“ĐIỂM LẶNG” QUÝ GIÁ GIỮA LÒNG SIÊU ĐÔ THỊ

 Làng nghề – di sản sống giữa đô thị

Nếu có lần nào đó bạn đi ra vùng ngoại ô thành phố, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang đi qua một làng nghề truyền thống. Đó là khi bỗng thấy trong gió sớm mùi nhang mới se, hay nghe tiếng va đập kim loại lách cách vọng ra từ một căn nhà cũ bên đường. Trên một con đường khác, khuất sau những khối bê tôngbảng hiệu, chợt hiện ra không gian thoáng đãng có những giàn phơi bánh tráng trải dài. Hay tình cờ nhìn qua dòng xe hối hả bạn nhận ra một lò gốm cổ đứng trầm tư bên đường...  Những mùi vị, âm thanh, hình ảnh ấy gợi lên cảm giác bồi hồi, giữa cuộc sống hiện đại vẫn còn đó một lớp trầm tích văn hóa quý giá, đó là các làng nghề truyền thống.

TP. Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ là một thay đổi về địa giới hành chính. Đó là sự mở rộng của không gian sống, của nhịp điệu đô thị những mối quan hệ xã hội mới. Thành phố mới rộng hơn về không gian, có thêm những làng nghề truyền thống làm ra những sản phẩm tiêu dùng quen thuộc từ hàng trăm năm nay: làm gốm, làm mộc, chế biến thủy hải sản, làm muối, đóng sửa tàu thuyền... Trong hình dung quen thuộc của chúng ta, làng nghề thường gắn với vùng nông thôn nhưng ở TP. Hồ Chí Minh hôm nay, làng nghề không còn nguyên vẹn trong khuôn hình ấy. Chúng tồn tại theo cách khác, lặng lẽ, phân tán, khiêm nhường nhưng bền bỉ với thời gian.

Trong cơn lốc đô thị hóa hàng chục năm nay, làng nghề truyền thống không biến mất mà vẫn hiện diện trong nhịp điệu riêng, trở thành những “điểm lặng” quý giá trong thành phố đang trở thành một “siêu đô thị”. Làng nghề không còn là “làng” theo nghĩa xưa, không ranh giới rõ rệt cũng không tập trung với mật độ cao... Thay vào đó là những không gian làm nghề nhỏ hẹp hơn như một dãy nhà liền kề cùng làm nhang, một cụm hộ gia đình quanh một lò gốm còn giữ nghề làm gốm, một số hộ gia đình lao động trên những ruộng muối nơi xã đảo, vài gia đình làm “đèn trung thu” chỉ trong vài tháng để đón mùa trăng tròn...

Làng nghề trở thành di sản không phải “để trưng bày”vẫn tồn tại trong đời sống thường nhật. Là di sản sống, làng nghề ngày nay có thể không còn đẹp theo kiểu lãng mạn vì hòa lẫn trong khói bụi, trong tiếng máy móc, trong những lo toan mưu sinh. Nhưng chính sự “không hoàn hảo” đó làm nên giá trị thật của làng nghề nơi đô thị: giá trị của ký ức đang được thực hành, của kỹ năng còn được truyền tay, của một nếp sống chưa bị thay đổi hoàn toàn. Trong bối cảnh đô thị mở rộng, truyền thống dễ bị lãng quên. Nhưng chừng nào còn người làm nghề thủ công, chừng đó truyền thống còn được tiếp nối. Làng nghề vì thế không chỉ là đối tượng bảo tồn mà còn là “chủ thể” kể lại câu chuyện lịch sử - văn hóa thành phố.

2. Làng nghề - sức sống của các cộng đồng đô thị

Không gian đô thị mở rộng TP. Hồ Chí Minh là kết quả của nhiều đợt di dân. Từ Bến Nghé – Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn rồi nay thêm Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu... Mỗi khu vực đều có những làng nghề được hình thành theo bước chân của những đoàn lưu dân trong nhiều thế kỷ trước, những lớp người nhập cư từ thế kỷ 20 đến nay. Người đến mang theo nghề, nghề theo người mà bén rễ, đáp ứng nhu cầu sinh tồn đa dạng của các cộng đồng.

Có những nghề gắn với môi trường sông nước Nam Bộ như làm nước nước mắm, làm cá khô, làm muối, đóng ghe thuyền. Có những nghề theo chân lưu dân từ miền Trung, miền Bắc, hay cộng đồng Hoa kiều, như nghề làm gốm, đúc đồng, nghề mộc, sơn mài, làm nhang, làm đèn trung thu... Tất cả phát triển nhờ đô thị mở rộng, nhờ kinh tế thị trường nhạy bén và linh hoạt. Làng nghề ở thành phố vì thế không thuần nhất. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa kỹ thuật và thị trường, giữa truyền thống và thích nghi. Ở TP. Hồ Chí Minh mới, hiếm có làng nghề nào “đứng yên”. Nghề thay đổi theo người, người thay đổi theo sự phát triển của thành phố.

Đô thị hóa mang lại cơ hội nhưng cũng tạo ra sức ép lớn với các làng nghề. Quy hoạch thay đổi, giá đất tăng, yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe. Làng nghề truyền thống vốn cần không gian, cần sự ổn định nơi sản xuất gắn với thị trường. Vì vậy, từ nhiều năm qua có làng nghề phải thu hẹp quy mô, có làng nghề buộc phải di dời, có làng nghề tồn tại trong tình trạng “tạm bợ kéo dài”. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ngặt nghèo ấy, các “làng nghề” bộc lộ khả năng thích ứng đáng kinh ngạc. Một xưởng nhỏ thay thế cho cả một làng, một vài gia đình gánh trên vai ký ức của nhiều thế hệ. Cũng có những “làng nghề” mới xuất hiện, với diện mạo và quy mô mới, do kỹ thuật sản xuất hiện đại hơn. Làng nghề không còn là không gian địa lý cụ thể mà trở thành không gian tinh thần” của đô thị hiện đại.

Làng nghề chính là một phần ký ức đô thị - di sản văn hóa phi vật thể. Mỗi sản phẩm thủ công đều mang trong nó câu chuyện về nơi chốn, về thời gian, về con người. Một nhang không chỉ để đốt mà là duy trì tín ngưỡng kết nối với tổ tiên. Một chiếc lư đồng không chỉ là vật dụng thờ cúng gắn với gian thờ của mỗi gia đình, với không gian đình chùa đền miếu, với sự linh thiêng. Những chiếc đèn trung thu không chỉ là đồ chơi, mà là một trời ký ức thời thơ ấu...

Ngày nay, không phải làng nghề nào cũng có thể sống bằng sản xuất thuần túy, bởi vì bối cảnh xã hội ngày càng hiện đại, thị trường truyền thống và nhu cầu tiêu dùng thay đổi. Nhiều làng nghề đứng trước ngã rẽ: hoặc biến mất, hoặc cần “hiện đại hóa”. Hiện đại hóa không có nghĩa là đánh mất bản sắc mà đó là sự chuyển biến, thay đổi trên nền truyền thống, là cách để bản sắc tiếp tục tồn tại trong hình thức mới. Khi làng nghề gắn với thiết kế sáng tạo, với du lịch trải nghiệm, với giáo dục văn hóa, thì làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra giá trị văn hóa, giá trị tri thức bản địa. Lúc ấy, làng nghề bước sang vai trò mới: là nguồn lực mềm của đô thị, thông qua đó đóng góp tích cực cho việc tăng giá trị di sản văn hóa.

3. Làng nghề -bến đậucủa đời sống thành phố

Hiện nay, quan niệm “bảo tồn mâu thuẫn với phát triển” đã trở nên lạc hậu, mà bảo tồn di sản văn hóa vật thể hay phi vật thể đều là cách thức đặc biệt để phát triển bền vững – nhất là trong các đô thị, siêu đô thị. Những làng nghề của TP. Hồ Chí Minh hôm nay, nếu đòi hỏi phải “bảo tồn nguyên vẹn” là điều bất khả. Vì vậy điều cần giữ không phải là hình thức “làng” mà là cốt lõi: kỹ thuật, tri thức, tinh thần nghề, cộng đồng làm nghề. Bảo tồn làng nghề vì thế cần một tư duy khác: bảo tồn động, bảo tồn trong chuyển hóa. Đó không chỉ là trách nhiệm của các nghệ nhân mà trước hết là trách nhiệm của chính quyền và sau đó, là của cộng đồng đô thị. Một thành phố muốn phát triển bền vững thì không thể cắt đứt ký ức của chính mình, làng nghề là một trong nhiều yếu tố tạo thành lịch sử thành phố.

TP. Hồ Chí Minh mở rộng giống như một dòng sông lớn. Cuộc sống thành phố trôi đi rất nhanh. Trong dòng chảy ấy có thể coi làng nghề là những “bến đậu” cho đời sống đô thị, là “điểm neo” của ký ức cộng đồng. Làng nghề, cũng như những không gian truyền thống khác như chợ dân sinh, đình, chùa, đền miếu... không phải là yếu tố cản ngăn dòng chảy cuộc sống mà là để giúp con người không bị cuốn trôi hoàn toàn khỏi quá khứ.

Khi bước vào một không gian làng nghề, dù chỉ là một căn nhà nhỏ còn giữ nghề cũ, bất giác ta luôn bước chậm lại, vì trong khoảnh khắc ấy ta nhận ra, thành phố không chỉ được tạo nên bởi những tòa nhà cao tầng mà còn bởi những bàn tay thô ráp, những kỹ năng được truyền qua nhiều thế hệ. Có thể một ngày nào đó, nhiều làng nghề sẽ không còn tồn tại như hôm nay. Nhưng nếu biết cách trân trọng và chuyển hóa, chúng vẫn sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức đô thị, như những lớp phù sa âm thầm bồi đắp cho thành phố. Và chính nhờ những lớp phù sa ấy, TP. Hồ Chí Minh mới có thể ngày càng phát triển nhưng vẫn được nuôi dưỡng từ cội nguồn truyền thống.  

TP. Hồ Chí Minh, 1/2026

Tạp chí DU LỊCH TPHCM số XUÂN BÍNH NGỌ 2026

Nguyễn Thị Hậu

 




CHỈNH TRANG KHU VỰC TRUNG TÂM CẦN GÓP PHẦN BẢO TỒN DI SẢN ĐÔ THỊ

 

Thành phố Hồ Chí Minh đang chỉnh trang một số công trình ở khu trung tâm TPHCM. Tôi được biết thông tin trên báo chí về đơn vị tài trợ và thực hiện việc chỉnh trang này. Cảnh quan (mặt tiền) đường Lê Lợi và vài đoạn đường khác đã sáng sửa mới mẻ hơn. Nhưng những gì hiện lên ở phía trước chợ Bến Thành thì là chưa phù hợp với cảnh quan đô thị và di sản ký ức của người dân thành phố.

 Không biết công ty có tư vấn/hỏi ý kiến của các nhà kiến trúc đô thị, nghiên cứu lịch sử - văn hóa Sài Gòn - TPHCM không, vì bên cạnh thiện ý đóng góp cho thành phố thì việc trùng tu bên ngoài, chủ yếu là màu sắc, của các công trình cần theo nguyên tắc "trung tâm đô thị từ công trình đến cảnh quan là di sản đô thị". Vì vậy chỉnh trang cũng cần tuân thủ việc ứng xử với di sản văn hóa!

Nếu màu sơn đỏ trên mái của chợ Bến Thành có thể tạm chấp nhận - vì cùng tông đỏ, tuy màu tươi quá nhưng hy vọng qua vài tháng sẽ trầm màu xuống thành màu "nâu đỏ" quen thuộc - thì mảng "biển xanh" khu vực bùng binh trước đây lại quá đối lập về màu sắc! Theo ý nhà tài trợ màu xanh muốn nhắc về "tính chất sông nước". Nhưng màu xanh và sóng nước sông nước Sài Gòn/Nam bộ không giống sóng biển như được thể hiện, sự minh họa này thô thiển quá!

Nhân đây, cũng rất mong bùng binh Chợ Bến Thành được tái lập, vừa trả lại cảnh quan di sản đồng thời tạo ra một "dòng chảy liên tục" từ bùng binh Nguyễn Huệ đến bùng binh chợ Bến Thành, nối liền "trung tâm kinh tế" và "trung tâm chính trị" (UBNDTP), phản ánh tư duy sông nước và không bị ngăn trở trong sự phát triển của thành phố.

Về công trình "màu hóa" Hồ con rùa, theo ý kiến của một số kiến trúc sư thì công trình này chỉ cần cạo rêu rửa lại sạch sẽ là những mảng đá này sẽ sáng sủa hơn, hòa hợp cùng màu sắc của hoa cỏ trang trí bên dưới. Kiến trúc hồ con Rùa được thiết kế với chất liệu bê tông trần. Đây là một phong cách kiến trúc được thế giới công nhận. Nó có vẻ đẹp của sự mạnh mẽ, mang màu sắc phong trần của thời gian...Nhưng nay đã được mặc áo mới với màu sắc sặc sỡ....nhìn biểu tượng "yêu kiều", "thục nữ" hẳn lên". Hay: "Chất liệu bê tông trần và đá rửa là “chất liệu thật” , theo trường phái thô mộc, trở về với bản chất của màu sắc và chất liệu kiến trúc bền vững. Sơn “xanh,đỏ” lên thực chất là “bèo hoá “kiến trúc."

Trường hợp này làm tôi nhớ đến việc Bưu điện TP có lần được tài trợ và đã sơn màu hồng "cho đẹp, vì giống Nhà thờ Tân Định". Nhưng sau khi có sự phản ứng từ cộng đồng và ý kiến các nhà kiến trúc, văn hóa, Bưu điện TP đã rất nghiêm túc dừng lại ngay và sau đó đã sơn lại màu vàng "Đông dương" - màu đặc trưng của các đô thị hồi thế kỷ 20, sang trọng và thân thiện! Việc "sửa sai" này được cộng đồng tán thưởng và ghi nhận.

Cũng vậy, các dãy phố cũ của TPHCM trên đường Lê Lợi hay Võ Văn Kiệt, Bến Bình Đông... chỉ cần sơn lại đúng màu vàng như vậy, những ô cửa màu xanh lá đậm... là đủ đẹp và tạo dấu ấn về một đô thị cổ xưa. Mấy năm gần đây khu trung tâm thành phố đã giảm bớt việc trưng bày quá nhiều bông hoa màu mè trên các đường phố chính mà tăng thêm trang trí bằng đèn, đường phố mang vẻ đẹp của một thành phố hiện đại hơn. Vì vậy rất mong các nhà tài trợ/ thực hiện lưu tâm!

Tài trợ cho văn hóa thành phố là điều đáng quý, nhưng quý hơn là những nét văn hóa ấy được trân trọng và giữ gìn, bởi vì như vậy là cùng thành phố giữ gìn di sản, thiện tâm của nhà tài trợ sẽ được cộng đồng ghi nhận lâu dài! Ông bà mình vẫn nói: của cho không bằng cách cho. Văn hóa chính là ở đó!

 Nguyễn Thị Hậu, 30.1.2026



https://vnexpress.net/tao-hinh-song-nuoc-truoc-cho-ben-thanh-de-ket-noi-lich-su-do-thi-5011128.html



 

CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VÀ “BẢN SẮC ĐÔ THỊ” TP. HỒ CHÍ MINH

 Báo Pháp Luật TPHCM Xuân Bính Ngọ 2026

Lịch sử - văn hoá là tiềm năng, chất liệu của Công nghiệp văn hoá

Khái niệm công nghiệp văn hóa (Cultural Industries) được UNESCO đề cập từ cuối thế kỷ XX, chỉ những ngành kinh tế khai thác sáng tạo, tri thức và giá trị văn hóa làm nền tảng. Thế giới ngày nay phát triển ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) sản xuất theo phương thức công nghiệp với sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệ thuật với kinh tế và công nghệ. Trong các ngành này việc sử dụng trí tuệ của con người là then chốt, toàn bộ quá trình sản xuất mang dấu ấn sáng tạo cá nhân, sản phẩm được sản xuất và phân phối theo nhiều cấp độ khác nhau. Sự sáng tạo, tính năng động trong kinh doanh kết hợp với tiến bộ của công nghệ tạo nên giá trị và thương hiệu cũng như mức độ phổ biến của các sản phẩm CNVH.

Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị năng động và có tiềm năng lớn nhất nước trong hoạt động giao lưu và hội nhập kinh tế - văn hóa với thế giới. Nhiều loại hình CNVH đã có mặt ở đây từ giai đoạn phát triển đầu tiên của đô thị Sài Gòn – một đô thị mang những đặc trưng về lịch sử - xã hội độc đáo, có quá trình phát triển cởi mở, năng động. Ngày nay thành phố mới bao gồm tỉnh Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu là hai khu vực mà về cơ bản, có cùng quá trình lịch sử và đồng dạng ở nhiều lĩnh vực văn hoá. Điều kiện thuận lợi đó góp phần tăng thêm tiềm năng và giá trị cho CNVH của “siêu đô thị” này.

Quá trình phát triển lịch sử phát triển và hình thành cộng đồng cư dân thành phố có tính đa dạng, hòa hợp về văn hóa nhưng vẫn lưu giữ được đặc trưng từng tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm, cũng như văn hóa vùng miền của người nhập cư vào thành phố trong suốt tiến trình lịch sử. Bên cạnh đó là sự hiện diện nhiều nét văn hoá riêng của một số cộng đồng ngoại kiều (Ấn, Pháp trước kia, Nhật, Hàn hiện nay) trong đời sống hàng ngày. Tất cả cùng lắng đọng tạo thành lớp trầm tích lịch sử - văn hóa thể hiện bằng hệ thống di sản vật thể và phi vật thể. Đó chính là chất liệu, nguyên liệu cung cấp cho sự sáng tạo trên các lĩnh vực của CNVH.

Luôn giữ nhịp phát triển hiện đại nhưng thành phố vẫn giữ được bản sắc rất riêng – không chỉ nằm ở những công trình, cảnh quan hay món ăn, mà còn ở tinh thần sáng tạo và đổi mới của con người Sài Gòn, người Nam bộ. Chính tinh thần ấy là nền tảng để thành phố bước vào kỷ nguyên công nghiệp văn hóa, nơi văn hóa trở thành nguồn lực phát triển bền vững và là “thương hiệu” của đô thị.

Công nghiệp văn hóa – động lực mới của đô thị sáng tạo

Bản sắc của một đô thị không chỉ là di sản quá khứ, mà là cách con người nơi đó sống, cảm nhận và sáng tạo. Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh là một đô thị sông nước và hướng biển, hình thành đô thị là hình thành thương cảng. Cảng thị là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa Nam – Bắc, Đông – Tây. Từ khi hình thành đến nay, thành phố luôn mở lòng đón nhận những yếu tố văn hoá – kỹ thuật mới, rồi từ sự “không chối từ” đó mà thử nghiệm cái mới, ứng dụng vào đời sống, tạo nên tính cách độc đáo: cởi mở, tự do và sáng tạo. Đó là nền tảng cơ bản rất thích hợp để phát triển CNVH.

Từ cuối thế kỷ 19 đến nay, thành phố luôn có những công trình kiến trúc – nghệ thuật với nhiều hình thức từ truyền thống đến hiện đại, từ công sở, công trình công cộng kiểu phương Tây đến các công trình tôn giáo, tín ngưỡng Hoa, Việt, Chăm… Từ những con phố xưa xen giữa các cao ốc, những ngôi chợ truyền thống vẫn sôi động bên cạnh các trung tâm thương mại, những quán cà phê trong hẻm nhỏ, sân khấu ca nhạc, cải lương, triển lãm nghệ thuật, rạp phim hoạt động hàng ngày... Lễ hội  truyền thống được duy trì bên cạnh việc sáng tạo ra lễ hội hiện đại… Tất cả tạo nên một “bản giao hưởng đô thị” nhiều cung bậc. Trong bản giao hưởng đó, ký ức và đời sống đương đại cùng tồn tại, hoà quyện với nhau. Chính sự dung hòa đan xen giữa cũ và mới này là mảnh đất màu mỡ cho các ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Sài Gòn là thành phố sản sinh và lan tỏa văn hóa đại chúng của cả nước: từ âm nhạc, điện ảnh, đến thời trang, mỹ thuật và truyền thông.

Hình ảnh Sài Gòn trong điện ảnh từ những thước phim xưa đến các bộ phim đương đại – đã trở thành một biểu tượng của đời sống đô thị Việt Nam. Âm nhạc Sài Gòn từ bolero, cải lương đến nhạc trẻ, phản ánh tinh thần cởi mở, sáng tạo, dám khác biệt. Những nhà thiết kế trẻ, họa sĩ đương đại, startup công nghệ sáng tạo đang góp phần định hình diện mạo mới của thành phố.

Các không gian sáng tạo đang phát triển, không chỉ là những không gian hoành tráng, hiện đại mà có khi chỉ là một quán cà phê nhỏ, một căn hộ chung cư, một đoạn đường nhỏ xinh, một khu vực nghệ thuật đường phố… đang trở thành những nơi “thí nghiệm” và trải nghiệm năng lượng sáng tạo đô thị – nơi nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng cùng kiến tạo giá trị văn hóa mới. Ẩm thực Sài Gòn – từ cà phê vỉa hè, hủ tiếu gõ đến nhà hàng cao cấp, luôn thể hiện tính chất “truyền thống và hiện đại” cũng là một loại hình “công nghiệp văn hóa” sống động, hấp dẫn mọi người, thể hiện khả năng dung nạp và biến hóa không giới hạn của đô thị này.

Điều đặc biệt của TP. Hồ Chí Minh là khả năng sáng tạo từ “ký ức Sài Gòn”: Những con hẻm, khu chung cư cũ, rạp hát, chợ xưa… không chỉ là di sản vật thể, mà còn là chất liệu cảm xúc cho các nhà sáng tạo trẻ. Nhiều dự án nghệ thuật và du lịch đang tìm cách “đánh thức ký ức đô thị”: tái hiện Sài Gòn xưa qua triển lãm, âm nhạc, tour “đi bộ qua di sản các thời đại” hay qua những bộ sưu tập thời trang, tranh vẽ, podcast kể chuyện thành phố.

Một khu lò gốm cổ ở Lái Thiêu là nơi bạn trẻ tìm về và phục hồi một dòng gốm cổ với những nét hoa văn và mẫu mã hiện đại. Những công trình tuyệt đẹp ven biển Vũng Tàu, những ngôi làng xưa với đình chùa miếu cổ ở Bình Dương hay Bà Rịa đều có thể trở thành chất liệu cho nhiều loại hình CNVH.

Trong dòng chảy đó, công nghiệp văn hóa không làm mất đi bản sắc, mà ngược lại, giúp tái sinh nó trong hình thức mới. Khi một bộ phim, một bức tranh hay một thương hiệu ẩm thực mang trong mình tinh thần Sài Gòn, thì bản sắc ấy được lan tỏa không chỉ trong nước mà cả ra thế giới. Công nghiệp văn hóa không chỉ là ngành kinh tế, mà là tinh thần sáng tạo của thành phố. Với Sài Gòn – nơi con người luôn dám nghĩ, dám làm, dám khác biệt – bản sắc và sáng tạo không đối lập, mà hòa quyện, bổ sung cho nhau.

Thách thức và tầm nhìn của CNVH thành phố

Hiện nay công nghiệp văn hóa của TP.HCM vẫn đang đối diện nhiều thách thức lớn. Đó là sự mai một của di sản đô thị, thiếu chính sách đầu tư cho ngành sáng tạo nhất là đối với lĩnh vực kinh tế tư nhân. Một thời gian dài sân khấu cải lương không được quan tâm đúng mức gây ra những “tổn thương” mà phải mất nhiều thời gian mới phục hồi được. Nhiều yếu tố văn hoá truyền thống có nguy cơ đánh mất tính hoặc phai nhạt tính bản địa giữa thời đại toàn cầu hóa. Việc phát triển các khu “đô thị sáng tạo” như Thủ Đức hay như quyết định mới đây của lãnh đạo thành phố “ưu tiên phát triển không gian công cộng và văn hóa, tạo nên Không gian văn hóa Hồ Chí Minh ven sông Sài Gòn – biểu tượng kết nối giữa đô thị hiện đại và giá trị lịch sử của thành phố” cần gắn với việc bảo tồn ký ức và bản sắc đô thị, để không biến sáng tạo thành sao chép hay làm nhạt nhoà bản sắc.

Thành phố cần một “Chiến lược văn hóa đô thị” dựa trên các đặc trưng và giá trị truyền thống: Thành phố sông nước và hướng biển, trung tâm kinh tế - sáng tạo, văn hoá đa dạng - truyền thống và hiện đại. Tất cả cần được gìn giữ và phát triển làm “nguồn vốn văn hoá” cho các nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo đồng thời được chính quyền hỗ trợ tất cả những điều kiện cần thiết. Từ đó văn hóa trở thành trục trung tâm của phát triển bền vững. Đó cũng là con đường để TP. Hồ Chí Minh vừa hiện đại, vừa không đánh mất mình.

Trong thế kỷ 21 - “thời đại toàn cầu hóa”, hoạt động văn hóa đô thị là “tấm gương” phản ánh sự hiện đại và bản sắc của thành phố một cách trung thực và rõ ràng nhất. Nếu Hà Nội là “thành phố nghìn năm văn hiến”, Huế là “kinh đô di sản”, thì Sài Gòn chính là “thành phố của sáng tạo và bản sắc sống động, nơi mỗi ngày văn hóa được làm mới, ký ức được kể lại, bản sắc và truyền thống tiếp tục đồng hành cùng con người và nhịp sống đô thị.

TP. Hồ Chí Minh có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực sáng tạo khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ở thế hệ trẻ. Thông qua các hội thi hoặc “tuần lễ thiết kế sáng tạo” hay những nơi xuất hiện những sản phẩm của công nghiệp văn hóa như hội thảo, triển lãm nghệ thuật hội họa, điêu khắc, thời trang, âm nhạc, nghệ thuật dân gian, trải nghiệm điện ảnh, trải nghiệm “ký ức, hồn đô thị” và những hình thức khác. Tinh thần tự do, tính cách dám nghĩ dám làm của con người thành phố là động lực quan trọng nhất của các hoạt động văn hoá và sự phát triển CNVH.

Công nghiệp văn hóa của “TP.HCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình” cần bắt đầu từ những tiềm năng văn hóa của chính mình, đồng thời từ sự thay đổi quan điểm về nguồn lực thực hiện công nghiệp văn hóa: năng lực sáng tạo là của cộng đồng (các nhà hoạt động văn hoá chuyên nghiệp và cộng đồng chung), dưới sự định hướng và tạo điều kiện về pháp lý, về không gian và phần nào về cơ sở vật chất của chính quyền. Cộng đồng tạo ra và nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Sài Gòn – TP. HCM thì cộng đồng cũng là chủ thể phát triển công nghiệp văn hoá để phản ánh, quảng bá và lưu truyền những bản sắc ấy.

Nguyễn Thị Hậu

TP. Hồ Chí Minh 11.2025




“ĐIỂM LẶNG” QUÝ GIÁ GIỮA LÒNG SIÊU ĐÔ THỊ

  Làng nghề – di sản sống giữa đô thị Nếu có lần nào đó bạn đi ra vùng ngoại ô thành phố, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang đi qua một l...