10 năm ở đường sách

 https://tuoitre.vn/10-nam-o-duong-sach-20260111083154317.htm?fbclid=IwY2xjawPQPexleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeubgEp8Q_FPh7EkjYvT_UC3Yw7rk-egwv88zatnGwVyM2N1P5ia7UiTBBaP4_aem_CwpoBakA3CffMtDk8q8Zeg

 Nguyễn Thị Hậu

Vừa qua tôi được tham dự lễ kỷ niệm 10 năm Đường sách TP.HCM. Một buổi lễ trang trọng, vui tươi và mang tính cộng đồng cao. Không khí lễ hội không chỉ ở sân khấu chính, mà còn tràn ngập cả con đường với những gian hàng tấp nập người qua lại. Đó là cảnh tượng đúng với những gì từ 10 năm trước nhiều người mơ ước, khi Đường sách mới ra đời.

10 năm qua, niềm vui của tôi và nhiều người khi đến với Đường sách, đầu tiên là ở đây “quyền được tiếp cận văn hóa” một cách bình đẳng giữa mọi người. Từ “người thành phố” đến du khách ghé qua, từ người già đến người trẻ, từ anh chị công nhân, buôn bán đến người nghiên cứu, các học giả… Các gian hàng ở đây từ sách đến văn hóa phẩm khá đa dạng về chủng loại, giá cả, phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau, “túi tiền” khác nhau. Việc dễ tiếp cận và chi phí thấp là “điểm cộng” so với các thiết chế văn hóa khép kín, như rạp phim, nhà hát, bảo tàng có vé, trung tâm thương mại…

Không gian mở, xanh mát thân thiện ở đây khiến việc đọc sách, nghe nói chuyện chuyên đề, tham gia workshop trở thành một hoạt động đời sống thường nhật, chứ không phải một hoạt động mang tính hàn lâm, góp phần khuyến khích và nuôi dưỡng thói quen đọc sách và học tập trong những điều kiện khác nhau. Trong bối cảnh thành phố đông đúc, áp lực, những không gian yên tĩnh nhân văn như vậy giúp người dân “sống chậm lại”, tái cân bằng cảm xúc, giúp cải thiện sức khỏe tinh thần của cư dân đô thị.

Với một thành phố lớn như TP.HCM, rất cần thiết duy trì, thậm chí tái tạo giao tiếp xã hội cho cộng đồng dân cư luôn biến động phức tạp. Đường sách tạo không gian gặp gỡ nhiều thế hệ có thể cùng chia sẻ hoạt động hay nghỉ ngơi giải trí trong một không gian văn hóa, điều mà đô thị hiện nay đang thiếu. Tại đây tạo điều kiện cho các sinh hoạt cộng đồng, tạo nên mạng lưới kết nối xã hội, góp phần nuôi dưỡng tinh thần công dân: Khi người dân quen với việc sử dụng và giữ gìn không gian chung, ý thức công cộng và trách nhiệm xã hội được hình thành một cách tự giác.

Đối với xã hội, Đường sách là mô hình “xã hội hóa” nguồn lực văn hóa với sự đầu tư không lớn nhưng hiệu quả dài hạn. Đường sách mang lại hình ảnh đô thị hiện đại và quản trị đô thị văn minh. Gia tăng sức hấp dẫn du lịch văn hóa vì không gian này trở thành điểm dừng chân đặc trưng, khác biệt với mô hình mua sắm hay giải trí thuần túy. TP.HCM có một không gian văn hóa công cộng như Đường sách không chỉ là “điểm đến”, mà là một” hạ tầng mềm” của đô thị hiện đại. Lợi ích của nó lan tỏa trên nhiều tầng: từ cá nhân, cộng đồng đến xã hội và quản trị đô thị.

Quan trọng hơn cả là những không gian như Đường sách lưu giữ ký ức đô thị đương đại: ký ức về đọc sách, trò chuyện, suy tư, học hỏi giữa lòng thành phố. Không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ định hình “chất” của một đô thị đáng sống. Nếu coi hạ tầng cứng (đường sá, cao ốc) là thân thể của thành phố, thì những không gian văn hóa công cộng như Đường sách chính là tâm hồn đô thị. Từ đó hình thành Di sản văn hóa đương đại như nhiều quốc gia từng có.

Tôi luôn mong TP.HCM có thêm những không gian văn hóa công cộng như Đường sách. Những hoạt động hướng đến và vì người dân sẽ góp phần xây dựng môi trường đô thị nhân văn, nơi văn hóa không chỉ là sản phẩm tiêu dùng hay sự kiện lễ hội, mà là nơi nguồn lực xã hội có vai trò quan trọng cho phát triển bền vững.

Ngày 10/1/2026 – bài đầu tiên của 2026 – trừ bài tết

Ý kiến cho báo TT (Ái Nhân)

Vừa qua việc TP quyết định xây dựng công viên ở số 1 Lý Thái Tổ và khu vực Bến Nhà Rồng đã nhận được sự đồng thuận của người dân. Bởi vì chúng ta còn quá thiếu nhưng không gian văn hóa công cộng, nhất là hiện nay TP Hồ Chí Minh đã có một không gian và dân số lớn hơn, tương lai gần sẽ là một “siêu đô thị”.

Và nay TP. HCM vừa quyết định dành một số “khu đất vàng” từ nhiều năm nay bị rào chắn trông rất hoang phế ở những vị trí trung tâm, để làm công viên, vườn hoa phục vụ người dân vào dịp Tết 2026. Như vậy tết này người dân có thêm nhiều nơi để đến vui chơi, những khu đất vàng thực sự được tăng thêm giá trị sử dụng dù có thể chỉ trong một thời gian ngắn. Việc chủ trương “xã hội hóa” đầu tư vào những công trình này là phù hợp, vì ngoài giá trị kinh tế, giá trị văn hóa mà doanh nghiệp đóng góp cho thành phố còn quan trọng hơn!

Những hoạt động hướng đến người dân, vì lợi ích cộng đồng như vậy góp phần xây dựng môi trường đô thị nhân văn. Thành phố đáng sống, ngoài những tiêu chí khác, còn là nơi mà không gian nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao tiếp cộng đồng ngày càng được quan tâm, là nơi mọi nguồn lực xã hội có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia vào sự phát triển đô thị, trong sự định hướng của chính quyền và giám sát của cộng đồng dân cư.

11.1.2026



YORK –THÀNH PHỐ CỦA NHỮNG TRẦM TÍCH VĂN HÓA

 https://nguoidothi.net.vn/york-thanh-pho-cua-nhung-tram-tich-van-hoa-51239.html

Nguyễn Thị Hậu

1.

Có những thành phố tồn tại như một mặt phẳng, ta chỉ cần vài bước chân dọc ngang có thể đi hết quá trình lịch sử. Nhưng cũng có những thành phố giống như một cột địa tầng khổng lồ chứa đựng những trầm tích của quá khứ xa xưa... nơi mỗi bước chân như được “xuyên không” vào lịch sử. York (Vương quốc Anh) là một thành phố như thế. Tại đây các di tích thời La Mã, Viking, Anglo-Saxon, Trung cổ vẫn hiện diện rõ ràng và đầy sức sống, nhờ khảo cổ học và bảo tồn di sản đô thị.

Tôi đến York và chỉ ở đó có hai ngày vào dịp cuối thu, thành phố luôn ẩm hơi sương mù ngay cả khi có mặt trời. Màu xám của những bức tường thành, những ngôi nhà cũng làm tăng thêm vẻ trầm lắng của một đô thị có trên hai ngàn năm tuổi. Cảm giác đầu tiên của tôi không phải là đang bước trong một thành phố sống, mà như đang đi vào từng trang của một cuốn sách chưa bao giờ khép lại. Lịch sử hé mở không theo dòng tuyến tính mà đa chiều tựa như trong màn hình 3D. Với nghề nghiệp của mình, tôi như đang bóc tách từng lớp văn hóa của từng giai đoạn, trong một “hố khai quật” khổng lồ là toàn bộ thành phố!

2.

Điểm đến tham quan đầu tiên của tôi là tường thành cổ La Mã. Ở mỗi vị trí trên thành, khi tôi bước lên những phiến đá lạnh và nhám in vết thời gian mòn đi dưới những bước chân của đội quân từng canh gác nơi đây hai nghìn năm trước. Đây là lớp tường thành ngoài với cổng hình vòm rất lớn, bề rộng mặt thành khoảng 1m, có nhiều đoạn nhô ra để quan sát và phòng thủ hữu hiệu. Những lớp thành bên trong đã sụp đổ nhưng các nhà khảo cổ khai quật vẫn xác định được niên đại từng lớp xây dựng trong các giai đoạn khác nhau. Tuy sụp đổ gần hết nhưng tại một số vị trí vẫn còn nhận diện được các cổng nhỏ có song sắt kiên cố, nối liền với con đường nhỏ hẹp, rất khó khăn để bên ngoài có thể xâm nhập vào trong thành. Thành phố thời La Mã đã mất nhưng lịch sử của nó còn hiện diện nguyên vẹn trong cấu trúc thành phố York hôm nay: hệ thống đường phố thẳng tắp, những bức tường vững chắc, những pháo đài sừng sững trên đồi cao...

Ngày nay bức tường bên ngoài của thành La mã xưa gần như còn nguyên vẹn, được bảo tồn chăm sóc thường xuyên. Mặt thành là nơi ưa thích của dân cư thành phố và du khách, lúc nào cũng có người đi dạo, tập thể dục bằng chạy và đi bộ vài vòng thành. Ngắm nhìn những đoạn tường thành tôi thấy như nó đang kể chuyện thời La Mã và chuyện thành phố hôm nay. Người bạn kiến trúc sư nói bảo tồn kiến trúc cổ là để giữ lại cái đẹp huy hoàng của quá khứ, nhưng tôi lại nghĩ, ở York đó là giữ lại dấu ấn khởi đầu, bởi vì những viên đá đầu tiên của tường thành này đặt nền móng cho mọi lớp văn hóa tiếp theo. Nếu không có tường thành La Mã có lẽ York đã là một thành phố khác, một tiếng nói khác trong bản giao hưởng trầm hùng của lịch sử các đô thị cổ đại châu Âu.

3.

Tuy nhiên di sản độc đáo nhất của York chính là dấu tích của lớp cư dân Viking. Đó là “ký ức từ lòng đất” hiện diện nhờ công tác khảo cổ học đô thị. Không phải thành phố nào cũng may mắn có những lớp di tích được bảo tồn nhờ điều kiện tự nhiên. Bùn đất ẩm của York đã giữ lại cả những dấu chân, những mảnh gỗ và hạt giống từ hơn nghìn năm trước. Sau những cuộc khai quật lớn rất khoa học và cẩn trọng, với mục tiêu tối thượng là “khai quật để bảo tồn và phát triển du lịch di sản”, các di tích khảo cổ học thời đại Viking đã được nghiên cứu, trưng bày và phục dựng bằng các phương thức hiện đại, trở thành điểm du lịch và giáo dục di sản nổi tiếng ở Vương quốc Anh và châu Âu.

Bằng các kỹ thuật hiện đại, di sản Viking được tái hiện không phô trương nhưng sâu sắc. Bước vào Jorvik Viking Centre, tôi như trở thành nhân chứng sống của cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa khảo cổ học và ký ức cộng đồng. Người ta đã dùng những hố khai quật khảo cổ từ năm 1976–1981 để tái dựng lại một phố Viking cổ, từ mùi gỗ thông của xưởng mộc đến tiếng kim loại va chạm của xưởng rèn, từ tiếng nói chuyện mua bán trong chợ đến mùi thức ăn trong gian bếp gia đình...  Điều khiến du khách xúc động nhất là từ di tích di vật, lịch sử từ lòng đất được sống lại” một cuộc đời mới, qua việc tái hiện di sản văn hóa trong đời sống đương đại. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là giữ lại cái cũ, mà là trả lại tiếng nói cho những gì từng bị lãng quên!

4.

Ai đến York cũng phải đến thăm viếng York Minster. Ngôi Nhà thờ cổ bằng đá kiến trúc tôn nghiêm mà hài hòa, sừng sững giữa thành phố. Từ những ô cửa kính màu đậm nét thời gian đến bóng đổ của các trụ cột to lớn, từ thánh đường cao vút đến tiếng chuông ngân xa hàng dặm trong không gian... Tất cả làm cho tôi hiểu vì sao các thành phố châu Âu coi nhà thờ lớn là trái tim của đô thị trung cổ. Cũng như nhiều ngôi nhà thờ khác, mang lại cảm xúc cho khách tham quan không chỉ là kiến trúc và cảnh quan, mà là cách York Minster sống trong đời sống hôm nay. Nhà thờ chính là ký ức hóa thân thành không gian sống, bởi vì đó không phải một di sản bị “đóng băng” mà các nhà thờ là nơi cộng đồng duy trì những sinh hoạt truyền thống như hành lễ, cầu nguyện, tổ chức lễ cưới, tiễn đưa người mất... Nhiều người luôn tìm đến nhà thờ như tìm một chốn bình yên.  York Minster “kể câu chuyện Trung cổ” qua sự duy trì những hoạt động cộng đồng.

Cùng với York Minster và những công trình di sản nổi tiếng, York còn có cảnh quan đôi bờ sông Ouse chảy qua thành phố, du khách có thể đi thuyền để ngắm cảnh thiên nhiên hay những di tích còn lại: các dãy nhà kho, công xưởng nay thành khách sạn, nhà hàng, quán cà phê... mà vẫn giữ nguyên cấu trúc bên ngoài từ lớp tường gạch đỏ đến tầng hầm và cầu cảng cho thuyền chở hàng ghé lại, còn cả những cần cẩu để đưa hàng lên các gian nhà kho trên cao... Ngay cạnh khách sạn tôi ở có một công viên chạy dài sát bờ sông, trong đó có vườn hoa, cây xanh, ghế đá và vài bức tượng nhỏ. Nếu không chú ý sẽ không thấy một tấm đá nhỏ ghi lại sự việc, nơi này vốn là một nhà máy bị hư hỏng trong chiến tranh thế giới thứ 2, sau đó người chủ nhà máy đã hiến tặng khu đất cho thành phố để làm công viên. Hay trong khu phố cổ có đường phố nhỏ hẹp có từ thế kỷ 14, 15 đến giờ vẫn mang tên “phố hàng thịt”. Trên phố còn giữ được những ngôi nhà gỗ từ thời đó, các ngõ nhỏ từng là khu chợ huyên náo nay là những tiệm bán đồ lưu niệm, vật trang trí Halloween. Đi trên con phố này tôi tưởng như mình đang lạc vào thế giới của Harry Porter.

5.

Hiện nay York city là một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng nhất nước Anh và châu Âu, du khách mùa nào cũng rất đông và đều có thể tìm thấy ở đây những điều đáp ứng nhu cầu của mình. Cả thành phố như một Viện Bảo tàng mà mỗi người dân là một hướng dãn viên nhiệt tình, am hiểu. Khảo cổ học đô thị và bảo tồn di sản, cùng với du lịch cộng đồng là những “phép màu” để York phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, vững chắc. Điều đáng khâm phục là hiện nay thành phố York mới đang hoàn thiện hồ sơ di sản thế giới trình Unesco, bởi vì York muốn khẳng định và củng cố bản sắc riêng của mình trước khi trở thành di sản của nhân loại!

Đến York city dù chỉ trong một thời gian rất ngắn cũng làm tôi hiểu sâu sắc hơn một điều tưởng là “sách vở”: bảo tồn di sản đô thị không phải để níu kéo quá khứ mà để làm sáng rõ bản sắc của hiện tại. Những lớp văn hóa cổ xưa nếu biết gìn giữ sẽ trở thành vốn liếng để thành phố bước vào tương lai mà không đánh mất mình. York đã cho thấy một thành phố có thể già đi mà vẫn tươi mới, cổ kính mà không cũ kỹ, ở đây con người biết trân trọng từng lớp thời gian đã bồi đắp nên thành phố, bởi vì đó là chiều sâu của ký ức đô thị. Giữ lại ký ức đô thị chính là cách ta giữ gìn linh hồn của một thành phố. Và một thành phố chỉ thật sự giàu khi nó biết kể lại câu chuyện của chính mình bằng di sản văn hóa. 

Tháng 11. 2025












NƠI ẤY QUÊ NHÀ

 Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

Nhớ quê

Tuổi càng về chiều người ta càng muốn “quy cố hương” bằng cách hồi tưởng về  ký ức thời còn ở quê, hay là kỷ niệm mỗi lần về quê. Mà nguyên cớ để những hồi ức trở về thì không thiếu.

Trên những con đường ta qua bất cứ gì nhìn thấy đều như giọt nước rơi vào cái ly “nhớ quê” để rồi một ngày sẽ có giọt nước làm tràn ly, nỗi nhớ vỡ òa, không thể không nói ra không kể lại không trải ra trên trang giấy trên màn hình máy tính.

Một lần đi trên đường phố Quận Cam, nhìn thấy mấy tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại chút gì của quê hương bên mình.

Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai J, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm. Giữa buổi mà đói, có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.

Một người bạn, có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi, nhắn về: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 30 năm sống ở nước ngoài, đã tự coi mình như một người Tây “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.

Ở xa thì vậy, còn ở gần thì sao? Quê tôi ở miền Tây, một năm cũng vài lần về tết nhất giỗ chạp, chưa kể đi công việc. Sáng đi tối về hay đi vài ngày, đi xe đò, đi xe riêng, hồi trước còn chạy xe gắn máy nữa… vậy mà lần nào trở lên thành phố cũng bồi hồi (người miền Tây hay gọi Sài Gòn là “thành phố”, lên thành phố, ở thành phố mới dìa…).  Nhớ từ tiếng gà trưa nhớ đến chùm mận bên chái bếp, nhớ từ bờ mương thoảng tiếng cá quẫy trong vườn đến mùi khói bếp lò trấu lúa mới… Mỗi lần về đám giỗ là “quảy” lên nào thịt kho tàu, thịt ram, tôm rang nước dừa, nào dừa xiêm nào xoài nào dưa hấu. À, có ai còn nhớ món bắp đùm thơm mùi nước dừa lá dứa không? Gần nhà ngoại tôi có lò nấu bắp và hấp bắp đùm, khi tôi chuẩn bị ra về là cô em dâu tất tả chạy ra lò xách về mấy chục bắp mới nấu nóng hổi “chị bỏ theo xe lỡ tụi nhỏ đói thì ăn”.

Trên đường miền Tây rất dễ nhận ra “người miền Tây” trên những chiếc xe máy trước sau ràng buộc túi xách ba lô, người chạy xe hay người ngồi sau đều mặc áo khoác giữa ngày nắng như đổ lửa, là để không bị trúng nắng, trúng gió. Mùa tháng chạp gió chướng trên xe còn có mấy giỏ bánh mứt, người vợ ngồi sau cầm bó vạn thọ gói bằng mấy tàu lá ló ra chùm bông vàng rực rỡ, đúng  là vợ chồng chở nhau về nhà ăn tết với ông bà. Lúc quay lên thành phố thế nào cũng có máng ở móc xe mấy đòn bánh tét nhưn đậu nhưn chuối.

 Dọc đường gặp quán cà phê nào ưng ý thì ghé vô, ngả lưng trên những chiếc võng treo tong ten. Bạn có thể nằm đó thật lâu, dù chỉ kêu một ly cà phê ngọt như chè hay một trái dừa xiêm thanh mát, đung đưa dưới ánh nắng xuyên qua tàu lá dừa trên cao, ngó dàn bông giấy đỏ trắng tím vàng rực lên ngoài cửa quán, nghe hết những CD nhạc “sến” mà cô chủ quán luôn lẩm nhẩm hát theo, những "nếu lỡ chúng mình hai đứa xa nhau...", với "tình đẹp mùa chôm chôm" rồi sang "cây trứng cá" rồi lại đi đào ao thả cá gì đấy... lời ca giai điệu của chôm chôm với trứng cá với cây cầu dừa với rau đắng sau hè, rồi phút cuối với sầu tím thiệp hồng, ai khổ vì ai... các kiểu cây trái các kiểu dối lừa đau lòng hờn dỗi, các kiểu chim sáo mồ côi hay chim trắng cô đơn...  Sến là thế đấy nhưng cam đoan khi bạn rời quán tiếp tục lên đường, bạn sẽ thấy cuộc đời không cần gì hơn thế nữa!

Một lần ngồi trong quán ven đường như thế, ngó ra hồ sen bát ngát phía sau quán, nghe hương sen vấn vít, nôn nao theo lời ca  Lâu nay muốn qua thăm em nhưng ngại vì cầu tre lắc lẻo…  Ờ mà nhà quê giờ nhiều cầu tre lắt lẻo đã thay bằng cầu bê tông, vẫn cheo leo nhưng chắc chắn hơn. Đám cưới qua cầu, chú rể dắt tay cô dâu còn cô dâu tay nâng váy dài mà không còn phải cầm đôi giày đi chân không qua cầu khỉ. Bọn trẻ con không còn cơ hội hò reo khi ai đó lỡ trợt chân té xuống kinh rạch, các bà già trầu không phải chép miệng an ủi: đám cưới mà “gặp nước” như vầy là hên lắm nghen.

Nỗi nhớ quê chỉ giản đơn như hương tóc mạ non mà sao khi   Tháng ngày tuổi đời trôi theo níu chân nhau, bạc thêm mái đầu… với quê hương ta vẫn biết “tình mình dù ngăn cách sông chớ đâu cách lòng, mỗi lần nhớ nhau sao nghẹn lời…”.

Vọng cổ trưa

Đã bao lâu rồi mình chưa nghe một câu vọng cổ ở Sài Gòn, cái nôi của nghệ thuật cải lương? Tôi đã tự hỏi như thế khi bất chợt nghe thấy giọng ca Lệ Thủy ngọt ngào chân chất vang lên trong một trưa hè đứng nắng giữa bạt ngàn xanh miệt vườn Nam bộ.

“Hỡi cô đi bán đèn hồng, đèn hồng cô bán má hồng cô bán không… Đèn hồng đã có người mua, má hồng thì đã nắng mưa phai rồi…”

Có lẽ không ở đâu mà một loại hình nghệ thuật lại có sức sống bền bỉ, gắn bó sâu đậm và được người dân yêu thích như cải lương ở Nam bộ. Ra đời mới khoảng gần 100 năm nhưng cải lương đã trở thành “máu thịt” của người Nam bộ, vượt qua những năm kháng chiến chống Pháp bị coi là “ướt át ủy mị”, vượt qua thời gian dài chia cắt Bắc – Nam… Từ sau 1954 ở miền Bắc ngoài Đoàn Cải lương Nam bộ tập kết còn có hàng chục đoàn “cải lương bắc” của các tỉnh. Thời kỳ sau 1975 khó khăn cùng cực mà sân khấu cải lương vẫn  có những vở diễn trở thành kinh điển… Nhưng cho đến hôm nay thì nhiều người vô Sài Gòn, về miền Tây đã phải hỏi thăm “sân khấu cải lương Nam bộ đâu rồi? còn không?”

Ừ nhỉ, từ bao giờ sân khấu cải lương thành phố không còn nhộn nhịp sáng đèn? những “thánh đường” của Cải lương Sài Gòn đâu rồi? Rạp Aristo hay còn gọi là Trung ương Hý Viện, rạp Hưng Đạo, Olimpic, các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn, Thành Xương, Hào Huê, Cao Đồng Hưng, Thủ Đô, Huỳnh Long, Quốc Thái, Cây Gõ… bây giờ đã biến thành gì? Các đoàn cải lương nổi tiếng như Kim Chung, gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu. Đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, các đoàn Sài Gòn 1,2,3, Hương Mùa Thu, cải lương tuồng cổ Huỳnh Long…còn ai nhớ đến…?

Thế hệ nghệ nhân “khai sáng” sân khấu cải lương như các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Út Trà Ôn… đã không còn nữa, “thế hệ vàng” của các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Minh Vương, Mỹ Châu… cũng đã từ biệt sân khấu, lớp nghệ sĩ kế tiếp cũng bị mai một: người ra nước ngoài định cư, người ở lại chuyển sang tấu hài diễn kịch đóng phim lập gia đình bỏ nghề… Có ai nhớ được tên một nghệ sĩ cải lương nào thuộc thế hệ thứ tư không…?

Vậy nhưng cuộc thi “Bông lúa vàng” của Đài tiếng nói nhân dân TPHCM vẫn thu hút hàng ngàn lượt thí sinh tham gia, đủ lứa tuổi đủ nghề nghiệp, sống ở thành phố hay ở tỉnh vẫn say mê thuộc nằm lòng nhiều bài bản cổ… Những chương trình ca cổ theo yêu cầu vẫn luôn nhận được hàng ngàn lời đề nghị, lời nhắn gửi… của người yêu gửi cho người yêu, con gửi tặng ba má, bạn gửi cho bạn, của trò gửi tặng thầy… Người Nam bộ vẫn yêu cải lương và coi nó như cách tỏ bày tình cảm một cách chân thành và thoải mái nhất. Trong các quán karaoke, “hát với nhau” không bao giờ thiếu những bài ca tân cổ giao duyên – một sự “cải biên” để thích nghi với đời sống thị thành hồi thập niên 1970 của cải lương. Và người Sài Gòn, người miền Tây luôn sẵn sàng ca một, hai câu vọng cổ khi bạn bè yêu cầu. Dù là karaoke nhưng khi hạ giọng “xuống xề” người ca vẫn nhận được những tràng pháo tay giòn giã của bạn bè. Chèo ở miền Bắc, hát bài chòi hay hát bội ở miền Trung có lẽ phải “ganh tỵ” với cải lương về hiện tượng này!

Gần đây Đờn ca Tài tử Nam bộ được Unesco vinh danh là Di sản văn hóa Phi vật thể của thế giới. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể được công nhận khi chúng đã và đang có nguy cơ biến mất, biến dạng bởi những làn điệu lời ca mộc mạc chân chất không còn chỗ trong quay cuồng đời sống hiện đại, bởi con người không có sự hiểu biết đầy đủ để quý trọng và gìn giữ nó. Khi đó di sản văn hóa mới được vội vã “bảo tồn”. Một ngày nào đó có thể Cải lương cũng được vinh danh như thế…  Lẽ nào sẽ có một ngày Sài Gòn, Nam bộ không còn cải lương?!

Miệt vườn vẫn lướt qua xanh ngát ngoài kia, nắng đứng bóng tiếng gà trưa vẫn eo óc ngoài kia, giọng ca Lệ Thủy vẫn ngọt ngào quyến rũ trong bản vọng cổ trưa buồn như tiếng thở dài…

Đường về quê

Đường về miền Tây từ TP. Hồ Chí Minh mới vài năm gần đây có đoạn cao tốc từ Bình Chánh đến Trung Lương, còn lại gần như toàn tuyến vẫn chật hẹp dù đã giải tỏa mở rộng thêm nhưng mỗi bên cũng chỉ có 2 làn xe hơi. Xe máy nhiều quá đành đi vào làn đường xe hơi, nguy hiểm vô cùng. Có vài đoạn đường tránh nhưng lưu lượng xe ở quốc lộ Một vẫn không giải tỏa được bao nhiêu. Không hiểu sao đã bao nhiêu năm mà đường miền Tây vẫn “kiên trì độc đạo”?

Ngày nào cũng vậy, từ sáng tới khuya đường miền Tây lúc nào cũng nườm nượp xe cộ. Trạm dừng chân sáng đèn suốt đêm, hàng quán nơi thị tứ luôn thức khuya dậy sớm. Dưới những con sông, kinh rạch cắt ngang đường lộ có lúc nào im tiếng ghe máy ngược xuôi…

Từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây có bao nhiêu cây cầu? Chắc không ai biết hết. Cũng mới vài năm nay nhiều cây cầu đã được xây mới, xây thêm cầu đôi để ngày thường tránh nạn kẹt xe nhưng vào dịp lễ tết thì vẫn ùn ứ ở những “|nút thắt cổ chai” hai bên đầu cầu. Chỉ riêng con đường vô thành phố Cao Lãnh từ quốc lộ Một rẽ ngã ba An Hữu khoảng 30km đâu đã hơn 20 cây cầu, hồi “thế kỷ trước” toàn cầu sắt lót ván gập ghình, xe “bò” qua cầu và hành khách phải xuống đi bộ, chú lơ xe còn phải vác theo tấm ván lót những đoạn ván cầu bị mục. Nay cầu đã được xây bằng bê ton, đường trải nhựa ngon lành, thời gian qua đoạn đường này rút lại chỉ hơn một tiếng đồng hồ thay vì nửa ngày như trước.

Đường miền Tây vào mùa Tết đẹp nhất vì nhà nào cũng có vài cây mai, có khi cả một vườn mai nở vàng rực. Cây mai như người bạn của mỗi gia đình miền Tây, rằm tháng Chạp lặt lá để Tết nở hoa, nhìn mai nở biết người thân sắp về ăn tết. Nhìn mai rụng biết người thân sắp rời nhà đi thành phố… Cây mai trồng trong sân vườn nhưng người miền tây ít khi chặt cành mai vô chưng trong nhà mà để mai nở tự nhiên ngoài vườn. Cũng giống như ở vùng núi phía miền Bắc, đào, mận trồng trước nhà, mùa xuân nở hoa hồng hoa trắng đẹp vô cùng. Vùng thôn quê miền Bắc ít thấy trồng đào phổ biến như nông thôn Nam bộ trồng mai.

Mỗi lần về quê thấy con sông Cao Lãnh ngày càng cạn hẹp dù đã được kè bờ (má vẫn kể ngày xưa sông rộng tàu lớn còn đi về tận Nam Vang), thấy khu đất nền nhà ông cố bây giờ thành những dãy nhà phố đông đúc, nhớ hồi đó nhà máy xay gạo của ông ngoại với đống trấu đống tro cao ngang mái nhà sàn của ngoại. Trong nhà sàn gian giữa có dãy bàn thờ mà ngày giỗ ngày tết, bà ngoại, má và mấy dì mấy mợ chỉ lo cúng cơm ở đó cũng hết ngày. Nét xưa nay không còn nữa…
May mà còn những cây mai vàng khoe sắc rực rỡ trong sân nhà cậu Út để mỗi lần về lại nhận ra, dù sống ở đâu thì trong mỗi người vẫn luôn còn đó một quê hương…

 Cầu Mỹ Thuận 1 và 2 trên sông Tiền



BẢO TỒN ĐÌNH Ở TP. HỒ CHÍ MINH - Trường hợp đình An Khánh – Thủ Thiêm

 Trích bài NCKH tại Hội thảo về Di tích lịch sử Đình An Khánh - Thủ Thiêm

3.     Đình ở đô thị: từ giá trị truyền thống đến chức năng hiện đại

3.1 Đình Nam bộ thể hiện rõ nét những giá trị của đời sống văn hóa Nam bộ. Trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Nam bộ đã có sự tiếp nhận nhiều yếu tố mới và biến đổi yếu tố cũ trong kỹ thuật sản xuất, lối sống, sinh hoạt, văn hóa cộng đồng... để phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội mới. Vì vậy, thiết chế đình làng ở Nam bộ cũng không nằm ngoài “quy luật” đó, đình làng Nam bộ không nên bị bó hẹp ở sinh hoạt tín ngưỡng truyền thốngcần thể hiện nhu cầu của đời sống mới bên cạnh lưu giữ lối sống nếp sống truyền thống.

 Theo nhà văn Sơn Nam[1], ở vùng đất Nam bộ đình làng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh lưu dân vào khai phá vùng đất mới: xây dựng đình thì làng mới tạo được thế đứng, tăng cường gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ. Bằng không thì “làng chỉ như lục bình trôi sông, một dạng lưu dân tập thể. Cho nên, người lưu dân lập làng ở đâu dựng đình ở đó. Đình có vai trò “trung tâm” của làng xã, nơi tổ chức các lễ hội và những hoạt động văn hóa – xã hội khác.

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh lại có một nhận định thú vị và chính xác: Đình Nam bộ có lẽ đáng chú ý hơn các nơi khác vì đó còn là “biểu tượng” văn hóa của chủ thể quốc gia dân tộc. Đối với người Nam bộ, đình từng là nơi thể hiện hầu như toàn bộ thế giới quan và nhân sinh quan của người lưu dân… Vẻ uy nghi trang trọng của đình, ngoài căn nguyên tín ngưỡng, còn là sự kết tinh của “hồn thiêng sông núi” được xây đắp qua nhiều thế hệ, bằng máu và mồ hôi khai phá và bảo vệ đất đai làng xóm. Vì vậy, bảo tồn gìn giữ sự hiện diện của đình làng là một cách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai[2].

Với ý nghĩa đó, ở Nam bộ nói chung hay ở Sài Gòn – TP.HCM nói riêng, đình làng luôn là nơi lưu truyền truyền thống quê hương bản quán của mỗi cộng đồng, của từng lớp cư dân người Việt. Đình là nơi thờ cúng và ghi nhớ công lao các bậc Tiên hiền Hậu hiền khai hoang lập ấp, xây dựng xóm làng. Đình làng là “không gian cộng cảm” của cộng đồng về những ký ức chung, những sinh hoạt và thực hành tín ngưỡng, văn hóa chung. Từ cuối thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nhanh chóng trên phạm vi cả nước trong đó có TP.HCM, đã tác động không nhỏ đến thiết chế văn hóa truyền thống, nhất là đối với sự tồn tại các ngôi đình. Do đó, đình lại càng quan trọng vì đó là không gian lưu giữ, nhắc nhở về những giá trị tinh thần, những mối liên hệ cội nguồn đang ngày càng bị con người xao lãng, mối quan hệ “tình làng nghĩa xóm” có nguy cơ ngày càng lạt lẽo... trong xã hội đô thị phát triển nhanh chóng theo tốc độ internet thời đại toàn cầu.

Để có thể bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình trong đời sống đô thị hiện đại, cần chú ý bảo vệ và nâng cao hai yếu tố quan trọng của đình làng: 1/vai trò, ý nghĩa của đình làng đối với cộng đồng địa phương; 2/chức năng của đình làng phải đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại.

3.2 Quy hoạch đình làng trở thành trung tâm, hạt nhân của khu đô thị, khu dân cư mới. Có thể học tập kinh nghiệm của một số nước châu Âu từ việc quy hoạch, xây dựng những thành phố, khu đô thị mới trên cơ sở bảo tồn và phát huy vai trò của di sản văn hóa ở địa phương, đặc biệt là bảo tồn những nhà thờ cổ mà về khía cạnh xã hội thì ý nghĩa, chức năng tương tự như đình (làng) ở nước ta.

Trong vài năm gần đây, để có kiến thức thực tế về việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị, tôi đã có một số chuyến đi khảo sát Pháp, Đức, Bỉ, Thụy sĩ, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Nga...  Điều khiến tôi tâm đắc nhất khi đến nhiều thành phố du lịch là, dù lớn hay nhỏ, có từ thời cổ xưa hay mới hình thành vài chục năm… hầu như tất cả đều lấy một ngôi làng hoặc thị trấn nhỏ có niên đại sớm nhất ở đó, để làm “điểm tựa” cho “đô thị hóa” và phát triển thành phố. Trong mỗi làng nhỏ hay thị trấn bình thường ấy, dấu tích quá khứ hiện diện mỗi ngày và được trân trọng như là báu vật: trung tậm làng là ngôi nhà thờ cổ kính trong đó còn lưu giữ những bức bích họa trên vòm trần hay bức tranh kính trên khung cửa cao; là quảng trường có tòa nhà trụ sở của làng/trấn, là một cái chợ có mái che, xung quanh vài tiệm cà phê, tiệm ăn lâu đời, quán bia của người địa phương “cha truyền con nối”, phục vụ du khách những món ăn truyền thống với phong cách chuyên nghiệp không thua tiệm ăn ở thành phố lớn mà vẫn ấm áp thân mật như với người cùng làng. Những công trình cổ như nhà thờ, trụ sở làng, chợ, kể cả những ngôi nhà của dân làng... qua thời gian, nhất là trong chiến tranh thế giới thứ 2, đã bị hư hỏng ít nhiều. Nhưng việc trùng tu, tôn tạo đều theo nguyên tắc khoa học, không biến thành công trình hiện đại. Tại đó, ngoài những sinh hoạt truyền thống  còn có nhiều sinh hoạt hiện đại nhất là của giới trẻ. Những công trình cổ, ngôi làng cổ trở nên thân gần gũi hơn với “đô thị mới”, thậm chí cả khi đó là một khu công nghiệp hiện đại.

Quy hoạch này nhất quán qua nhiều thể chế, thể hiện truyền thống tôn trọng lịch sử. Ngày nay đến những nơi đó du khách không chỉ được ngắm nhìn mà còn được cảm nhận, trải nghiệm qua tham quan, mua sắm, ẩm thực, lễ hội… những sinh hoạt “đậm đà bản sắc” của từng thành phố, vùng miền. Thậm chí ngày cuối tuần đến đó chỉ để nghỉ ngơi thư giãn dạo chơi trong khu rừng, bên hồ nước hay trên cánh đồng bạt ngàn hoa... Cách thức bảo tồn, quản lý, khai thác “tài nguyên bản địa” cho thấy di sản tham gia và “phục vụ” cuộc sống đương đại trước hết là vì cộng đồng – chủ nhân của di sản. Không gian công cộng trở thành “tài sản chung” bởi nó là ký ức của bao thế hệ dân làng, rồi lại được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ và làm đẹp hơn. Di sản hình thành từ đó [3].

Tại TP.HCM, những huyện ngoại thành hay ở thành phố mới như Thủ Đức, và sắp tới đây sẽ có thể có thêm những “thành phố trong Thành phố”, các ngôi đình làng hoàn toàn có thể được coi là “hạt nhân” để quy hoạch một khu phố mới, khu dân cư mới. Nếu như xưa kia, qua quá trình làng xóm mở rộng, dần dần ngôi đình trở thành trung tâm của làng về vị trí, vị thế bên cạnh ý nghĩa là trung tâm sinh hoạt tinh thần và hành chính, thì ngày nay cần coi việc bảo tồn đình, chùa hay làng cổ trở thành điểm tựa, đòn bẩy cho sự phát triển hiện đại. Có vậy mới tránh được nguy cơ di dời, phá hủy công trình kiến trúc cổ, làm cho giá trị di sản và giá trị đô thị mới cao hơn.  Tuy nhiên, hiện nay vai trò của đình, chùa trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân khác nhau vì đã có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, do đó sự đầu tư tiền của, công sức vào việc tôn tạo, trùng tu đình, chùa cũng khác nhau.

1.3   Đổi mới sinh hoạt của cộng đồng và bảo tồn lễ hội truyền thống tại đình làng trong đô thị

Để gắn bó hơn với cộng đồng và đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại, sinh hoạt văn hóa của đình cần đa dạng, phong phú hơn đồng thời bảo tồn tốt những lễ hội cổ truyền. Từ sự thay đổi hoàn cảnh kinh tế - xã hội và “chất lượng sống” của dân cư đô thị, nên chăng đình cần có thêm hình thức sinh hoạt, nội dung hoạt động mới trên cơ sở những giá trị cơ bản để tạo ra sức hấp dẫn và nhu cầu từ cộng đồng. Ở Nam bộ nhiều địa phương đã sử dụng, tận dụng không gian, mặt bằng đình làng cho những sinh hoạt cộng đồng có tính “thời điểm”: Hội họp phổ biến chủ trương đường lối mới, thảo luận, đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của chính quyền, phát động các phong trào xã hội của cộng đồng... Không gian ở đình tạo sự thân thiện, gần gũi giữa chính quyền với người dân.

Những sinh hoạt khác phù hợp điều kiện cụ thể của đô thị như tổ chức biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống (đờn ca tài tử, cải lương, hát bội...) với quy mô nhỏ ở đình làng để giới thiệu di sản văn hóa truyền thống cho cộng đồng, nhất là cho giới trẻ. Đồng thời bảo tồn, duy trì Lễ Kỳ Yên hàng năm với nghi thức truyền thống, hạn chế sự tham góp của yếu tố hiện đại không phù hợp, làm biến dạng và giảm giá trị lịch sử của lễ hội cổ truyền. Từ đó sự tiếp nhận và lan truyền các giá trị văn hóa của đình, ý thức lưu truyền của cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc bảo tồn công trình và sinh hoạt đình[4]. Điều cần thiết nhất hiện nay là chính quyền hỗ trợ các Ban quản lý, Ban trị sự, Ban Hội đình về phương thức hoạt động, nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu của cộng đồng, từ đó tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho cộng đồng tổ chức các hoạt động tại đình. Hiện nay có nhiều đình đã bổ sung nhân sự Ban quản lý, Ban trị sự là những người ở độ tuổi mới về hưu, còn sức khỏe, có tâm huyết để năng động hơn trong điều hành và kế thừa, thực hành các nghi lễ trong sinh hoạt tại đình. “Sức sống” của đình có được là nhờ chính sách thiết thực của chính quyền và sự gắn kết, tham gia của cộng đồng.

Các cơ quan văn hóa địa phương (quận, huyện) cần có những hình thức phổ biến giá trị, ý nghĩa đình làng bằng việc dịch các tài liệu văn bản Hán – Nôm liên quan đến lịch sử đình, về danh nhân, nhân thần nhiên thần thờ tự tại đình, để mọi người có điều kiện tìm hiểu. Ban trị sự, ban quản lý đình phối hợp với các trường học tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống về lịch sử và di sản văn hóa địa phương trong đó có đình làng... Kết nối với ngành du lịch để đưa một số ngôi đình có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, về lịch sử, về lễ hội... vào tuyến điểm du lịch của địa phương và kết nối với tuyển điểm du lịch quốc gia. 

Lời kết

Tầm quan trọng của ký ức cộng đồng đặc biệt cần thiết ở đô thị, nơi mà mối liên hệ và tính gắn kết của cộng đồng chưa sâu bền bằng ở nông thôn. Ký ức cộng đồng góp phần xác định cảnh quan tự nhiên và nhân văn – môi trường sống, phản ánh các thành tố văn hóa và sự nhận thức về các yếu tố đó của cộng đồng dân cư đô thị.

Quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho những giá trị vốn có của đô thị mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai trong đô thị. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, áp lực về kinh tế lẫn áp lực của “kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị. Đặc biệt những công trình tín ngưỡng, tôn giáo – thiết chế văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân đô thị thường là đối tượng chịu tác động nhanh và mạnh nhất.

Đình nơi đô thị cần thiết phải được bảo tồn, vì đó là lịch sử đô thị, là dấu tích cho người tứ xứ đến đây biết rằng, mình đang sống trên mảnh đất từng có những lớp người xưa đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt để khai phá và bảo vệ cho những thế hệ sau. Đình nói riêng và di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hóa nói chung ở TP.HCM và Nam bộ có giá trị cực kỷ quan trọng vì đã cho biết “vùng đất Nam bộ không phải là VÙNG ĐẤT MỚI như nhiều người vẫn nghĩ từ trước đến nay”! Đây là một quan niệm cũ cần thay đổi để có thể có ứng xử khác/mới/phù hợp hơn với vùng đất này.

Những hoạt động, sinh hoạt với nội dung mới phù hợp cuộc sống mới sẽ mang lại cho đình làng chức năng tương tự như một “Nhà văn hóa” hay câu lạc bộ ở khu phố. Đình là thiết chế văn hóa của cộng đồng, phục vụ cho cộng đồng địa phương (và khu vực rộng hơn) bằng những sinh hoạt hữu ích với sự thân thiện, gần gũi. Nhưng đình còn là một di sản văn hóa, việc “tích hợp” vào nó chức năng văn hóa mới sẽ góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị một di sản kiến trúc – văn hóa độc đáo của dân tộc trong thời đại toàn cầu.

                 


[1] Sơn Nam, 2009. Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, NXB Trẻ, tr.21.

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2017. Nghĩ ngợi đường xa, NXB Văn hóa văn nghệ, tr.119.

[4] Nguyễn Thị Hậu, 2019. “Đình làng Nam bộ thời 4.0”. Sách Mỗi ngày ta sống. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.178

Sáng nay 15/11 âm lịch Đi dự Lễ cúng Kỳ Yên đình An Khánh, Thủ Thiêm. Có niềm vui nhỏ là đã góp chút công sức cho việc xếp hạng di tích TP cho Đình An Khánh (phục dựng) và Nhà thờ Thủ Thiêm (bảo tồn).






10 năm ở đường sách

  https://tuoitre.vn/10-nam-o-duong-sach-20260111083154317.htm?fbclid=IwY2xjawPQPexleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEe...