NƠI ẤY QUÊ NHÀ

 Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

Nhớ quê

Tuổi càng về chiều người ta càng muốn “quy cố hương” bằng cách hồi tưởng về  ký ức thời còn ở quê, hay là kỷ niệm mỗi lần về quê. Mà nguyên cớ để những hồi ức trở về thì không thiếu.

Trên những con đường ta qua bất cứ gì nhìn thấy đều như giọt nước rơi vào cái ly “nhớ quê” để rồi một ngày sẽ có giọt nước làm tràn ly, nỗi nhớ vỡ òa, không thể không nói ra không kể lại không trải ra trên trang giấy trên màn hình máy tính.

Một lần đi trên đường phố Quận Cam, nhìn thấy mấy tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại chút gì của quê hương bên mình.

Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai J, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm. Giữa buổi mà đói, có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.

Một người bạn, có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi, nhắn về: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 30 năm sống ở nước ngoài, đã tự coi mình như một người Tây “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.

Ở xa thì vậy, còn ở gần thì sao? Quê tôi ở miền Tây, một năm cũng vài lần về tết nhất giỗ chạp, chưa kể đi công việc. Sáng đi tối về hay đi vài ngày, đi xe đò, đi xe riêng, hồi trước còn chạy xe gắn máy nữa… vậy mà lần nào trở lên thành phố cũng bồi hồi (người miền Tây hay gọi Sài Gòn là “thành phố”, lên thành phố, ở thành phố mới dìa…).  Nhớ từ tiếng gà trưa nhớ đến chùm mận bên chái bếp, nhớ từ bờ mương thoảng tiếng cá quẫy trong vườn đến mùi khói bếp lò trấu lúa mới… Mỗi lần về đám giỗ là “quảy” lên nào thịt kho tàu, thịt ram, tôm rang nước dừa, nào dừa xiêm nào xoài nào dưa hấu. À, có ai còn nhớ món bắp đùm thơm mùi nước dừa lá dứa không? Gần nhà ngoại tôi có lò nấu bắp và hấp bắp đùm, khi tôi chuẩn bị ra về là cô em dâu tất tả chạy ra lò xách về mấy chục bắp mới nấu nóng hổi “chị bỏ theo xe lỡ tụi nhỏ đói thì ăn”.

Trên đường miền Tây rất dễ nhận ra “người miền Tây” trên những chiếc xe máy trước sau ràng buộc túi xách ba lô, người chạy xe hay người ngồi sau đều mặc áo khoác giữa ngày nắng như đổ lửa, là để không bị trúng nắng, trúng gió. Mùa tháng chạp gió chướng trên xe còn có mấy giỏ bánh mứt, người vợ ngồi sau cầm bó vạn thọ gói bằng mấy tàu lá ló ra chùm bông vàng rực rỡ, đúng  là vợ chồng chở nhau về nhà ăn tết với ông bà. Lúc quay lên thành phố thế nào cũng có máng ở móc xe mấy đòn bánh tét nhưn đậu nhưn chuối.

 Dọc đường gặp quán cà phê nào ưng ý thì ghé vô, ngả lưng trên những chiếc võng treo tong ten. Bạn có thể nằm đó thật lâu, dù chỉ kêu một ly cà phê ngọt như chè hay một trái dừa xiêm thanh mát, đung đưa dưới ánh nắng xuyên qua tàu lá dừa trên cao, ngó dàn bông giấy đỏ trắng tím vàng rực lên ngoài cửa quán, nghe hết những CD nhạc “sến” mà cô chủ quán luôn lẩm nhẩm hát theo, những "nếu lỡ chúng mình hai đứa xa nhau...", với "tình đẹp mùa chôm chôm" rồi sang "cây trứng cá" rồi lại đi đào ao thả cá gì đấy... lời ca giai điệu của chôm chôm với trứng cá với cây cầu dừa với rau đắng sau hè, rồi phút cuối với sầu tím thiệp hồng, ai khổ vì ai... các kiểu cây trái các kiểu dối lừa đau lòng hờn dỗi, các kiểu chim sáo mồ côi hay chim trắng cô đơn...  Sến là thế đấy nhưng cam đoan khi bạn rời quán tiếp tục lên đường, bạn sẽ thấy cuộc đời không cần gì hơn thế nữa!

Một lần ngồi trong quán ven đường như thế, ngó ra hồ sen bát ngát phía sau quán, nghe hương sen vấn vít, nôn nao theo lời ca  Lâu nay muốn qua thăm em nhưng ngại vì cầu tre lắc lẻo…  Ờ mà nhà quê giờ nhiều cầu tre lắt lẻo đã thay bằng cầu bê tông, vẫn cheo leo nhưng chắc chắn hơn. Đám cưới qua cầu, chú rể dắt tay cô dâu còn cô dâu tay nâng váy dài mà không còn phải cầm đôi giày đi chân không qua cầu khỉ. Bọn trẻ con không còn cơ hội hò reo khi ai đó lỡ trợt chân té xuống kinh rạch, các bà già trầu không phải chép miệng an ủi: đám cưới mà “gặp nước” như vầy là hên lắm nghen.

Nỗi nhớ quê chỉ giản đơn như hương tóc mạ non mà sao khi   Tháng ngày tuổi đời trôi theo níu chân nhau, bạc thêm mái đầu… với quê hương ta vẫn biết “tình mình dù ngăn cách sông chớ đâu cách lòng, mỗi lần nhớ nhau sao nghẹn lời…”.

Vọng cổ trưa

Đã bao lâu rồi mình chưa nghe một câu vọng cổ ở Sài Gòn, cái nôi của nghệ thuật cải lương? Tôi đã tự hỏi như thế khi bất chợt nghe thấy giọng ca Lệ Thủy ngọt ngào chân chất vang lên trong một trưa hè đứng nắng giữa bạt ngàn xanh miệt vườn Nam bộ.

“Hỡi cô đi bán đèn hồng, đèn hồng cô bán má hồng cô bán không… Đèn hồng đã có người mua, má hồng thì đã nắng mưa phai rồi…”

Có lẽ không ở đâu mà một loại hình nghệ thuật lại có sức sống bền bỉ, gắn bó sâu đậm và được người dân yêu thích như cải lương ở Nam bộ. Ra đời mới khoảng gần 100 năm nhưng cải lương đã trở thành “máu thịt” của người Nam bộ, vượt qua những năm kháng chiến chống Pháp bị coi là “ướt át ủy mị”, vượt qua thời gian dài chia cắt Bắc – Nam… Từ sau 1954 ở miền Bắc ngoài Đoàn Cải lương Nam bộ tập kết còn có hàng chục đoàn “cải lương bắc” của các tỉnh. Thời kỳ sau 1975 khó khăn cùng cực mà sân khấu cải lương vẫn  có những vở diễn trở thành kinh điển… Nhưng cho đến hôm nay thì nhiều người vô Sài Gòn, về miền Tây đã phải hỏi thăm “sân khấu cải lương Nam bộ đâu rồi? còn không?”

Ừ nhỉ, từ bao giờ sân khấu cải lương thành phố không còn nhộn nhịp sáng đèn? những “thánh đường” của Cải lương Sài Gòn đâu rồi? Rạp Aristo hay còn gọi là Trung ương Hý Viện, rạp Hưng Đạo, Olimpic, các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn, Thành Xương, Hào Huê, Cao Đồng Hưng, Thủ Đô, Huỳnh Long, Quốc Thái, Cây Gõ… bây giờ đã biến thành gì? Các đoàn cải lương nổi tiếng như Kim Chung, gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu. Đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, các đoàn Sài Gòn 1,2,3, Hương Mùa Thu, cải lương tuồng cổ Huỳnh Long…còn ai nhớ đến…?

Thế hệ nghệ nhân “khai sáng” sân khấu cải lương như các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Út Trà Ôn… đã không còn nữa, “thế hệ vàng” của các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Minh Vương, Mỹ Châu… cũng đã từ biệt sân khấu, lớp nghệ sĩ kế tiếp cũng bị mai một: người ra nước ngoài định cư, người ở lại chuyển sang tấu hài diễn kịch đóng phim lập gia đình bỏ nghề… Có ai nhớ được tên một nghệ sĩ cải lương nào thuộc thế hệ thứ tư không…?

Vậy nhưng cuộc thi “Bông lúa vàng” của Đài tiếng nói nhân dân TPHCM vẫn thu hút hàng ngàn lượt thí sinh tham gia, đủ lứa tuổi đủ nghề nghiệp, sống ở thành phố hay ở tỉnh vẫn say mê thuộc nằm lòng nhiều bài bản cổ… Những chương trình ca cổ theo yêu cầu vẫn luôn nhận được hàng ngàn lời đề nghị, lời nhắn gửi… của người yêu gửi cho người yêu, con gửi tặng ba má, bạn gửi cho bạn, của trò gửi tặng thầy… Người Nam bộ vẫn yêu cải lương và coi nó như cách tỏ bày tình cảm một cách chân thành và thoải mái nhất. Trong các quán karaoke, “hát với nhau” không bao giờ thiếu những bài ca tân cổ giao duyên – một sự “cải biên” để thích nghi với đời sống thị thành hồi thập niên 1970 của cải lương. Và người Sài Gòn, người miền Tây luôn sẵn sàng ca một, hai câu vọng cổ khi bạn bè yêu cầu. Dù là karaoke nhưng khi hạ giọng “xuống xề” người ca vẫn nhận được những tràng pháo tay giòn giã của bạn bè. Chèo ở miền Bắc, hát bài chòi hay hát bội ở miền Trung có lẽ phải “ganh tỵ” với cải lương về hiện tượng này!

Gần đây Đờn ca Tài tử Nam bộ được Unesco vinh danh là Di sản văn hóa Phi vật thể của thế giới. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể được công nhận khi chúng đã và đang có nguy cơ biến mất, biến dạng bởi những làn điệu lời ca mộc mạc chân chất không còn chỗ trong quay cuồng đời sống hiện đại, bởi con người không có sự hiểu biết đầy đủ để quý trọng và gìn giữ nó. Khi đó di sản văn hóa mới được vội vã “bảo tồn”. Một ngày nào đó có thể Cải lương cũng được vinh danh như thế…  Lẽ nào sẽ có một ngày Sài Gòn, Nam bộ không còn cải lương?!

Miệt vườn vẫn lướt qua xanh ngát ngoài kia, nắng đứng bóng tiếng gà trưa vẫn eo óc ngoài kia, giọng ca Lệ Thủy vẫn ngọt ngào quyến rũ trong bản vọng cổ trưa buồn như tiếng thở dài…

Đường về quê

Đường về miền Tây từ TP. Hồ Chí Minh mới vài năm gần đây có đoạn cao tốc từ Bình Chánh đến Trung Lương, còn lại gần như toàn tuyến vẫn chật hẹp dù đã giải tỏa mở rộng thêm nhưng mỗi bên cũng chỉ có 2 làn xe hơi. Xe máy nhiều quá đành đi vào làn đường xe hơi, nguy hiểm vô cùng. Có vài đoạn đường tránh nhưng lưu lượng xe ở quốc lộ Một vẫn không giải tỏa được bao nhiêu. Không hiểu sao đã bao nhiêu năm mà đường miền Tây vẫn “kiên trì độc đạo”?

Ngày nào cũng vậy, từ sáng tới khuya đường miền Tây lúc nào cũng nườm nượp xe cộ. Trạm dừng chân sáng đèn suốt đêm, hàng quán nơi thị tứ luôn thức khuya dậy sớm. Dưới những con sông, kinh rạch cắt ngang đường lộ có lúc nào im tiếng ghe máy ngược xuôi…

Từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây có bao nhiêu cây cầu? Chắc không ai biết hết. Cũng mới vài năm nay nhiều cây cầu đã được xây mới, xây thêm cầu đôi để ngày thường tránh nạn kẹt xe nhưng vào dịp lễ tết thì vẫn ùn ứ ở những “|nút thắt cổ chai” hai bên đầu cầu. Chỉ riêng con đường vô thành phố Cao Lãnh từ quốc lộ Một rẽ ngã ba An Hữu khoảng 30km đâu đã hơn 20 cây cầu, hồi “thế kỷ trước” toàn cầu sắt lót ván gập ghình, xe “bò” qua cầu và hành khách phải xuống đi bộ, chú lơ xe còn phải vác theo tấm ván lót những đoạn ván cầu bị mục. Nay cầu đã được xây bằng bê ton, đường trải nhựa ngon lành, thời gian qua đoạn đường này rút lại chỉ hơn một tiếng đồng hồ thay vì nửa ngày như trước.

Đường miền Tây vào mùa Tết đẹp nhất vì nhà nào cũng có vài cây mai, có khi cả một vườn mai nở vàng rực. Cây mai như người bạn của mỗi gia đình miền Tây, rằm tháng Chạp lặt lá để Tết nở hoa, nhìn mai nở biết người thân sắp về ăn tết. Nhìn mai rụng biết người thân sắp rời nhà đi thành phố… Cây mai trồng trong sân vườn nhưng người miền tây ít khi chặt cành mai vô chưng trong nhà mà để mai nở tự nhiên ngoài vườn. Cũng giống như ở vùng núi phía miền Bắc, đào, mận trồng trước nhà, mùa xuân nở hoa hồng hoa trắng đẹp vô cùng. Vùng thôn quê miền Bắc ít thấy trồng đào phổ biến như nông thôn Nam bộ trồng mai.

Mỗi lần về quê thấy con sông Cao Lãnh ngày càng cạn hẹp dù đã được kè bờ (má vẫn kể ngày xưa sông rộng tàu lớn còn đi về tận Nam Vang), thấy khu đất nền nhà ông cố bây giờ thành những dãy nhà phố đông đúc, nhớ hồi đó nhà máy xay gạo của ông ngoại với đống trấu đống tro cao ngang mái nhà sàn của ngoại. Trong nhà sàn gian giữa có dãy bàn thờ mà ngày giỗ ngày tết, bà ngoại, má và mấy dì mấy mợ chỉ lo cúng cơm ở đó cũng hết ngày. Nét xưa nay không còn nữa…
May mà còn những cây mai vàng khoe sắc rực rỡ trong sân nhà cậu Út để mỗi lần về lại nhận ra, dù sống ở đâu thì trong mỗi người vẫn luôn còn đó một quê hương…

 Cầu Mỹ Thuận 1 và 2 trên sông Tiền



BẢO TỒN ĐÌNH Ở TP. HỒ CHÍ MINH - Trường hợp đình An Khánh – Thủ Thiêm

 Trích bài NCKH tại Hội thảo về Di tích lịch sử Đình An Khánh - Thủ Thiêm

3.     Đình ở đô thị: từ giá trị truyền thống đến chức năng hiện đại

3.1 Đình Nam bộ thể hiện rõ nét những giá trị của đời sống văn hóa Nam bộ. Trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Nam bộ đã có sự tiếp nhận nhiều yếu tố mới và biến đổi yếu tố cũ trong kỹ thuật sản xuất, lối sống, sinh hoạt, văn hóa cộng đồng... để phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội mới. Vì vậy, thiết chế đình làng ở Nam bộ cũng không nằm ngoài “quy luật” đó, đình làng Nam bộ không nên bị bó hẹp ở sinh hoạt tín ngưỡng truyền thốngcần thể hiện nhu cầu của đời sống mới bên cạnh lưu giữ lối sống nếp sống truyền thống.

 Theo nhà văn Sơn Nam[1], ở vùng đất Nam bộ đình làng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh lưu dân vào khai phá vùng đất mới: xây dựng đình thì làng mới tạo được thế đứng, tăng cường gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ. Bằng không thì “làng chỉ như lục bình trôi sông, một dạng lưu dân tập thể. Cho nên, người lưu dân lập làng ở đâu dựng đình ở đó. Đình có vai trò “trung tâm” của làng xã, nơi tổ chức các lễ hội và những hoạt động văn hóa – xã hội khác.

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh lại có một nhận định thú vị và chính xác: Đình Nam bộ có lẽ đáng chú ý hơn các nơi khác vì đó còn là “biểu tượng” văn hóa của chủ thể quốc gia dân tộc. Đối với người Nam bộ, đình từng là nơi thể hiện hầu như toàn bộ thế giới quan và nhân sinh quan của người lưu dân… Vẻ uy nghi trang trọng của đình, ngoài căn nguyên tín ngưỡng, còn là sự kết tinh của “hồn thiêng sông núi” được xây đắp qua nhiều thế hệ, bằng máu và mồ hôi khai phá và bảo vệ đất đai làng xóm. Vì vậy, bảo tồn gìn giữ sự hiện diện của đình làng là một cách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai[2].

Với ý nghĩa đó, ở Nam bộ nói chung hay ở Sài Gòn – TP.HCM nói riêng, đình làng luôn là nơi lưu truyền truyền thống quê hương bản quán của mỗi cộng đồng, của từng lớp cư dân người Việt. Đình là nơi thờ cúng và ghi nhớ công lao các bậc Tiên hiền Hậu hiền khai hoang lập ấp, xây dựng xóm làng. Đình làng là “không gian cộng cảm” của cộng đồng về những ký ức chung, những sinh hoạt và thực hành tín ngưỡng, văn hóa chung. Từ cuối thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nhanh chóng trên phạm vi cả nước trong đó có TP.HCM, đã tác động không nhỏ đến thiết chế văn hóa truyền thống, nhất là đối với sự tồn tại các ngôi đình. Do đó, đình lại càng quan trọng vì đó là không gian lưu giữ, nhắc nhở về những giá trị tinh thần, những mối liên hệ cội nguồn đang ngày càng bị con người xao lãng, mối quan hệ “tình làng nghĩa xóm” có nguy cơ ngày càng lạt lẽo... trong xã hội đô thị phát triển nhanh chóng theo tốc độ internet thời đại toàn cầu.

Để có thể bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình trong đời sống đô thị hiện đại, cần chú ý bảo vệ và nâng cao hai yếu tố quan trọng của đình làng: 1/vai trò, ý nghĩa của đình làng đối với cộng đồng địa phương; 2/chức năng của đình làng phải đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại.

3.2 Quy hoạch đình làng trở thành trung tâm, hạt nhân của khu đô thị, khu dân cư mới. Có thể học tập kinh nghiệm của một số nước châu Âu từ việc quy hoạch, xây dựng những thành phố, khu đô thị mới trên cơ sở bảo tồn và phát huy vai trò của di sản văn hóa ở địa phương, đặc biệt là bảo tồn những nhà thờ cổ mà về khía cạnh xã hội thì ý nghĩa, chức năng tương tự như đình (làng) ở nước ta.

Trong vài năm gần đây, để có kiến thức thực tế về việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị, tôi đã có một số chuyến đi khảo sát Pháp, Đức, Bỉ, Thụy sĩ, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Nga...  Điều khiến tôi tâm đắc nhất khi đến nhiều thành phố du lịch là, dù lớn hay nhỏ, có từ thời cổ xưa hay mới hình thành vài chục năm… hầu như tất cả đều lấy một ngôi làng hoặc thị trấn nhỏ có niên đại sớm nhất ở đó, để làm “điểm tựa” cho “đô thị hóa” và phát triển thành phố. Trong mỗi làng nhỏ hay thị trấn bình thường ấy, dấu tích quá khứ hiện diện mỗi ngày và được trân trọng như là báu vật: trung tậm làng là ngôi nhà thờ cổ kính trong đó còn lưu giữ những bức bích họa trên vòm trần hay bức tranh kính trên khung cửa cao; là quảng trường có tòa nhà trụ sở của làng/trấn, là một cái chợ có mái che, xung quanh vài tiệm cà phê, tiệm ăn lâu đời, quán bia của người địa phương “cha truyền con nối”, phục vụ du khách những món ăn truyền thống với phong cách chuyên nghiệp không thua tiệm ăn ở thành phố lớn mà vẫn ấm áp thân mật như với người cùng làng. Những công trình cổ như nhà thờ, trụ sở làng, chợ, kể cả những ngôi nhà của dân làng... qua thời gian, nhất là trong chiến tranh thế giới thứ 2, đã bị hư hỏng ít nhiều. Nhưng việc trùng tu, tôn tạo đều theo nguyên tắc khoa học, không biến thành công trình hiện đại. Tại đó, ngoài những sinh hoạt truyền thống  còn có nhiều sinh hoạt hiện đại nhất là của giới trẻ. Những công trình cổ, ngôi làng cổ trở nên thân gần gũi hơn với “đô thị mới”, thậm chí cả khi đó là một khu công nghiệp hiện đại.

Quy hoạch này nhất quán qua nhiều thể chế, thể hiện truyền thống tôn trọng lịch sử. Ngày nay đến những nơi đó du khách không chỉ được ngắm nhìn mà còn được cảm nhận, trải nghiệm qua tham quan, mua sắm, ẩm thực, lễ hội… những sinh hoạt “đậm đà bản sắc” của từng thành phố, vùng miền. Thậm chí ngày cuối tuần đến đó chỉ để nghỉ ngơi thư giãn dạo chơi trong khu rừng, bên hồ nước hay trên cánh đồng bạt ngàn hoa... Cách thức bảo tồn, quản lý, khai thác “tài nguyên bản địa” cho thấy di sản tham gia và “phục vụ” cuộc sống đương đại trước hết là vì cộng đồng – chủ nhân của di sản. Không gian công cộng trở thành “tài sản chung” bởi nó là ký ức của bao thế hệ dân làng, rồi lại được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ và làm đẹp hơn. Di sản hình thành từ đó [3].

Tại TP.HCM, những huyện ngoại thành hay ở thành phố mới như Thủ Đức, và sắp tới đây sẽ có thể có thêm những “thành phố trong Thành phố”, các ngôi đình làng hoàn toàn có thể được coi là “hạt nhân” để quy hoạch một khu phố mới, khu dân cư mới. Nếu như xưa kia, qua quá trình làng xóm mở rộng, dần dần ngôi đình trở thành trung tâm của làng về vị trí, vị thế bên cạnh ý nghĩa là trung tâm sinh hoạt tinh thần và hành chính, thì ngày nay cần coi việc bảo tồn đình, chùa hay làng cổ trở thành điểm tựa, đòn bẩy cho sự phát triển hiện đại. Có vậy mới tránh được nguy cơ di dời, phá hủy công trình kiến trúc cổ, làm cho giá trị di sản và giá trị đô thị mới cao hơn.  Tuy nhiên, hiện nay vai trò của đình, chùa trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân khác nhau vì đã có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, do đó sự đầu tư tiền của, công sức vào việc tôn tạo, trùng tu đình, chùa cũng khác nhau.

1.3   Đổi mới sinh hoạt của cộng đồng và bảo tồn lễ hội truyền thống tại đình làng trong đô thị

Để gắn bó hơn với cộng đồng và đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại, sinh hoạt văn hóa của đình cần đa dạng, phong phú hơn đồng thời bảo tồn tốt những lễ hội cổ truyền. Từ sự thay đổi hoàn cảnh kinh tế - xã hội và “chất lượng sống” của dân cư đô thị, nên chăng đình cần có thêm hình thức sinh hoạt, nội dung hoạt động mới trên cơ sở những giá trị cơ bản để tạo ra sức hấp dẫn và nhu cầu từ cộng đồng. Ở Nam bộ nhiều địa phương đã sử dụng, tận dụng không gian, mặt bằng đình làng cho những sinh hoạt cộng đồng có tính “thời điểm”: Hội họp phổ biến chủ trương đường lối mới, thảo luận, đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của chính quyền, phát động các phong trào xã hội của cộng đồng... Không gian ở đình tạo sự thân thiện, gần gũi giữa chính quyền với người dân.

Những sinh hoạt khác phù hợp điều kiện cụ thể của đô thị như tổ chức biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống (đờn ca tài tử, cải lương, hát bội...) với quy mô nhỏ ở đình làng để giới thiệu di sản văn hóa truyền thống cho cộng đồng, nhất là cho giới trẻ. Đồng thời bảo tồn, duy trì Lễ Kỳ Yên hàng năm với nghi thức truyền thống, hạn chế sự tham góp của yếu tố hiện đại không phù hợp, làm biến dạng và giảm giá trị lịch sử của lễ hội cổ truyền. Từ đó sự tiếp nhận và lan truyền các giá trị văn hóa của đình, ý thức lưu truyền của cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc bảo tồn công trình và sinh hoạt đình[4]. Điều cần thiết nhất hiện nay là chính quyền hỗ trợ các Ban quản lý, Ban trị sự, Ban Hội đình về phương thức hoạt động, nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu của cộng đồng, từ đó tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho cộng đồng tổ chức các hoạt động tại đình. Hiện nay có nhiều đình đã bổ sung nhân sự Ban quản lý, Ban trị sự là những người ở độ tuổi mới về hưu, còn sức khỏe, có tâm huyết để năng động hơn trong điều hành và kế thừa, thực hành các nghi lễ trong sinh hoạt tại đình. “Sức sống” của đình có được là nhờ chính sách thiết thực của chính quyền và sự gắn kết, tham gia của cộng đồng.

Các cơ quan văn hóa địa phương (quận, huyện) cần có những hình thức phổ biến giá trị, ý nghĩa đình làng bằng việc dịch các tài liệu văn bản Hán – Nôm liên quan đến lịch sử đình, về danh nhân, nhân thần nhiên thần thờ tự tại đình, để mọi người có điều kiện tìm hiểu. Ban trị sự, ban quản lý đình phối hợp với các trường học tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống về lịch sử và di sản văn hóa địa phương trong đó có đình làng... Kết nối với ngành du lịch để đưa một số ngôi đình có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, về lịch sử, về lễ hội... vào tuyến điểm du lịch của địa phương và kết nối với tuyển điểm du lịch quốc gia. 

Lời kết

Tầm quan trọng của ký ức cộng đồng đặc biệt cần thiết ở đô thị, nơi mà mối liên hệ và tính gắn kết của cộng đồng chưa sâu bền bằng ở nông thôn. Ký ức cộng đồng góp phần xác định cảnh quan tự nhiên và nhân văn – môi trường sống, phản ánh các thành tố văn hóa và sự nhận thức về các yếu tố đó của cộng đồng dân cư đô thị.

Quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho những giá trị vốn có của đô thị mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai trong đô thị. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, áp lực về kinh tế lẫn áp lực của “kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị. Đặc biệt những công trình tín ngưỡng, tôn giáo – thiết chế văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân đô thị thường là đối tượng chịu tác động nhanh và mạnh nhất.

Đình nơi đô thị cần thiết phải được bảo tồn, vì đó là lịch sử đô thị, là dấu tích cho người tứ xứ đến đây biết rằng, mình đang sống trên mảnh đất từng có những lớp người xưa đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt để khai phá và bảo vệ cho những thế hệ sau. Đình nói riêng và di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hóa nói chung ở TP.HCM và Nam bộ có giá trị cực kỷ quan trọng vì đã cho biết “vùng đất Nam bộ không phải là VÙNG ĐẤT MỚI như nhiều người vẫn nghĩ từ trước đến nay”! Đây là một quan niệm cũ cần thay đổi để có thể có ứng xử khác/mới/phù hợp hơn với vùng đất này.

Những hoạt động, sinh hoạt với nội dung mới phù hợp cuộc sống mới sẽ mang lại cho đình làng chức năng tương tự như một “Nhà văn hóa” hay câu lạc bộ ở khu phố. Đình là thiết chế văn hóa của cộng đồng, phục vụ cho cộng đồng địa phương (và khu vực rộng hơn) bằng những sinh hoạt hữu ích với sự thân thiện, gần gũi. Nhưng đình còn là một di sản văn hóa, việc “tích hợp” vào nó chức năng văn hóa mới sẽ góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị một di sản kiến trúc – văn hóa độc đáo của dân tộc trong thời đại toàn cầu.

                 


[1] Sơn Nam, 2009. Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, NXB Trẻ, tr.21.

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2017. Nghĩ ngợi đường xa, NXB Văn hóa văn nghệ, tr.119.

[4] Nguyễn Thị Hậu, 2019. “Đình làng Nam bộ thời 4.0”. Sách Mỗi ngày ta sống. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.178

Sáng nay 15/11 âm lịch Đi dự Lễ cúng Kỳ Yên đình An Khánh, Thủ Thiêm. Có niềm vui nhỏ là đã góp chút công sức cho việc xếp hạng di tích TP cho Đình An Khánh (phục dựng) và Nhà thờ Thủ Thiêm (bảo tồn).






Chuyện bể show "chim trời"... cá nước :)

 Chuyện bể show "chim trời" theo mình, bên tổ chức sai cái lý/luật còn bên GĐ âm nhạc (đại diện người diễn) không được cái tình! Cả hai bên đều có lỗi đối với khán giả - người "nuôi" cả hai nhưng lại chịu hậu quả cả hai gây ra.

Lựa chọn kiểu gì cũng là thái độ và trách nhiệm với xã hội. So sánh nào cũng là khập khiễng, nhưng xin kể câu chuyện của mình.
Từ nhiều năm qua mình thường được mời giảng dạy ở một số nơi, đều có hợp đồng ghi rõ thời gian, tiến độ và chi phí thù lao... Nhưng có nơi mình không nhận được thù lao đúng hạn. Thường chậm hơn 1,2 tháng, dù tất cả công việc giảng dạy, ra đề, chấm bài, nộp điểm... mình đều hoàn thành đúng hạn!
Cá biệt có lần sau hơn nửa năm, sắp dạy khoá sau rồi mình vẫn chưa được nhận thù lao khoá trước. Nhắc nhiều lần vẫn chỉ nhận được hứa/hẹn. Mình ra "tối hậu thư": nếu không thanh toán khoá trước mình sẽ không lên lớp cho khoá sau, dù đã có thời khoá biểu.
Rồi đến sát ngày dạy vẫn không có gì, bên A lại nhắn nhe xin lỗi vì lý do xyz... Ngộ ha, học phí của NCS thì thu đủ thu sớm không ai được nợ, nhưng giảng viên thì cứ bị nợ!. Dù cáu lắm nhưng mình vẫn chọn... lên lớp, vì không thể để các bạn NCS mất tiền mất thời gian và bỏ công việc đến học mà không có thầy cô.
Ai coi người học chỉ là "người mua chữ" nhưng bọn mình đi dạy không bao giờ coi việc giảng dạy là "đi bán chữ", vì quan hệ giữa người dạy và người học - ở bất cứ cấp học nào - không phải là việc "có tiền là xong". Vì vậy, mình và đồng nghiệp vẫn chọn lên lớp đúng giờ và bằng tâm huyết của mình.
Tiền thù lao giảng dạy của mình chả bao nhiêu đâu, nhưng ít cũng là công sức của mình. Cáu thì cãi nhau với bên có trách nhiệm, chứ ai lại bỏ mặc người học!
P/s. Chim trời cá nước... đều liên quan với nhau, đều là "đặc sản nhà hàng" hết 🙂

LỜI CHA DẶN (nhân tiện đăng lại )

Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris được ký kết, hòa bình lập lại. Tết năm đó, trong không khí náo nức chung, tôi cũng có một niềm vui nhỏ dành tặng ba nhân ngày đầu Xuân. Đó là việc tôi đã thi đậu vào trường Nghệ thuật Sân khấu. Khi tôi hồi hộp báo tin đó, ba ngồi lặng đi, lộ vẻ băn khoăn lo lắng. Cuối cùng ba nói với tôi, trang nghiêm mà trìu mến:

- Ba rất vui khi có một đứa con muốn nối nghiệp ba. Trước khi con tự quyết định tương lai của mình, ba muốn nói với con điều này. Mọi nghề nghiệp đều đẹp và đều sẽ thành công nếu ta lao động kiên nhẫn và trung thực. Nhưng trong nghệ thuật thì còn phải có một điều kiện quan trọng, đó là tài năng. Đã là diễn viên, phải là một diễn viên giỏi. Đây không phải là chuyện danh tiếng, mà là chuyện làm gì để cống hiến cho Tổ quốc được nhiều hơn. Còn nếu chỉ là một diễn viên “cầm cờ, chạy hiệu” thì thà làm nghề khác còn có ích hơn.

Suy nghĩ một lát ba tôi nói thêm: Phụ nữ, nếu theo một nghề mà không làm được thì cơ hội đổi nghề khó khăn hơn nam giới. Là phụ nữ con cần làm tốt một nghề. Khi có đồng tiền do mình làm ra thì con không phải phụ thuộc vào ai.

Lần đầu tiên ba tôi tâm sự với tôi về nghề nghiệp của mình cũng như những vui buồn của nó. Cũng từ khi ấy, khi tròn 15 tuổi tôi đã thực sự trở thành người bạn nhỏ của ba.

Cho đến ngày tôi tốt nghiệp đại học, được trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ba tôi đã chúc mừng tôi và nói:

- Người thầy giáo cũng phải có một tâm hồn nghệ sĩ, bởi đều là những “kỹ sư tâm hồn”. Phải yêu nghề, yêu người thật sâu sắc thì mới có thể đứng trên bục giảng hay trên sân khấu mà truyền đạt mọi mặt cuộc sống đến với người nghe, người xem. Hơn nữa, thầy giáo hay nghệ sĩ cũng đều phải sống trung thực, có sống trung thực thì mới không mắc cỡ, không ngượng mồm khi giáo dục người khác về cái đẹp, về cái tốt.

 Nhưng ba tôi cười buồn – Tiếc rằng ngày nay giữa hai nghề này còn có một khoảng cách khá xa. Người thầy giáo thì thiếu tâm hồn nghệ sĩ. Còn người nghệ sĩ lại thiếu đạo đức của người thầy!

(Trích trong cuốn sách “Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu”, NXB Tổng hợp TPHCM, tái bản 2021)

Đó là những lời ba dặn tôi từ nhiều năm trước! Giới nghệ thuật, nghệ sĩ không xa lạ đối với tôi bởi đó là một phần cuộc sống của gia đình tôi trong gần nửa thế kỷ. Mỗi khi xảy ra những “tai tiếng” của giới này tôi lại nhớ đến ba tôi và thế hệ của ông: Đó là những nghệ sĩ tài năng, nhiều người trong họ cũng có vài “tật” khó tránh của “trai tài gái sắc”. Nhưng đó là thế hệ nghệ sĩ luôn tôn trọng, yêu quý khán giả, có trách nhiệm với khán giả trong từng vai diễn, luôn hướng khán giả đến thẩm mỹ tốt đẹp qua ngôn từ, ứng xử của những vai diễn trong chính kịch và cả hài kịch. Bởi họ hiểu, sân khấu là cuộc đời được phóng chiếu lên cả điều xấu xa và tốt đẹp!

#vunvatdoithuong

27.1.2023


KẾT NĂM 2025 - 1/4 ĐẦU THẾ KỶ XXI

 Thế là năm 2025 đang ở những giờ cuối...

Buổi sáng ngồi ở quán cà phê chếch Nhà thờ Đức Bà. Tại cái bàn quen thuộc được hai anh chị thân quý “đặt riêng” cho nhóm bạn bè, mình đến sớm chờ các anh chị, ngắm nhìn đường phố nhộn nhịp vội vã mà vẫn có gì đó bồi hồi... Thời tiết Sài Gòn mát mẻ, se se hơi gió mang lại không khí tết sớm. Dường như những khoảnh khắc cuối năm bao giờ cũng mang lại cho người ta cảm giác tiếc nuối một điều gì đó...

Các anh chị thân quen là những “người Sài Gòn” đúng nghĩa, dù quê quán ở miền Bắc, xứ Quảng, miền Tây... ngồi với nhau trò chuyện bằng các giọng “quê nhà” nhưng chung những ý tưởng, tình cảm, nghĩ suy, về cuộc sống và những sự kiện xã hội... Thế hệ các anh chị là những trí thức đúng nghĩa, không chỉ ở nền tảng văn hóa, trình độ học thức mà ở thái độ với thời cuộc. Giờ hiếm còn những người như vậy, ngay cả ở Sài Gòn – “cái nôi” của sự năng động, dám nghĩ dám nói dám làm!

Cuộc trò chuyện vui vẻ nhưng không thiếu những khoảng lặng, nửa vui nửa buồn. Là một kiểu bâng khuâng vì ai cũng biết mình đã đi qua rất nhiều thứ: những ý tưởng còn dang dở, những câu hỏi chưa kịp trả lời trọn vẹn, những đoạn đường tưởng quen mà vẫn thấy mới khi ngoái lại. Cuối năm giống như một “điểm dừng” ngắn không để ở lại, mà để nhìn lại cho rõ hơn.

Với mình, sự bâng khuâng ấy còn đến từ việc được đồng hành cùng những người nghiêm túc với tri thức, với ký ức và với giá trị lâu dài. Những cuộc trò chuyện không ồn ào, nhưng có chiều sâu, và chính điều đó làm cho thời khắc cuối năm trở nên có ý nghĩa hơn.

Nếu bạn cũng đang thấy lòng mình chùng xuống một chút thì không sao cả. Bâng khuâng là dấu hiệu cho thấy ta đã sống không hời hợt trong năm vừa qua. Rồi ngày mai, năm mới sẽ đến. Ta lại đi tiếp nhưng đi với một lớp trầm tích cảm xúc, tri thức dày hơn trong lòng.

Có lẽ không cần nói gì thêm nữa. Chỉ mong khoảnh khắc cuối năm này, bạn và tôi cùng thấy nhẹ hơn một chút, ấm hơn một chút, như khi tự tay giở lại vài trang “sách đời”, biết rằng mình đã sống thật và sống hết mình.

Hẹn nhé, 2026.

-----

Chuyến đi cuối của năm 2025: Làng hoa Chợ Lách - Bến Tre, Nhà thờ Cái Mơn, Cúng Miếu Bà và mộ tổ ở P.7 Bến Tre








 


GA XE LỬA – NƠI LƯU GIỮ KÝ ỨC ĐÔ THỊ

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

1.

Những thành phố trên thế giới mà tôi từng qua thường có nhà ga xe lửa cổ. Tuổi các nhà ga này cũng trên trăm năm, có khi hơn nữa. Khi đường sắt xuất hiện và phổ biến trên thế giới vào thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 thì ga xe lửa trở thành nơi tiếp xúc đầu tiên giữa đô thị truyền thống thời cổ - trung đại và một phương thức giao thông công cộng mới, từ đó các luồng kỹ thuật – thương mại – dân cư mới mạnh mẽ tràn vào, các thành phố chuyển sang thời cận – hiện đại.

Có thể nhận ra vai trò trung tâm của các nhà ga trong quá trình tái cấu trúc đô thị: khu vực quanh ga thường hình khu cư trú mới, chợ mới, kho bãi, xưởng, khách sạn, bưu điện… Thành phố phát triển và mở rộng, mang diện mạo hiện đại khác với khu vực trung tâm là đô thị cổ. Quá trình xây dựng nhà ga và hệ thống đường sắt quanh đô thị thường tìm thấy di tích các thời đã qua, như nền kiến trúc, mộ táng, nền móng thành quách... Có lẽ vì vậy mà mỗi lần bước vào một nhà ga nào đó, tôi luôn có cảm giác như đang bước vào “không gian lịch sử đô thị – nơi quá khứ hiện tại cùng tồn tại khi tiếng còi tàu như từ xa xưa vọng về giữa sự náo nhiệt của hàng ngàn người vội vã đi lại khắp nhà ga.

Hầu hết các nhà ga cổ cho thấy kiến trúc là sự kết hợp giữa kỹ thuật công nghiệp (khung thép, mái vòm, kết cấu kim loại) với ngôn ngữ kiến trúc đô thị đương thời (tân cổ điển, phục hưng hay Đông dương...). Trải qua thời gian, nhiều nhà ga xe lửa dù được cải tạo, nâng cấp hay hiện đại hóa thì vẫn giữ được nét xưa cũ, quen thuộc. Đó là những mái che cao rộng lớn, những đường tàu cũ đan xen vào nhau chạy xa mãi, đó còn là những gương mặt vui buồn, tiếng bánh xe nghiến trên đường ray, tiếng loa báo hiệu tàu về tàu đi... Nhà ga là phần sinh động nhất của cuộc sống đô thị, nơi mà nhịp sống lặp lại mỗi ngày nhưng mỗi ngày cũng luôn mới mẻ và bất ngờ.

Trong quá trình phát triển của các thành phố, nhiều ga xe lửa hôm nay đã hiện đại hơn: không còn tiếng loa mà là bảng điện tử luôn nhấp nháy thông báo các chuyến tàu, nhà ga rộng rãi nhiều tầng và sạch sẽ, từ nhà ga đến sân ga là hàng chục cửa với các thang cuốn chạy suốt ngày đêm, những đoàn tàu mới vận hành êm ru và luôn đúng đến từng giây! Trên sân ga không còn nghe tiếng còi tàu bồi hồi như xưa, thay vào đó là chiếc đồng hồ điện tử báo hiệu giờ tàu đi tàu đến. Đó là những “lớp phát triển mới” chồng lên các tầng văn hóa – kỹ thuật đã có trước đó.

Thế nhưng dưới dáng vẻ hiện đại ấy, nếu để tâm ta vẫn nhận thấy những gì thuộc về ký ức xưa còn đó, bởi vì nhà ga xe lửa vẫn là nơi đón và đưa tiễn những con người. Cảm xúc bồi hồi, mừng vui, những giọt nước mắt hay nụ cười... luôn còn đó trên sân ga. Bao cuộc chiến đã bắt đầu từ cuộc chia tay trên sân ga, ngày hòa bình cũng hiện diện từ những cuộc đoàn tụ ở đây. Đó là một tính chất đặc biệt của nhà ga xe lửa trong đô thị hiện đại: “tính liên tục của cảnh quan” - sự liên tục không nằm ở việc giữ nguyên tất cả gì thuộc về vật chất mà ở khả năng bảo tồn tinh thần của nơi chốn qua những biến động thời cuộc.

2.

Nhà ga xe lửa, do đó, chính là một “địa tầng ký ức”. Mỗi viên gạch, mỗi phiến đá, mỗi thanh ray cũ kỹ đều mang theo câu chuyện của một thời đã qua. Khi đứng giữa không gian ấy, ta như nhìn thấy chiều sâu lịch sử của thành phố: từ ngày đoạn đường ray và những thanh tà vẹt đầu tiên được đặt xuống, đưa đô thị bước vào kỷ nguyên giao thông công nghiệp, cho đến hôm nay khi các hệ thống vận hành thông minh “tự động hóa” đang định hình giao thông tương lai.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là ở nhiều nơi các ga cũ đang mất đi, thành phố đang quên mất những ký ức vọng lại từ nhà ga cổ. Sự phát triển quá vộikhiến người ta chỉ nhìn thấy hiệu quả kinh tế của một “khu đất vàng”, chỉ thấy nhà ga là một hạ tầng kỹ thuật “đã lạc hậu”. Nhưng ở nơi nào thì lịch sử đô thị cũng hiện hữu bằng những kiến trúc công cộng như nhà ga, bến cảng, bến xe, sau này là phi trường, lịch sử còn hiện hữu qua những sự kiện, ký ức bao lớp người ở mọi nơi chốn trong thành phố. Bạn tin tôi đi, các nhà ga trông có vẻ giống nhau, kể cả những ga xép nhỏ bé ở nơi hẻo lánh, nhưng chúng luôn khác nhau đấy! Bởi trong không – thời gian của mỗi nhà ga đã lắng đọng biết bao số phận, bao khoảnh khắc và bao câu chuyện khác nhau.

Ta đều hiểu rằng, bảo tồn nơi chốn của ký ức không phải là giữ nguyên tất cả, mà là một nghệ thuật của sự cân bằng giữa ký ức và cuộc sống đang diễn ra. Bảo tồn di sản đô thị không nhằm "đóng băng" quá khứ mà giúp quá khứ tham gia vào hiện tại. Cũng vậy, việc bảo tồn nhà ga xe lửa không chỉ là bảo tồn kiến trúc cũ, mà là duy trì tinh thần của một nơi khởi hành và trở về, một không gian chứa đựng cảm xúc cộng đồng của nhiều thế hệ. Một nơi chốn thể hiện sự đối thoại giữa quá khứ và hiện tại luôn thể hiện bản sắc của đô thị ấy.

Xu hướng trên thế giới hiện nay phổ biến là bảo tồn ga xe lửa ở trong các đô thị cổ, cũng như các nhà ga cổ trên các tuyến đường sắt trải dài mở rộng khắp đất nước. Các phương thức bảo tồn được nhiều nước thực hiện như: 1/Bảo tồn nguyên trạng và sử dụng tiếp khi vẫn đáp ứng nhu cầu (như nhà ga xe lửa ở Hà Nội, Kyoto, York); 2/Chuyển đổi thích ứng cải tạo thành bảo tàng, trung tâm sáng tạo, không gian văn hoá (như Gare d’Orsay thành Musée d’Orsay - Paris); và 3/Kết hợp ga mới – bảo tồn ga cũ để tạo ra “dòng thời gian” lịch sử đô thị, đây là phương thức được nhiều nơi lựa chọn.

Quá trình bảo tàng hoá di sản công nghiệp (industrial heritage musealization) là một trong những xu hướng quan trọng của bảo tồn di sản đô thị từ cuối thế kỷ 20. Đây là cách các đô thị chuyển đổi những công trình công nghiệp lỗi thời – nhà ga xe lửa, nhà máy, xưởng cơ khí, bến cảng... thành các thiết chế văn hóa mới, vừa bảo tồn giá trị lịch sử, vừa thích ứng với nhu cầu đương đại của xã hội. Các công trình này thể hiện ba nguyên tắc cơ bản là: 1/giữ lớp di sản (hình thức, kết cấu kiến trúc, không gian công cộng), 2/thêm công năng mới và 3/tạo bản sắc mới, hiện đại, bền vững. Các nhà ga từng là trung tâm một khu vực, đầu mối giao thông của nhiều tuyến đường đã trở thành trung tâm văn hóa, là điểm đến của du khách khắp nơi.

Và không chỉ các nhà ga xe lửa được mang lại sức sống mới, nhiều cơ sở công nghiệp, hạ tầng đô thị không còn bị coi là “tàn tích của thời máy móc”. Đó là nguồn lực mạnh mẽ để tái sinh đô thị, khi được con người tạo ra không gian văn hóa mới, lưu giữ và làm sống lại ký ức lao động – công nghệ của thời đã qua, đồng thời nuôi dưỡng kinh tế sáng tạo, kinh tế di sản.

3.

Ở Việt Nam, tuyến đường sắt đầu tiên từ Sài Gòn đi Mỹ Tho được xây dựng thập kỷ cuối thế kỷ 19. Đây cũng là thời điểm xuất hiện những nhà ga đầu tiên, sử dụng cho giao thương hàng hóa – hành khách ở Nam Kỳ. Từ đầu thế kỷ 20, Pháp triển khai xây dựng mạng lưới đường sắt Bắc – Trung – Nam, đánh dấu sự chuyển đổi từ giao thông công cộng bằng đường thủy, đường bộ truyền thống sang giao thông công nghiệp. Không chỉ vậy, các nhà ga ở Việt Nam còn có kiến trúc đa dạng và độc đáo, phản ánh từng giai đoạn lịch sử, như một dấu ấn riêng để nhận diện các đô thị trải dài theo tuyến đường sắt.

Trải qua thời gian chiến tranh kéo dài, các nhà ga còn là nơi lưu giữ “ký ức di chuyển” và sự chia cắt, đoàn tụ của nhiều thế hệ như đi tản cư, sơ tán, giai đoạn di cư đến các khu “kinh tế mới”... Những ký ức gắn liền với nhà ga, sân ga là “di sản phi vật thể” quan trọng trong nghiên cứu lịch sử đô thị. Đặc biệt các nhà ga còn là “điểm mốc” của quá trình tái thiết và xây dựng “đường tàu thống nhất” từ sau 1975. Nhưng hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam đang hiện đại hóa - đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, các di tích công nghiệp như nhà ga cũ, xưởng đóng tàu, bến cảng, kho bãi... đang dần biến mất.

Càng đi nhiều nơi tôi càng thấm thía một điều: Phát triển không có nghĩa là phá bỏ những gì đã từng tồn tại. Ngược lại, phát triển bền vững chỉ thực sự và có ý nghĩa khi biết bảo tồn di tích và ký ức lịch sử. Những nhà ga xe lửa ở nơi nào cũng là nơi giữ lại những điểm chạm của ký ức, nơi những con người tìm thấy và trải nghiệm sự liên tục giữa hôm qua và ngày mai.

Cuộc sống luôn tiến về phía trước. Nhưng như khi đoàn tàu chuyển bánh, khi cảnh quan lùi dần vào phía sau ô cửa sổ, tôi luôn có cảm giác mình đang đi trong một thời gian khác đến một không gian khác. Bỏ lại nhà ga ở lại phía sau cùng những lớp ký ức chồng lên nhau của tôi, của thành phố, của nhiều thế hệ đã qua. Trong nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại, hiếm có nơi nào như sân ga, mỗi lần ra đi lại khiến cảm xúc dâng trào, ta nhận ra rằng ký ức không chỉ để ta quay về trong tâm tưởng mà còn là nền tảng vững vàng để ta tiếp tục bước tới tương lai.

 TẠP CHÍ VĂN HÓA XỨ QUẢNG THÁNG 12.2025







 

NƠI ẤY QUÊ NHÀ

  Tản văn, Nguyễn Thị Hậu Nhớ quê Tuổi càng về chiều người ta càng muốn “quy cố hương” bằng cách hồi tưởng về   ký ức thời còn ở quê, ha...