn hóa và luật pháp của nhà nước, không chỉ là cảm xúc bộc phát, nhất thời.

Có lẽ it người nói điều này, đó là hành xử nhân ái là để người được giúp không thấy mình bị mang ơn mắc nợ, nhưng ngược lại cũng không nên coi sự giúp đỡ mình là “đương nhiên”, là nghĩa vụ của người khác. Người tốt dễ mở lòng nhưng rất nhạy cảm với sự giả dối, họ sẵn sàng giúp đỡ nhưng không ai muốn không bị lợi dụng, không chấp nhận bị coi thường. Đặc biệt, những người “trung gian” giữa người giúp và người được giúp càng cần lòng trung thực và sự minh bạch. Họ là cây cầu nối của những tấm lòng, vì vậy nếu cây cầu “mục nát” thì hậu quả khôn lường! Khi lòng tốt của cộng đồng bị biến thành công cụ đánh bóng tên tuổi cá nhân hay một tổ chức nào đó, khi nỗi đau của người khác bị biến thành công cụ kiếm lợi bất chính thì xã hội sẽ phản ứng. Sự “khủng hoảng niềm tin” làm xã hội có những phản ứng khôn lường.

***

Lòng nhân ái là giá trị và hành xử cần được bảo vệ chứ không chỉ được ca ngợi. Nó cần được nuôi dưỡng bằng sự tử tế chứ không bằng lời tung hô. Sau những ngày thiên tai nặng nề ở miền Trung vừa qua, khi nhìn lại những hoạt động cứu trợ của xã hội, có lẽ điều dễ nhận thấy nhất là lòng nhân ái của nhân dân ta vẫn vẹn nguyên và trong sáng, thực sự là một di sản quý báu! Giữ cho nhân ái được trong sạch bắt đầu từ niềm tin vào con người, đó không chỉ là trách nhiệm của những tổ chức hay cá nhân làm từ thiện, mà là trách nhiệm và văn hóa ứng xử của cả cộng đồng. Bởi một xã hội mất niềm tin vào lòng tốt là một xã hội đang nghèo đi về nhân cách!

  Nguyễn Thị Hậu

BÁO XUÂN BÍNH NGỌ 2026 NGƯỜI LAO ĐỘNG




 

TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ

https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm 

Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.

Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.

Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên ông bà, cha mẹ và người thân.

Khi đứng trước ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu. Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ... Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy, tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ, mà là cách mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.

Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới của tổ tiên. Việc đến các nghĩa trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di sản.

Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn như một sự “đề kháng văn hóa, khi mà các nghi lễ truyền thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực tiếp và cảm xúc của từng gia đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.

Tảo mộ trước hết là để tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn hóa giúp người còn sống trở nên hướng thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông cha.  

Nguyễn Thị Hậu






 


ĐÔ THỊ CỦA AI?

 HIẾN KẾ: Thay vì sơn màu lòa loẹt ở trước chợ Bến Thành, xin tặng cho đơn vị tài trợ chỉnh trang thành phố 2 ý tưởng:

1/Cầu Mống là nơi rất cần rực rỡ để tạo sự thu hút hấp dẫn và giá trị di sản cao hơn, trong khung cảnh của khu vực. (hình mình nhở AI làm thử) 🙂
2/ Trong số các vườn hoa /công viên đang được thực hiện, nên dành 1,2 nơi để làm các VƯỜN TƯỢNG cho các nghệ sĩ trẻ, sinh viên các trường nghệ thuật có nơi trưng bày tác phẩm của mình. Tạo nên sự đa dạng và tăng thêm sự tham gia của cộng đồng!
Bản quyền Hậu khảo cổ 🙂





Ý kiến bạn Tạ Duy Linh:
Hiến kế và đề xuất này mang tính thiết thực, bởi chúng không dừng lại ở thẩm mỹ hay biểu tượng, mà can thiệp trực tiếp vào điều kiện sản sinh văn hoá trong không gian công cộng.
Theo đó, khi Cầu Mống được tái sử dụng thông qua nghệ thuật, và khi nghệ sĩ trẻ được trao không gian hiện diện, thành phố không “trình diễn” văn hoá, mà cho phép nhiều thực hành khác nhau cùng tồn tại, cùng va chạm.
Ở góc độ du lịch, giá trị không nằm ở việc tạo thêm điểm đến, mà ở việc du khách bước vào một bối cảnh đang vận hành; nơi họ là người quan sát tạm thời của các quá trình xã hội, chứ không phải người tiêu dùng hình ảnh.
Đó là một dạng du lịch hiếm, bởi nó không thể sao chép, không thể dàn dựng, và cũng không thể tăng trưởng bằng khẩu hiệu.




Một bài viết xác đáng! CUỐI CÙNG VẪN LÀ TRẢ LỜI CÂU HỎI: ĐÔ THỊ CỦA AI?
"Vậy khi một đô thị bị “Disneyland hóa”, ai là người mất nhiều nhất? Không hẳn là du khách. Họ đến, chụp ảnh, rời đi và mang theo một ấn tượng nhất thời. Không hẳn là chính quyền hay đơn vị thực hiện dự án, bởi mục tiêu làm mới hình ảnh, tạo sự chú ý ngắn hạn vẫn đạt được. Người mất nhiều nhất chính là cư dân đô thị, những người sống cùng không gian đó mỗi ngày.
Họ mất dần những khoảng không gian để lắng lại, để cảm nhận sự tiếp nối của thời gian. Họ mất dần những biểu tượng có khả năng nuôi dưỡng niềm tự hào bền vững, thay vào đó là những hình ảnh thay đổi liên tục theo thị hiếu. Và về lâu dài, đô thị mất đi khả năng tích lũy ký ức tập thể, thứ làm nên chiều sâu văn hóa của một thành phố".





SÂN KHẤU KỊCH NÓI KIM CƯƠNG - MỘT “DI SẢN ĐÔ THỊ”

 Nguyễn Thị Hậu

Di sản văn hóa đô thị không chỉ là những công trình vật chất – văn hóa vật thể, mà còn là những di sản phi vật thể, trong đó có những ký ức, thực hành văn hóa và trải nghiệm sống của cộng đồng. Với Sài Gòn, một đô thị trẻ nhưng nhiều biến động, tổng thế những ký ức ấy được lưu giữ không chỉ trong văn chương hay báo chí, điện ảnh, mà còn rất đậm nét trong sân khấu kịch nói.
Khác với các loại hình sân khấu truyền thống mang tính ước lệ cao, kịch nói xuất hiện ở Sài Gòn như một nhu cầu tự nhiên của đời sống đô thị hiện đại. Đó là nơi con người nói bằng ngôn ngữ đời thường, đối diện trực tiếp với những vấn đề của xã hội, từ đó bộc lộ những xung đột nội tâm cá nhân. Sài Gòn với đặc trưng là một đô thị mở, đa tầng đa dạng, sớm hình thành một lớp công chúng yêu thích sự đối thoại, thích suy ngẫm và sẵn sàng tiếp nhận những câu hỏi đạo đức mà kịch nói đặt ra. Kịch nói ở đây không tìm cách trở thành diễn đàn hô khẩu hiệu, mà là không gian để con người tự soi chiếu chính mình. Những câu chuyện gia đình, chiến tranh, thân phận người phụ nữ, lựa chọn cá nhân giữa biến động xã hội… trở thành chất liệu chủ đạo.
Trong điều kiện xã hội nói chung và bối cảnh nghệ thuật sân khấu Sài Gòn nói riêng, Kịch nói Kim Cương đã song hành với đô thị Sài Gòn trong một giai đoạn nhiều biến động. Ở không gian và thời gian đó, đời sống thị dân được phản ánh không qua những sự kiện lớn, mà qua những câu chuyện nhỏ, những xung đột gia đình, những thân phận con người phải lựa chọn giữa bổn phận và khát vọng cá nhân. Chính những câu chuyện tưởng như rất riêng ấy lại tạo nên ký ức chung của đô thị, bởi đô thị, suy cho cùng là được cấu thành từ số phận của vô số cá nhân bình thường.
Những vở kịch nói Kim Cương đã lưu giữ ký ức đô thị bằng ngôn ngữ, giọng nói và cảm xúc. Đó là giọng nói của Sài Gòn: giản dị, thẳng thắn, giàu lòng trắc ẩn. Đó là cách người Sài Gòn đối diện với bi kịch không bằng sự bi lụy mà bằng tính nhân văn, có khi bằng một câu nói “cà rỡn”, một nụ cười dịu dàng làm nhẹ đi những đau đớn, những xung đột gay gắt. Lời thoại trong các vở kịch gần gũi, đậm khẩu khí Nam Bộ. Đó là thứ ngôn ngữ không trau chuốt cầu kỳ nhưng giàu sức gợi cảm xúc, giúp khán giả nhận ra giọng nói quen thuộc của đô thị mình đang sống. Ngôn ngữ ấy khiến sân khấu Kim Cương không tạo khoảng cách với công chúng. Khán giả không chỉ “xem” kịch, mà như đang nghe lại những câu chuyện của chính mình, của gia đình mình, của xã hội mình từng trải qua. Chính điều này làm cho ký ức đô thị trên sân khấu trở nên sống động và tồn tại bền bỉ. Những buổi tối đi xem kịch, những giọt nước mắt rơi trong im lặng của khán giả, những tràng vỗ tay không dứt, cả những khoảng lặng của mỗi người khi rời khỏi rạp hát... tất cả hợp thành một trải nghiệm đô thị đã từng rất quen thuộc, rất Sài Gòn.
Có thể nhận thấy “tinh thần kịch nói Sài Gòn” một nét rất riêng, đó là nhân vật và khán giả cùng một “tầng cảm xúc”, cùng suy ngẫm, khán giả không ở thế “bị động” do diễn viên dẫn dắt bằng những thông điệp cao siêu, khô cứng. Các câu chuyện vì thế không áp đặt, mà được truyền đi một cách tự nhiên, thấm dần vào cảm xúc người xem. Và sau mỗi đêm khi đi xem kịch Kim Cương về, mỗi người đều thấy yêu thương con người hơn, cảm thông hơn với những số phận không may, và hy vọng về một ngày mai tốt đẹp hơn.
Nhìn từ góc độ văn hóa đô thị, Nghệ sĩ Kim Cương là một trong những người có đóng góp quan trọng trong việc lưu giữ ký ức tinh thần của đô thị Sài Gòn. Sân khấu của bà thể hiện những lát cắt đời sống, những tâm trạng xã hội và những câu hỏi đạo đức mà đô thị này từng đối diện. Có thể nói, sân khấu kịch nói Kim Cương là nơi ký ức đô thị Sài Gòn được kết tinh thành nghệ thuật. Ở đó, con người Sài Gòn đã từng cười, khóc, suy ngẫm về chính mình qua những câu chuyện rất đời, rất thật.
Trong dòng chảy lịch sử sân khấu miền Nam, giá trị di sản của sân khấu Kim Cương không nằm ở việc bảo tồn một mô hình sân khấu cụ thể, mà ở việc nhận diện và gìn giữ một lớp ký ức văn hóa của các thế hệ thị dân. Đó là ký ức về cách một đô thị từng tự kể câu chuyện của mình, từng suy ngẫm về chiến tranh, về gia đình, về người phụ nữ, về nhân tính con người thông qua nghệ thuật kịch nói. Hiện nay, khi những không gian biểu diễn kịch nói, cải lương đang vắng dần, thậm chí có nguy cơ biến mất, trong nhịp sống đô thị ngày càng gấp gáp, cư dân ngày càng biến động, con người dường như ngày càng xa nhau... những ký ức ấy càng trở nên mong manh.
Việc nhìn nhận sân khấu kịch nói Kim Cương như một di sản đô thị không chỉ mang ý nghĩa tri ân một nghệ sĩ, một đoàn hát hay một giai đoạn sân khấu, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ ký ức tinh thần của đô thị, thứ ký ức không nằm trong bảo tàng, mà sống trong ký ức cộng đồng.
Đó là loại di sản không hiện hữu bằng hình khối, không đo đếm bằng niên đại, mà tồn tại trong ký ức tập thể của người xem, trong cảm xúc đã từng được cộng hưởng và chia sẻ giữa sân khấu và khán giả.
Đó là thứ di sản chỉ có thể được tiếp nối bằng sự ghi nhớ, bằng nghiên cứu, bằng việc duy trì các “sân khấu kịch nói TP. HCM” mang hơi thở, suy nghĩ của “người Sài Gòn”, và bằng sự trân trọng của các thế hệ sau đối với những giá trị nhân văn đã từng làm nên bản sắc Sài Gòn!
----





CON NGƯỜI – VỐN QUÝ NHẤT CỦA TP. HỒ CHÍ MINH

 Báo SÀI GÒN GIẢI PHÓNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026

Nguyễn Thị Hậu

Nhìn từ trên cao, Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên như một cơ thể đang không ngừng chuyển động. Sông Sài Gòn là điểm tựa để thành phố vươn ra biển Đông. Hệ thống chi lưu, phụ lưu của nó cùng hàng ngàn kênh rạch lớn nhỏ tạo thành mạng lưới thông thương từ lâu đời. Ngày nay, hệ thống đường giao thông, tuy còn chưa đáp ứng nhu cầu nhưng đã kết nối dày đặc như mạch máu của đô thị. Trên không gian rộng lớn đó, những con người thành phố đã tạo ra nhịp sống sôi động không ngừng, những câu chuyện chan hòa, tử tế, rất bình dị mà chan chứa tình người.

Từ “vùng đất mới” đến “người Sài Gòn” cởi mở, nghĩa tình

Sài Gòn từ khi hình thành đến nay luôn vùng đất mở. Từng đoàn lưu dân từ mọi miền đất nước đã tìm đến đây trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Họ mang theo lối sống, tập quán, tín ngưỡng từ quê hương, mang cả nỗi lo mưu sinh và khát vọng sống mới. Từ hành trình đó đã hình thành những lớp người có chung tố chất đặc biệt: dám đi để mở rộng tầm mắt, dám làm những điều mới mẻ, vừa biết dung hòa những khác biệt và sẻ chia cơ hội làm ăn với nhau. “Người Sài Gòn” ra đời t nguồn gốc ấy. Sài Gòn trở thành “đất lành chim đậu”.

Hơn 300 năm qua Sài Gòn không còn là “vùng đất mới”. Quá trình khai khẩn này đã biến vùng đất hoang vu thành làng xóm đông đúc, bến sông tấp nập. Từ đó đô thị Sài Gòn được hình thành, những đoàn lưu dân người Việt, người Hoa và các cộng đồng khác đã cùng dựng phố, lập chợ, xây dựng hãng xưởng, trường học, bệnh viện, bến cảng nhà kho... Bao lớp người không chỉ đổ mồ hôi, máu và nước mắt để xây dựng thành phố mà còn truyền lại tinh thần khai phóng, sáng tạo và bao dung của “người Sài Gòn”.

Đó chính là  “vốn quý nhất của Thành phố Hồ Chí Minh”. Vốn quý ấy nằm trong chất người Sài Gòn – năng động, dám nghĩ điều mới, dám làm điều khác, dám vượt qua những rào cản định kiến, bảo thủ, luôn hướng tới hiệu quả của “công chuyện làm ăn” mà vẫn giữ được nghĩa khí và lòng trắc ẩn.

Người Sài Gòn không phân biệt “gốc gác” mà coi trọng cách hành xử. Dù là ai từ đâu đến, cao sang hay nghèo hèn, nhưng nếu ứng xử chính trực, nghĩa tình thì nghiễm nhiên trở thành “người Sài Gòn”. Nghĩa tình là luôn giúp nhau khi hữu sự, ai gặp khó khăn cũng nhận được sự chia sẻ ít nhiều. Từ chuyện bình trà đá miễn phí bên đường đến bữa cơm 2 ngàn, bữa “cơm treo” trong các quán ăn cho người thiếu đói, rồi hàng năm bão lũ ngoài Trung, ngoài Bắc cả thành phố cùng góp công góp của cứu trợ khẩn trương. Đặc biệt trong Đại dịch covid-19 đã có hàng ngàn bếp ăn thiện nguyện mọc lên; hàng trăm sáng kiến khắc phục khó khăn cứu giúp người bệnh, trợ giúp các nhân viên y tế, người dân giúp nhau từ bó rau cân gạo đến từng bình oxy... “Sài Gòn bao thương” là một truyền thống được bồi đắp qua hàng trăm năm trên mảnh đất này.

Ngày nay, nhịp sống hiện đại và có phần xô bồ làm nhiều người lo rằng những giá trị ấy sẽ phai nhạt dần. Nhưng mỗi khi thành phố gặp thử thách – như đợt dịch bệnh khốc liệt vừa qua – con người Sài Gòn lại chứng minh họ vẫn là “vốn quý”, là sức mạnh giúp thành phố đứng vững và hồi sinh. Không chỉ bằng lòng trắc ẩn mà bằng năng lực tổ chức, tinh thần tự nguyện và sự sáng tạo trong hành động.  

 Năng động và sáng tạo – “người Sài Gòn” mang bản sắc của thời đại mới

Nếu “nghĩa tình” là đôi chân vững vàng, thì “năng động – sáng tạo” là đôi tay tài năng của người Sài Gòn. Trong hơn 300 năm hình thành, chưa bao giờ Sài Gòn ngừng biến chuyển. Từ thương cảng Bến Nghé xưa đến đô thị thông minh hôm nay, thành phố luôn là “cái nôi” của đổi mới từ kinh tế đến văn hóa – xã hội. Người Sài Gòn không ngại thay đổi. Họ có thể vừa bán hàng rong vừa livestream; vừa làm nông dân vừa trở thành nhà sáng chế nhỏ; vừa giữ phong tục cũ vừa tiếp nhận lối sống mới một cách tự nhiên.

Luôn thực tế, linh hoạt và dũng cảm “dám làm dám chịu”, hành trình đổi mới bắt đầu từ tư duy “có thể làm được”. Chính vì thế, “phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, sáng tạo của khu vực” không chỉ về những dự án hạ tầng hay khu công nghệ cao, mà trước hết là nuôi dưỡng những thế hệ cư dân mang bản sắc tốt đẹp của Người Sài Gòn, có tri thức, có tinh thần cộng đồng, có bản lĩnh hội nhập mà không đánh mất mình.

Trong thời đại “hiện đại hóa - đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, Sài Gòn đối mặt với nhiều thách thức: phá hủy di sản, mất mảng xanh và không gian công cộng, quá tải giao thông, ngập nước, chênh lệch giàu nghèo, áp lực di dân... Nhưng điều đáng lo ngại hơn chính là nguy cơ đánh mất con người Sài Gòn”, khi mà lối sống thực dụng và cạnh tranh bất chấp trở thành “bài học làm giàu”, khi mức độ tiền bạc là “thước đo” giá trị con người, khi nghi kỵ và định kiến làm phai nhạt nghĩa khí và sự bao dung...  Đấy là dấu hiệu cho thấy sự suy giảm những giá trị tốt đẹp vốn là nền tảng phát triển của thành phố này.

Nhìn lại hành trình hơn ba thế kỷ, ta thấy rõ: dù trải qua bao biến động, từ chiến tranh đến hòa bình, từ khủng hoảng đến phục hồi, thì con người Sài Gòn luôn là yếu tố quyết định. Chính họ đã biến đô thị này trở thành một thành phố năng động bậc nhất cả nước; chính họ đã biến những khó khăn thành cơ hội, biến thử thách thành động lực để đi tới. Vì thế mỗi khi nói về Sài Gòn, điều làm người ta nhớ đến đầu tiên là con người nơi đây, những con người làm nên tất cả bằng tinh thần quyết liệt mà phóng khoáng, thực tiễn mà nhân hậu, bao dung.

Đồng thuận lòng người làm nên tương lai thành phố

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) sau sáp nhập có khoảng 14 triệu dân. Tại buổi bế mạc Đại hội đảng bộ TP.HCM nhiệm kỳ I (2025 – 2030), đồng chí Bí thư Thành ủy có nói đại ý: con người TP.HCM chính là nguồn lực tinh thần vô giá của thành phố.

 Ngay sau đó sự quan tâm đến “nguồn lực con người” đã được cụ thể hóa. Vừa qua, Thường trực Thành ủy đã thống nhất chủ trương dừng dự án thương mại tại khu vực Bến Nhà Rồng để quy hoạch thành công viên, kết hợp mở rộng đường Nguyễn Tất Thành và phát triển các dịch vụ công cộng, tạo không gian sinh hoạt văn hóa ven sông, kết nối với trung tâm thành phố. Cùng với đó là khu đất số 1 Lý Thái Tổ trước là Nhà khách chính phủ, nay sẽ được chỉnh trang thành công viên đa năng, nơi đặt tượng đài tưởng niệm người dân TP.HCM mất vì đại dịch COVID-19, tăng diện tích không gian xanh, giảm áp lực giao thông và tạo điểm nhấn văn hóa giữa trung tâm.

 Quyết định giữ lại hai không gian cảnh quan đô thị tiêu biểu và đậm nét ký ức của người Sài Gòn là hiện thực hóa sự trân trọng những con người đã góp phần quan trọng cho sự sinh tồn và phát triển thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh “văn minh – hiện đại – nghĩa tình” thì nghĩa tình” chính là đặc trưng của người Sài Gòn, là chiều sâu lịch sử - văn hóa của thành phố. Nếu thiếu bản sắc độc đáo riêng có này thì văn minh hiện đại chỉ là cái vỏ bên ngoài của một thành phố vô hồn.

Con người Sài Gòn - vốn quý của TP.HCM luôn phải là trung tâm của mọi chính sách, là chuẩn mực phong cách và hiệu quả lãnh đạo thành phố. Khi Con người và Văn hóa Sài Gòn được thấu hiểu và trân trọng thì truyền thống đổi mới, tiên phong đột phá từ vùng đất này sẽ được duy trì và phát huy mạnh mẽ, Thành phố HCM sẽ phát triển hài hòa và bền vững. Bởi vì, như nhận định của các nhà nghiên cứu xã hội đô thị, “không phải những con đường, không phải những tòa nhà cao tầng, mà chính con người mới là linh hồn của một thành phố”.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 11.2025




Giữ cho lòng nhân trong sáng

            Có những giá trị truyền thống không mất đi, nhưng trong bối cảnh xã hội mới có thể bị thay đổi ít nhiều, nhất là biểu hiện của...