TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

  

thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại của nó. Khu đất số 1 Lý Thái Tổ là một nơi như thế. Ngày đêm dòng xe cuồn cuộn chảy quanh nhưng bên trong bức tường là một nơi có vẻ như không liên quan gì đến nhịp sống sôi động của thành phố. Khu đất và các công trình trong đó là nơi xưa nay “kín cổng cao tường”, xa lạ với nhiều người dân ở ngay khu vực xung quanh.  

Cho đến một ngày khi đi qua vòng xoay Lý Thái Tổ chúng ta bất chợt nhận ra một không gian xanh mát mở ra trước mắt. Trong đó thấp thoáng vài biệt thự xưa, và một “tiểu không gian” hiện đại: Một Giọt nước long lanh giữa những vòi phun nước, xung quanh là những bậc thềm rộng rãi, thân thiện mời gọi mọi người “ngồi lại bên nhau”. Một không gian tĩnh nhưng không lặng và mang lại nhiều cảm xúc.

“Công viên Giọt nước” – như người dân gọi nơi này, không gây ấn tượng bằng vẻ đẹp choáng ngợp mà bằng cảm giác nơi để dừng chân, được hít thở không khí trong lành, nhớ lại ký ức chưa xa... Tuy không lớn nhưng khuôn viên có nhiều cổ thụ tạo bóng mát, lại được chăm chút thêm bằng thảm cỏ, vườn hoa xinh xinh... Một công viên nhỏ được tạo ra giữa “quy hoạch vĩ mô” của sự phát triển hạ tầng giao thông hiện đại. “Giọt nước” rất nhỏ so với không gian xung quanh, nhưng chính từ sự nhỏ bé ấy lại gợi mở ra câu hỏi lớn: một siêu đô thị sẽ dành bao nhiêu nơi như vậy cho con người dừng lại và nghỉ ngơi?

Nhiều người cho rằng, sự phát triển đô thị phải bằng những đại lộ, công trình cao tầng và tòa nhà hiện đại, bằng những dự án quy mô lớn “nghìn tỷ”. Nhưng đời sống thực sự của thành phố lại diễn ra ở những không gian rất khác. Đó là những nơi không được quy hoạch và thiết kế để trở thành hoành tráng, hiện đại, sang trọng, mà đơn giản chỉ là nơi để con người có thể thoải mái hiện diện vì nó đáp ứng một nhu cầu nào đó. Công viên hay không gian công cộng là những nơi như thế. Người ta đến đó tập thể dục, đi bộ vào sáng sớm, hẹn nhau đến đó để trò chuyện, ghé vào nghỉ chân sau một quãng đường nắng nóng, hay thư giản nghỉ ngơi vào buổi tối mát mẻ sau một ngày vất vả mưu sinh, vào ngày cuối tuần có thể cùng gia đình đến vui chơi, ngồi quán cà phê, hay thậm chí đến đây không vì mục đích nào cả. Những hành vi tưởng như vụn vặt ấy, khi lặp lại mỗi ngày lại chính là cách con người đang sống, là cách đô thị được sống.

Không gian công cộng không chỉ là một yếu tố cảnh quan đơn thuần. Nó trở thành một dạng “hạ tầng mềm” của thành phố, không thể đo đếm bằng diện tích mà bằng khả năng tạo ra những khoảnh lặng bình yên. Hiện nay, lý thuyết đô thị đương đại nói nhiều đến những “khoảng nghỉ đô thị” (urban pause), đó là những không gian cho phép con người thoát khỏi tốc độ căng thẳng và nhàm chán vì lặp đi lặp lại, thoát khỏi áp lực và sự phức tạp của cuộc sống. Như vậy, công viên “giọt nước” bên vòng xoay Lý Thái Tổ không phải là phần “tiện thể” của một quy hoạch tổng thể, hay là “tận dụng đất trống” trong khi chưa sử dụng, phải được coi là một phần thiết yếu của hệ sinh thái đô thị. Những “tiểu không gian” ấy tạo nên chiều sâu của đời sống đô thị, nơi tinh thần của con người được cung cấp năng lượng để có thể tái tạo thậm chí phục hồi.

Những không gian như thế không chỉ mang lại lợi ích ở hiện tại, mà trải qua thời gian còn tích tụ ký ức trong cộng đồng. Không phải ký ức lớn lao của các sự kiện lịch sử chính thống, mà là ký ức đời thường, giản dị, dễ biến mất, khó nắm bắt. Cũng không phải là câu chuyện về các nhân vật lịch sử lớn lao mà là câu chuyện của các thế hệ cư dân, của cộng đồng từng khu vực. Tất cả những sinh hoạt hàng ngày mang lại niềm vui, tạo thành thói quen, sự hữu ích... qua năm tháng sẽ trở thành lớp trầm tích ký ức riêng của từng nơi chốn.

Từ một “giọt nước” nhỏ có thể nhìn rộng ra câu chuyện của siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh hôm nay và ngày mai. Thành phố phát triển càng nhanh càng lớn thì nguy cơ đánh mất những khoảng không gian như vậy càng cao. Áp lực về giao thông, về đất đai, về hiệu quả sử dụng không gian khiến mọi thứ có xu hướng bị “tối ưu hóa” vì lợi ích kinh tế trước mắt. Trong quá trình đó những gì không trực tiếp tạo ra “tiền tươi thóc thật” dễ bị xem là thứ yếu. Nhưng nếu mọi không gian trong thành phố đều bị lấp đầy bởi công trình chức năng, nếu mọi khoảng trống đều bị chuyển hóa thành giá trị kinh tế, thì con người sẽ ở đâu trong cấu trúc ấy, sẽ giữ vai trò gì trong thành phố ấy? Khi đó đô thị sẽ trở thành một cỗ máy vận hành hiệu quả mà không còn khả năng chăm sóc con người. Con người chỉ còn là một “đinh ốc” trong cỗ máy khổng lồ đó mà thôi.

Sự hiện diện của những khoảng dừng như công viên “giọt nước” mang ý nghĩa như một “tuyên ngôn mềm” về siêu đô thị. Bằng sự hiện diện bình dị, những “tiểu không gian” đã cho biết đô thị vẫn còn chỗ cho con người hòa vào thiên nhiên, giữa tốc độ ngày càng nhanh vẫn có nơi để chậm lại, thay đổi tâm trạng tích cực hơn, mang lại sự cân bằng cho tinh thần. “Tuyên ngôn mềm bằng sự hiện diện, những “giọt nước” đã đặt ra và đòi hỏi một tiêu chuẩn quan trọng cho sự phát triển của đô thị: không chỉ là lớn hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn mà còn là phải nhân văn hơn.

Một đô thị nhân văn trong thời đại ngày nay rất cần có hạ tầng hiện đại, đồng thời cũng phải những con người giàu có về trải nghiệm sống. Điều đó chỉ có được nếu đô thị tạo ra được những không gian để con người nghỉ ngơi, tương tác và cảm nhận, giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên. Đô thị nhân văn không phải là sự đối lập với đô thị hiện đại, mà là cân bằng giữa sự phát triển vật chất với sự giàu có của tinh thần. Đó là sự phát triển không chỉ nhằm tối đa hóa công năng mà còn để bảo vệ những nhu cầu rất cơ bản của con người: được nghỉ ngơi mà không bị thúc ép bởi thời gian, được hiện diện mà không bị sự bao vây của tiêu dùng, được gặp gỡ mà không cần phải có hiệu quả về kinh tế. Những điều tưởng như đơn giản ấy lại chính là nền tảng của đời sống đô thị bền vững.

Đô thị nhân văn còn là vấn đề công bằng không gian đô thị. Ai cũng có quyền tiếp cận những khoảng nghỉ, không phân biệt tuổi tác, thu nhập hay mục đích. Khi một thành phố chỉ còn lại những không gian phải trả tiền, phải có “đẳng cấp” mới được hiện diện thì nó đã loại trừ một phần lớn cư dân của mình ra khỏi trải nghiệm đô thị. Ngược lại, những không gian công cộng mở dù rất nhỏ chính là nơi mà mọi người có thể cùng hiện diện không phân biệt giàu nghèo, góp phần giảm bớt bất bình đẳng xã hội

Trong bối cảnh hiên tại và tương lai, những không gian như “công viên giọt nước” ở Lý Thái Tổ ý nghĩa vượt ra ngoài kích thước vật lý của nó, là biểu hiện một khả năng đặc biệt của đô thị: khả năng mềm hóa chính mình bằng những can thiệp nhỏ, tinh tế, đúng chỗ. Một hàng cây, một băng ghế, một khoảng bóng mát nếu được đặt đúng vào dòng chảy của đời sống thì có thể tạo ra những tác động tích cực lâu dài, vì chúng mang lại cho con người cảm giác mình được chấp nhận, được nghỉ ngơi, và được là một phần của thành phố theo cách rất riêng.

Một giọt nước nhỏ nhoi nhưng góp phần làm nên đại dương. Một khoảng lặng giản dị sẽ làm nên sức sống mới của thành phố. Người ta có thể đi rất nhanh qua một siêu đô thị nhưng để ở lại gắn bó, để nhớ và để thương thì cần những nơi cho phép mình được sống chậm, được là chính mình ngoài những nghĩa vụ và trách nhiệm. Đôi khi chỉ cần một “giọt nước” giữa ngày nắng gắt cũng đủ để ta nhớ rằng, thành phố này vẫn còn là nơi để sống hết mình chứ không chỉ là nơi để ta tồn tại.

 

TP. Hồ Chí Minh 20/3/2026. Nguyễn Thị Hậu 

Báo Sài Gòn giải phóng số 30/4/2026





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

    Ở thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường có vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại c...