https://tinhhoavietawards.vn/
Rất vui được tham dự Lễ công bố giải Tinh Hoa Việt và cùng anh Nguyễn Ngọc Hồi Giám đốc Sở TT.TT TP cùng trao giải cho hạng mục Di sản văn hóa.
Đi và tìm trong đất... thấy người :)
https://tinhhoavietawards.vn/
Rất vui được tham dự Lễ công bố giải Tinh Hoa Việt và cùng anh Nguyễn Ngọc Hồi Giám đốc Sở TT.TT TP cùng trao giải cho hạng mục Di sản văn hóa.
Nguyễn Thị Hậu
Không biết từ bao
giờ khi nói về miền Tây Nam bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) thì tính cách của
con người nơi đây luôn được gắn với những từ như hào sáng, phóng khoáng, rộng
rãi, nghĩa khí… Chắc không phải do người miền Tây tự nói về mình, mà thường là nhận xét từ góc
nhìn của người “bên ngoài” với sự trân trọng và thấu hiểu. Những tính cách đó được hình
thành một cách tự nhiên từ điều kiện thiên nhiên, theo lịch sử khai khẩn và trong
đời sống cộng đồng. Nó được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ người miền Tây, lưu truyền qua nhiều
biến đổi của thời cuộc và được coi là một hệ giá trị nhân văn sâu sắc của đất
và người miền Tây.
Hào sảng là tấm lòng rộng như sông nước và sẵn sàng sẻ chia
Miền Tây là vùng đất
cuối của dòng Mê Kông vĩ đại. Chảy qua hàng ngàn cây số núi cao rừng thẳm, qua
bao thác ghềnh hung dữ, để rồi về đến miền Tây Nam bộ là dòng Cửu Long hiền hoà
bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn. Dòng sông của mùa nước nổi tràn bờ, của
nhịp điệu ngày hai lần nước lớn nước ròng, của tiếng bìm bịp kêu chiều khắc khoải, của giề lục bình lờ
lững tím ngát trôi xuôi… Bầu trời miền Tây chói chang mùa nắng, sầm sập cơn
giông mùa mưa, lấp lánh hàng triệu vì sao những đêm trời cao trong vắt…
Trên vùng đồng bằng sông Cửu Long từ hàng trăm ngàn kinh rạch chằng chịt đan xen với nhau đã
kết nối những con người xa xứ cùng tạo dựng xóm làng. Hàng trăm kinh đào lớn nhỏ bằng sức lực người
miền Tây để thoát nước rửa phèn nuôi dưỡng những cánh đồng lúa vàng những vườn
cây trái ngọt… Không gian miền Tây rộng rãi, đồng ruộng miền Tây mênh mông nào
phải tự nhiên mà có? Nó được hình thành từ những bước chân giẫm đạp lên gai góc sình lầy, những đôi tay chai sần cầm
leng cầm cuốc, từ mồ hôi, máu và nước mắt của hàng triệu người nghèo khó, tội đồ, sa cơ thất thế, của cả những
người có chí làm ăn dám thử sức mình ở “vùng đất mới”.
Người miền Tây không
quen “đóng cửa khép lòng”, họ sống như dòng nước cứ chảy, cứ cho đi. Rạch nhỏ
ra rạch lớn, rạch lớn ra sông, sông nhỏ ra sông cái… Dòng sông Cửu Long nhận nước từ đầu nguồn
rồi chảy ra biển cả, hàng năm bồi đắp từng lớp phù sa mới cho đồng bằng thêm màu mỡ để rồi nhận lại những vụ mùa vàng. Ở miền Tây khi có ai ghé nhà, dù quen hay lạ cũng được mời bữa cơm, ly
nước và có thể tá túc qua đêm thậm chí vài ngày mà không bị hỏi han dòm ngó.
Mỗi mùa nước nổi, hàng xóm giúp nhau sửa nhà cửa thêm chắc chắn, cứu đồ đạc lúa
má, đóng giúp chiếc xuồng “năm quăng” để có cái mà kiếm ăn trong cơn nước lũ…
Những việc làm không cần tính công xá, không ai coi là “làm ơn” mà cũng không
ai quên giúp lại người khác mỗi khi hữu sự. Bởi vì đó lẽ tự nhiên của tình
người.
Sống và lao động
trong điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù như thế, con người ở đây dần hình
thành tâm thế hào sảng, hành xử rộng rãi, bao dung, như dòng sông như bầu trời
nào của riêng ai… Không gian rộng rãi khoáng đạt đưa tầm mắt người miền Tây xa
hơn những “cánh đồng chó ngáp”, đưa nghĩ suy của người miền Tây vượt ra khỏi tâm
thức truyền thống ngàn năm trong “luỹ tre làng”, để người miền Tây có thể nhìn khác, nghĩ
khác và làm khác. Người miền Tây lao động và chiến đấu như một lẽ thường tình,
dù ai có nói “miền Tây được thiên nhiên ưu đãi” thì người miền Tây cũng chỉ
cười mà rằng, “ờ, ông trời không cho làm sao mình có”?
Lối sống “thuận thiên” làm nên sự an nhiên, lao động hết
mình tạo nên lòng tự trọng. Sự hào sảng của người miền Tây bắt nguồn từ đó.
Hào sảng ở tinh thần lạc quan và sự bộc trực, chân thành trong ứng xử
Cuộc sống miền Tây
gắn với thiên nhiên, vốn dĩ nhiều rủi ro khi lũ về, nước dâng, mùa vụ có khi mất trắng. Lại có năm nước kém đất phèn
mặn, hạn hán ruộng khô nứt nẻ… Nhưng lạ thay, người miền Tây vẫn luôn giữ nụ
cười lạc quan. Đó chính là cái “hào sảng tinh thần” vì tin rằng ngày mai vẫn có
cái để làm, để ăn, để sống. Hào sảng ở đây là sống cởi mở, không bi lụy, biết
buông bỏ cái khổ, tin vào điều lành. Đó không phải là sự “vô lo” mà biết lo ít đi để sống trọn
hơn, “biết đủ là đủ”. “Trời sinh voi, sinh cỏ” là câu người miền Tây thường nói, nhưng nói vậy không phải
để ỷ lại mà để nhắc với nhau một niềm
tin: nếu mình sống tử tế, trời đất không nỡ phụ người. Vì vậy, người miền
Tây không hay than nghèo kể khổ, ai cũng khó như mình than thở ích gì, hãy cùng kiếm công chuyện làm ăn
chứ đừng ngồi đó mà than thở.
Sống với tấm lòng
nhân hậu và giản dị, luôn phải đối phó
với khó khăn của thiên nhiên và xã hội, người miền Tây thiên
về hành động thực tiễn hơn là lý luận bằng lời. Sự hào sảng không chỉ ở thái độ mà là việc làm không toan tính, cần thì làm ngay: mua vài tờ vé số là giúp người
bán có một bữa ăn, thấy việc sai trái thì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng
tha”. Nhưng hành xử cũng đầy lòng trắc ẩn: có xung đột thì luôn bênh vực người yếu thế trước, rồi “hạ hồi phân giải” phải quấy tính
sau. Lỡ “đụng độ” nhưng khi
đã tỏ tường phải trái thì “làm một ly” để bỏ qua, tha thứ, không “nhớ lâu thù dai” vì như vậy
ai chơi với mình? Hào sảng từ nội tâm nhờ không chất chứa hận thù, không nhỏ
nhen cố chấp.
Người miền Tây không
thích “làm màu”, cũng không thích tranh luận hơn thua. Trong câu chuyện thường
ngày, họ dùng tiếng cười để hóa giải mâu thuẫn, dùng cách nói nhẹ nhàng thân mật để khuyên răn nhau: “thôi, bỏ đi Tám” là xong, không để bụng. Hào sảng là
“biết quên” những điều nhỏ nhặt, giữ cho lòng nhẹ và tình người bền. Người miền
Tây nói năng thẳng thắn, thật bụng, không “vòng vo tam quốc” mà nghĩ sao nói vậy, “ghét nói ghét, thương nói thương”. Sự bộc trực ấy đôi
khi làm người nơi khác cho là “tự nhiên quá” hay “thiếu tế nhị”, nhưng thật ra
là sự chân thành không khách sáo. Cách nói trực diện, thẳng thắn cũng làm cho thế lực cường quyền “khó
chịu”, nhưng đó là sự thể hiện nghĩa khí trước uy
quyền. Hào sảng ở người miền Tây còn
là sự công bằng chính trực.
Miền Tây là nơi dừng chân sau cùng trong hành trình mở đất của người Việt. Những lớp cư dân đi khẩn hoang phải dựa vào nhau mà sống, giúp nhau lao động
sản xuất, đoàn kết chống thú dữ. Không chỉ vậy, họ còn phải hoà hợp với cư dân
bản địa, học kinh nghiệm làm ăn trồng trọt, đồng thời cởi mở trong giao lưu văn hoá. Sự
liên kết cộng đồng mạnh mẽ
đã tạo ra đặc trưng “văn hóa mở”: ai cũng được chấp nhận, ai cũng có thể bắt đầu tại đây, chấp nhận những điều mới mẻ, dám làm dám chịu, không sợ sai và sửa sai nhanh… Những khác biệt không bị phán xét
mà được dung nạp để rồi từ từ hoà nhập. Chính từ đó, hào sảng trở thành tính cách cộng đồng chứ không chỉ là một vài cá nhân. Tuy nhiên tính cách này kết tinh ở nhiều nhân vật
lịch sử đã trở thành đại diện cho người miền Tây.
Hào sảng làm nên hồn cốt và tâm thế tự do
của người Nam
Bộ
Tính cách hào sảng
của người miền Tây là kết tinh của đất – nước – người trải qua một quá trình lịch sử và vượt qua biết bao
thử thách từ thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội. Sự hào sảng giúp kết nối những
con người một cách chân thành, tạo nên sức mạnh giúp họ đi
qua khó khăn, giữ được niềm vui sống và lan tỏa tình yêu cuộc đời. Nếu người Bắc nổi tiếng cẩn trọng,
người Trung kiên cường, thì người Nam – đặc biệt là miền Tây – luôn được nhớ đến bởi sự phóng khoáng, hào sảng, “làm chết bỏ, chơi tới bến”. Hào sảng không chỉ là tính cách mà là một triết lý: sống nhẹ nhàng, sống chân thành, sống
chia sẻ. Một cộng đồng
hào phóng sẵn lòng cho đi và đón nhận, luôn tin vào tình nghĩa “bà con mình”.
Ở nơi cuối sông cùng đất, miền Tây Nam bộ như đứa con út của dòng Mê Kong và dải đất chữ S kéo dài khó nhọc. “Giàu con út khó con út”, chấp nhận số phận và ứng phó linh hoạt để tồn tại nhưng không bi lụy không hạ mình, luôn chính trực và hào sảng, khi còn giữ được những phẩm chất đó thì người miền Tây còn giữ được cho mình một tâm thế tự do như ông cha mình trước đây!
Sáng sớm Sài Gòn mùa đông đến rất khẽ. Không ồn ào, không vội vã, chỉ như đi qua mang hơi gió chướng se lạnh vừa đủ để người ta bước chậm trên đường còn vắng lặng. Tôi ngồi một mình trong quán nhỏ quen thuộc, bên ly cà phê nhỏ từng giọt qua phin, rơi đều, chậm như thể thời gian cũng đang được lọc lại. Ngoài kia, thành phố còn chưa thức dậy. Trong không gian ấm áp chỉ có hương cà phê mới, tiếng kim giây đồng hồ cũ và giai điệu quen thuộc đang ngân lên rất nhẹ qua headphone.
Đấy là một chương trình âm nhạc tôi yêu thích, bởi ở đó âm nhạc mở ra
không gian khác mà không cần nhiều lời giới thiệu, không cần ngôn từ dẫn dắt.
Những bài tình ca cũ cứ thế trôi qua, bài này nối bài kia như một dòng ký ức
dài đưa tôi trở lại tuổi thanh xuân. Có những giai điệu tưởng đã nghe rất nhiều
lần, vậy mà sáng nay lại chạm vào một chỗ rất khác trong lòng. Có lẽ vì mùa
đông. Có lẽ vì sự tĩnh lặng hiếm hoi. Cũng có thể vì khi một mình, người ta dễ
nghe rõ hơn những điều vốn vẫn ở đó. “Có phải vì anh bồng bềnh mãi trong gió
sương… bến duyên giang đầu mây che kín một niềm đau…”
Tình ca Việt Nam, trong bối cảnh một đất nước trải qua quá nhiều đau đớn
vì chiến tranh và chia ly, nghĩ cho cùng không chỉ là chuyện tình yêu. Trong
những câu hát ấy có cả lịch sử, nhưng là lịch sử đi bằng cảm xúc bởi đó là câu
chuyện của từng người, từng gia đình, trở thành số phận của đất nước. Thời gian
không nằm trong niên biểu khô khan, mà nằm trong những cuộc chia tay không kịp
nói lời sau cùng, trong những mối tình đi qua chiến tranh, đi qua nghèo khó, trải
qua biết bao đổi thay âm thầm của đời sống từ các đô thị đến vùng thôn quê. Có
những bài hát mang theo hơi thở của những con đường cũ, những mái nhà thấp,
những quán nhỏ bên hè. Nghe nhạc mà thấy Sài Gòn xưa hiện ra không rõ hình hài,
chỉ là cảm giác: một buổi chiều nắng nhạt, một tà áo lướt qua, một lời hẹn để
quên mà không nỡ quên. Tình ca ngày ấy không nói nhiều. Nó tin người nghe sẽ tự
hiểu, bởi ai rồi cũng từng yêu theo cách rất riêng của mình.
Mùa đông dường như làm cho âm nhạc chậm lại. Hay chính âm nhạc khiến mùa
đông trở nên rõ ràng hơn? Tôi không chắc. Chỉ biết rằng trong cái lạnh vừa đủ
ấy, lòng người dễ mềm ra. Những câu hát cũ bỗng trở thành chiếc cầu nối giữa
hiện tại và quá khứ, giữa tôi của hôm nay và những thế hệ đã đi qua. Người ta
đã yêu, đã buồn, đã hy vọng, đã mất mát, và để lại tất cả trong giai điệu. Có
lúc tôi nhắm mắt, để mặc tiếng hát dẫn đường. Không còn phân biệt bài nào thuộc
thời nào, ai hát, ai viết. Tất cả hòa vào nhau thành một dòng chảy của cảm xúc:
dịu dàng, kín đáo, đôi khi da diết hơn cả nước mắt. Chỉ cần một khoảng lặng đủ
dài để lòng chùng xuống.
Ly cà phê chỉ là cái cớ để tôi có thể ngồi yên, không làm gì cả, chỉ nghe
và nhớ. Tôi rất thích cảm giác này… Nhớ những buổi sáng khác, những quán cà phê
khác, những con người từng ngồi bên cạnh, có người vẫn còn, có người đã xa. Âm
nhạc, trong khoảnh khắc ấy, trở thành nơi trú ẩn an toàn cho ký ức. Tình ca ngày
ấy có một vẻ đẹp rất riêng: nó không phô bày, nó để lại cho người nghe quyền
được suy tưởng, được đặt câu chuyện của mình vào giữa những câu hát. Vì thế mà
dù nghe một mình, ta không thấy cô đơn. Trái lại, ta thấy mình đang trò chuyện
với rất nhiều người, những người chưa từng gặp nhưng đã cùng chia sẻ một cảm
xúc chung mang tên yêu thương.
Bản nhạc cuối cùng khẽ dần rồi chấm dứt. Buổi sáng mùa đông vẫn còn đó nhưng
lòng tôi ấm áp vì được chạm vào tình người sâu thẳm, nơi mà âm nhạc không chỉ
để nghe mà để cùng rưng rưng. Ngoài kia, thành phố bắt đầu thức dậy, chuẩn bị
bước vào mùa Tết bằng nhịp sống hối hả.
Vào những ngày cuối năm này tôi mang theo dư âm của những bản tình ca xưa mà
không bao giờ cũ, như mang theo một niềm hy vọng thầm lặng, đủ để tin rằng giữa
bao biến động lớn lao của đời sống, năm mới rồi sẽ bắt đầu từ những điều ấm áp nhỏ
bé, rất Sài Gòn, như những bản tình ca bất hủ.
Mời nghe tại đây:
https://www.youtube.com/playlist?list=PLlvotxmxdwhPw-dvLtBAcPG85a1-1u4Y6
Ngay những ngày đầu năm 2026 tôi được tham gia một số hoạt động văn hóa của thành phố, như sự kiện NTK Sĩ Hoàng công bố Di sản Spiral, hành trình Spiral heritage 2026 đến 2030... Có thể nói, đây là một trong những hình thức của “công nghiệp văn hóa” một cách linh hoạt và mang tính cộng đồng cao. Tôi nghĩ, sự kiện NTK Sĩ Hoàng công bố Di sản Spiral hướng đến giới trẻ và những người làm công việc sáng tạo nghệ thuật – một cộng đồng “nhỏ” nhưng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của CNVH.
Ở TPHCM đang hình thành nhiều hình thức thực tiễn
của CNVH nhằm góp phần mở rộng quyền tham gia văn hóa của cộng đồng địa phương, trong đó người
trẻ được xác định là đối tượng trung tâm, tăng cường sự chuyển dịch vai trò của cộng đồng từ
vị thế “người xem, người tham dự” sang “chủ thể văn hóa”, chủ thể sáng tạo, duy trì và phát triển di sản. Qua đó hình thành thói quen tham gia
đời sống văn hóa một cách chủ động, tự nguyện và bền vững. Tại các sự kiện
người tham dự thông qua các hình thức trải nghiệm ngắn hạn, dễ tiếp cận và mang tính
tương tác cao (vẽ, viết, kể chuyện, chụp ảnh, thiết kế sản phẩm nhỏ…), đã không chỉ tiếp nhận
giá trị văn hóa đọc hay di sản áo dài, mà còn hiểu sâu sắc hơn
ý nghĩa và diễn giải di sản.
Thay vì tiếp cận di sản áo dài như những giá trị tĩnh, không thiết thực trong đời sống hàng ngày, thì hoạt động tiếp cận văn hóa và di sản như một thực hành văn hóa sống động trong đời sống đô thị, giúp những yếu tố “văn hóa tinh thần” hay “di sản phi vật thể” tiếp tục được hiện diện, sử dụng và được gia tăng ý nghĩa trong bối cảnh đương đại. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng bảo tồn di sản truyền thống và phát triển di sản đương đại, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và tính liên tục của
thực hành văn hóa, qua đó góp phần tránh tình trạng “bảo tồn hình thức” hoặc
tách rời di sản khỏi đời sống xã hội.
Trong bối cảnh TPHCM đang phát triển CNVH những hoạt động như vậy rất cần thiết. Bởi nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng hạ tầng mềm cho công nghiệp văn hóa, như năng lực sáng tạo cá nhân; kỹ năng kể chuyện
văn hóa, thiết kế sản phẩm, tổ chức hoạt động; mạng lưới kết nối giữa người trẻ, nghệ sĩ, nhà thiết
kế, nhà nghiên cứu và cộng đồng... Thông qua các sản phẩm văn hóa quy mô nhỏ (zine, postcard, tranh vẽ, nội
dung số, trải nghiệm văn hóa) có thể thực hành ở bất cứ không gian văn hóa nào, đã tạo điều kiện để
người trẻ từng bước tiếp cận chuỗi giá trị của CNVH, từ ý tưởng – sáng tạo – sản xuất –
chia sẻ – tiêu dùng văn hóa, trên nền tảng di sản, dưới sự hướng
dẫn và tiên phong của các NTK tên tuổi.
Việc tổ chức hoạt động như vậy góp phần tái định những không gian thực hành văn hóa và giáo dục cộng đồng. Các hoạt động văn hóa quy mô nhỏ, diễn
ra thường xuyên mang lại chiều sâu văn hóa, tăng cường sự gắn bó với đời sống của cư dân đô thị, đặc biệt là người trẻ. Đây là tiền đề quan trọng để hình
thành các mô hình văn hóa bền vững, có khả năng nhân rộng và phù hợp với định
hướng phát triển văn hóa – sáng tạo của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới.
Nguyễn Thị Hậu
Vừa qua tôi được tham dự lễ kỷ niệm 10
năm Đường sách TP.HCM. Một buổi lễ trang trọng, vui tươi và mang tính cộng đồng
cao. Không khí lễ hội không chỉ ở sân khấu chính, mà còn tràn ngập cả con đường
với những gian hàng tấp nập người qua lại. Đó là cảnh tượng đúng với những gì
từ 10 năm trước nhiều người mơ ước, khi Đường sách mới ra đời.
10 năm qua, niềm vui của tôi và nhiều người khi đến với Đường sách, đầu
tiên là ở đây “quyền được tiếp cận văn hóa” một cách bình đẳng giữa mọi người.
Từ “người thành phố” đến du khách ghé qua, từ người già đến người trẻ, từ anh
chị công nhân, buôn bán đến người nghiên cứu, các học giả… Các gian hàng ở đây
từ sách đến văn hóa phẩm khá đa dạng về chủng loại, giá cả, phục vụ nhiều nhu
cầu khác nhau, “túi tiền” khác nhau. Việc dễ tiếp cận và chi phí thấp là “điểm cộng”
so với các thiết chế văn hóa khép kín, như rạp phim, nhà hát, bảo tàng có vé, trung
tâm thương mại…
Không gian mở, xanh mát thân thiện ở đây khiến
việc đọc sách, nghe nói chuyện chuyên đề, tham gia workshop trở thành một hoạt
động đời sống thường nhật, chứ không phải một hoạt động mang tính hàn lâm, góp
phần khuyến khích và nuôi dưỡng thói quen đọc sách và học tập trong những điều kiện khác nhau. Trong bối
cảnh thành phố đông đúc, áp lực, những không gian yên tĩnh và nhân văn như vậy giúp người dân “sống chậm lại”, tái cân
bằng cảm xúc,
giúp cải thiện sức khỏe tinh thần của cư dân đô thị.
Với một thành phố lớn như TP.HCM, rất cần thiết duy trì, thậm chí tái tạo giao tiếp xã hội cho
cộng đồng dân cư luôn biến động phức tạp. Đường sách tạo không gian gặp gỡ nhiều thế hệ có thể cùng chia
sẻ hoạt động hay nghỉ ngơi giải trí trong một không gian văn hóa, điều mà đô thị hiện nay đang thiếu. Tại đây
tạo điều kiện cho các sinh hoạt cộng đồng, tạo nên mạng lưới kết nối xã hội, góp
phần nuôi dưỡng tinh thần công dân: Khi người dân quen với việc sử dụng và giữ
gìn không gian chung, ý thức công cộng và trách nhiệm xã hội được hình thành
một cách tự giác.
Đối với xã hội, Đường sách là mô hình
“xã hội hóa” nguồn lực văn hóa với sự đầu tư không lớn nhưng hiệu quả dài hạn. Đường sách mang lại hình ảnh đô
thị hiện đại và quản trị đô thị văn minh. Gia tăng sức hấp dẫn du lịch văn hóa vì
không gian này trở thành điểm dừng chân đặc trưng, khác biệt với mô hình mua
sắm hay giải trí thuần túy.
TP.HCM có một không gian văn hóa công cộng như Đường sách không chỉ là “điểm
đến”, mà là một” hạ tầng mềm” của đô thị hiện đại. Lợi ích của nó lan tỏa trên
nhiều tầng: từ cá nhân, cộng đồng đến xã hội và quản trị đô thị.
Quan trọng hơn cả là những không gian như Đường sách lưu giữ ký ức đô thị
đương đại: ký ức về đọc sách, trò chuyện, suy tư, học hỏi giữa lòng thành phố. Không
ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ định hình “chất” của một đô thị đáng
sống. Nếu coi hạ tầng cứng (đường sá, cao ốc) là thân thể của thành phố, thì
những không gian văn hóa công cộng như Đường sách chính là tâm hồn đô thị. Từ đó hình thành Di sản văn hóa đương đại như nhiều
quốc gia từng có.
Tôi luôn mong TP.HCM có thêm những không gian văn hóa công cộng như Đường sách. Những hoạt động hướng
đến và vì người dân sẽ góp phần xây dựng môi trường đô thị nhân
văn, nơi văn hóa không chỉ là sản phẩm tiêu dùng hay sự kiện lễ hội, mà là nơi nguồn
lực xã hội có vai trò quan trọng cho phát triển bền vững.
Ngày 10/1/2026 – bài đầu tiên của 2026 – trừ bài tết
Ý kiến cho báo TT (Ái Nhân)
Vừa qua việc TP quyết định xây dựng công viên ở số 1 Lý
Thái Tổ và khu vực Bến Nhà Rồng đã nhận được sự đồng thuận của người dân. Bởi
vì chúng ta còn quá thiếu nhưng không gian văn hóa công cộng, nhất là hiện nay
TP Hồ Chí Minh đã có một không gian và dân số lớn hơn, tương lai gần sẽ là một
“siêu đô thị”.
Và nay TP. HCM vừa quyết định dành một số “khu đất vàng”
từ nhiều năm nay bị rào chắn trông rất hoang phế ở những vị trí trung tâm, để
làm công viên, vườn hoa phục vụ người dân vào dịp Tết 2026. Như vậy tết này người
dân có thêm nhiều nơi để đến vui chơi, những khu đất vàng thực sự được tăng
thêm giá trị sử dụng dù có thể chỉ trong một thời gian ngắn. Việc chủ trương
“xã hội hóa” đầu tư vào những công trình này là phù hợp, vì ngoài giá trị kinh
tế, giá trị văn hóa mà doanh nghiệp đóng góp cho thành phố còn quan trọng hơn!
Những hoạt động hướng đến người dân, vì lợi ích cộng đồng
như vậy góp phần xây dựng môi trường đô thị nhân văn. Thành phố đáng sống,
ngoài những tiêu chí khác, còn là nơi mà không gian nghỉ ngơi, vui chơi giải
trí, giao tiếp cộng đồng ngày càng được quan tâm, là nơi mọi nguồn lực xã hội
có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia vào sự phát triển đô thị, trong sự định hướng
của chính quyền và giám sát của cộng đồng dân cư.
11.1.2026
https://nguoidothi.net.vn/york-thanh-pho-cua-nhung-tram-tich-van-hoa-51239.html
Nguyễn Thị Hậu
1.
Có những thành phố tồn tại như một mặt phẳng, ta chỉ cần vài bước
chân dọc ngang là có thể đi hết quá trình lịch sử. Nhưng cũng có những thành phố giống như một cột địa
tầng khổng lồ chứa đựng những trầm tích của quá khứ xa xưa... nơi mỗi bước chân như được “xuyên không” vào lịch sử. York (Vương quốc Anh) là một thành phố như thế. Tại đây các di tích thời La Mã, Viking, Anglo-Saxon, Trung cổ vẫn hiện diện rõ ràng và đầy sức sống, nhờ khảo cổ học và bảo tồn di sản đô thị.
Tôi đến York và chỉ ở đó có hai ngày vào dịp cuối thu, thành
phố luôn ẩm hơi sương mù ngay cả khi có mặt trời. Màu xám của những bức tường
thành, những ngôi nhà cũng làm tăng thêm vẻ trầm lắng của một đô thị có trên
hai ngàn năm tuổi. Cảm giác đầu tiên của tôi không phải là đang bước trong một thành phố sống, mà như đang đi vào từng trang của một cuốn sách chưa bao giờ khép lại. Lịch sử hé mở không theo dòng tuyến
tính mà đa chiều tựa như trong màn hình 3D. Với nghề nghiệp của
mình, tôi như đang bóc tách từng lớp văn hóa của từng giai đoạn, trong một “hố
khai quật” khổng lồ là toàn bộ thành phố!
2.
Điểm đến tham quan đầu tiên của tôi là tường thành cổ La Mã. Ở mỗi vị trí
trên thành, khi tôi bước lên những phiến đá lạnh và nhám in vết thời gian mòn
đi dưới những bước chân của đội quân từng canh gác nơi đây hai nghìn năm trước.
Đây là lớp tường thành ngoài với cổng hình vòm rất lớn, bề rộng mặt thành khoảng
1m, có nhiều đoạn nhô ra để quan sát và phòng thủ hữu hiệu. Những lớp thành bên
trong đã sụp đổ nhưng các nhà khảo cổ khai quật vẫn xác định được niên đại từng
lớp xây dựng trong các giai đoạn khác nhau. Tuy sụp đổ gần hết nhưng tại một số
vị trí vẫn còn nhận diện được các cổng nhỏ có song sắt kiên cố, nối liền với
con đường nhỏ hẹp, rất khó khăn để bên ngoài có thể xâm nhập vào trong thành. Thành phố thời La
Mã đã mất nhưng lịch sử của nó còn hiện diện nguyên vẹn trong cấu trúc thành
phố York hôm nay: hệ thống đường phố thẳng tắp, những bức tường vững chắc,
những pháo đài sừng sững trên đồi cao...
Ngày nay bức tường bên ngoài của thành La mã xưa gần như còn nguyên vẹn, được
bảo tồn chăm sóc thường xuyên. Mặt thành là nơi ưa thích của dân cư thành phố và
du khách, lúc nào cũng có người đi dạo, tập thể dục bằng chạy và đi bộ vài vòng
thành. Ngắm nhìn những đoạn tường thành tôi thấy như nó đang kể chuyện thời La
Mã và chuyện thành phố hôm nay. Người bạn kiến trúc sư nói bảo tồn kiến trúc cổ
là để giữ lại cái đẹp huy hoàng của quá khứ, nhưng tôi lại nghĩ, ở York đó là
giữ lại dấu ấn khởi đầu, bởi vì những viên đá đầu tiên của tường thành này đặt
nền móng cho mọi lớp văn hóa tiếp theo. Nếu không có tường thành La Mã có lẽ
York đã là một thành phố khác, một tiếng nói khác trong bản giao hưởng trầm
hùng của lịch sử các đô thị cổ đại châu Âu.
3.
Tuy nhiên di sản độc đáo nhất của York chính là dấu tích của lớp cư dân Viking. Đó là “ký ức từ lòng đất” hiện diện nhờ
công tác khảo cổ học đô thị. Không phải thành phố nào cũng may mắn có những lớp
di tích được bảo tồn nhờ điều kiện tự nhiên. Bùn đất ẩm của York đã giữ lại cả
những dấu chân, những mảnh gỗ và hạt giống từ hơn nghìn năm trước. Sau những
cuộc khai quật lớn rất khoa học và cẩn trọng, với mục tiêu tối thượng là “khai
quật để bảo tồn và phát triển du lịch di sản”, các di tích khảo cổ học thời đại
Viking đã được nghiên cứu, trưng bày và phục dựng bằng các phương thức hiện
đại, trở thành điểm du lịch và giáo dục di sản nổi tiếng ở Vương quốc Anh và
châu Âu.
Bằng các kỹ thuật hiện đại, di sản Viking được tái hiện không phô trương nhưng sâu sắc. Bước vào Jorvik Viking Centre, tôi như trở thành nhân
chứng sống của cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa khảo cổ học và ký ức cộng đồng. Người ta
đã dùng những hố khai quật khảo cổ từ năm 1976–1981 để tái dựng lại một phố Viking cổ, từ mùi
gỗ thông của xưởng mộc đến tiếng kim loại va chạm của xưởng rèn, từ tiếng nói chuyện mua bán trong
chợ đến mùi thức ăn trong gian bếp gia đình... Điều khiến du khách xúc động nhất là từ di tích di vật, lịch sử từ lòng đất được “sống lại” một cuộc đời mới, qua việc tái hiện di sản văn hóa trong đời sống
đương đại. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là giữ lại cái cũ, mà là trả lại tiếng nói cho những gì từng
bị lãng quên!
4.
Ai đến York cũng
phải đến thăm viếng York Minster. Ngôi Nhà thờ cổ bằng đá kiến trúc
tôn nghiêm mà hài hòa,
sừng sững giữa thành phố. Từ những ô cửa kính màu đậm nét thời gian đến bóng đổ của các trụ cột to lớn, từ thánh đường
cao vút đến tiếng chuông ngân xa hàng dặm trong không gian... Tất cả làm cho tôi hiểu vì sao các thành phố châu Âu
coi nhà thờ lớn là trái tim của đô thị trung cổ. Cũng như nhiều
ngôi nhà thờ khác, mang lại cảm xúc cho khách tham quan không chỉ là kiến trúc
và cảnh quan, mà là cách York Minster sống trong đời sống hôm nay. Nhà thờ chính
là ký ức hóa thân thành
không gian sống, bởi vì đó không phải một di sản bị “đóng băng” mà các nhà thờ là nơi cộng đồng duy trì những sinh hoạt truyền thống như
hành lễ, cầu nguyện, tổ chức
lễ cưới, tiễn đưa người mất... Nhiều người luôn tìm đến nhà thờ như
tìm một chốn bình yên. York Minster “kể câu chuyện Trung
cổ” qua sự duy trì những hoạt động cộng đồng.
Cùng với York
Minster và những công trình di sản nổi tiếng, York còn có cảnh quan đôi bờ sông
Ouse chảy qua thành phố, du khách có thể đi thuyền để ngắm cảnh thiên nhiên hay
những di tích còn lại: các dãy nhà kho, công xưởng nay thành khách sạn, nhà
hàng, quán cà phê... mà vẫn giữ nguyên cấu trúc bên ngoài từ lớp tường gạch đỏ
đến tầng hầm và cầu cảng cho thuyền chở hàng ghé lại, còn cả những cần cẩu để
đưa hàng lên các gian nhà kho trên cao... Ngay cạnh khách sạn tôi ở có một công
viên chạy dài sát bờ sông, trong đó có vườn hoa, cây xanh, ghế đá và vài bức
tượng nhỏ. Nếu không chú ý sẽ không thấy một tấm đá nhỏ ghi lại sự việc, nơi
này vốn là một nhà máy bị hư hỏng trong chiến tranh thế giới thứ 2, sau đó người
chủ nhà máy đã hiến tặng khu đất cho thành phố để làm công viên. Hay trong khu
phố cổ có đường phố nhỏ hẹp có từ thế kỷ 14,
15 đến giờ vẫn mang tên “phố hàng thịt”. Trên phố còn giữ được những ngôi nhà
gỗ từ thời đó, các ngõ nhỏ từng là khu chợ huyên náo nay là những tiệm bán đồ
lưu niệm, vật trang trí Halloween. Đi trên con phố này tôi tưởng như mình đang
lạc vào thế giới của Harry Porter.
5.
Hiện nay York
city là một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng nhất nước Anh và châu Âu,
du khách mùa nào cũng rất đông và đều có thể tìm thấy ở đây những điều đáp ứng
nhu cầu của mình. Cả thành phố như một Viện Bảo tàng mà mỗi người dân là một
hướng dãn viên nhiệt tình, am hiểu. Khảo cổ học đô thị và bảo tồn di sản, cùng
với du lịch cộng đồng là những “phép màu” để York phát triển kinh tế - xã hội
nhanh chóng, vững chắc. Điều đáng khâm phục là hiện nay thành phố York mới đang
hoàn thiện hồ sơ di sản thế giới trình Unesco, bởi vì York muốn khẳng định và
củng cố bản sắc riêng của mình trước khi trở thành di sản của nhân loại!
Đến York city dù chỉ trong một thời gian rất ngắn cũng làm tôi hiểu sâu sắc hơn một điều tưởng là “sách vở”: bảo tồn di sản đô thị không phải để níu kéo quá khứ mà để làm sáng rõ bản sắc của hiện tại. Những lớp văn hóa cổ xưa nếu biết gìn giữ sẽ trở thành vốn liếng để thành phố bước vào tương lai mà không đánh mất mình. York đã cho thấy một thành phố có thể già đi mà vẫn tươi mới, cổ kính mà không cũ kỹ, ở đây con người biết trân trọng từng lớp thời gian đã bồi đắp nên thành phố, bởi vì đó là chiều sâu của ký ức đô thị. Giữ lại ký ức đô thị chính là cách ta giữ gìn linh hồn của một thành phố. Và một thành phố chỉ thật sự giàu có khi nó biết kể lại câu chuyện của chính mình bằng di sản văn hóa.
Tháng 11. 2025
https://tinhhoavietawards.vn/ Rất vui được tham dự Lễ công bố giải Tinh Hoa Việt và cùng anh Nguyễn Ngọc Hồi Giám đốc Sở TT.TT TP cùng tra...