Chủ Nhật, ngày 28 tháng 9 năm 2014

CẢNH QUAN ĐÔ THỊ SÀI GÒN – ĐƯỜNG TÔN ĐỨC THẮNG

Nguyễn Thị Hậu

Cảnh quan đô thị là một khái niệm rộng bao gồm các yếu tố cảnh quan tự nhiên (sông nước, địa hình, thảm thực vật tự nhiên…) và cảnh quan nhân văn (gồm quy hoạch, kiến trúc…), cùng với đó là các hoạt động xã hội có tác động và ảnh hưởng đến cảnh quan như thương mại, dịch vụ… Cảnh quan đô thị khu vực trung tâm luôn được coi là tiêu biểu, điển hình, đặc trưng cho lịch sử phát triển đô thị, đồng thời phản ánh thái độ của cộng đồng và chính quyền đô thị đối với lịch sử và văn hóa của đô thị đó.
Đặc điểm cảnh quan đô thị Sài Gòn, theo ý nghĩa trên, gồm 3 yếu tố là: 1/ đô thị sông nước (kinh tàu Hũ, Kinh Đôi, Kinh Tẻ, sông Bến Nghé, Rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè…); 2/đô thị kiểu phương tây (Các tuyến đường chính vuông góc hoặc song song với các con kinh rạch quan trọng tạo thành ô bàn cờ, khu vực trung tâm từng ô phố có chức năng chủ yếu như hành chính, thương mại dịch vụ, cư trú… đi cùng với đó là các kiểu kiến trúc phù hợp); và 3/ đô thị đa dạng văn hóa (có thể nhận biết các yếu tố văn hóa Việt – Hoa – Khmer, Pháp… trong di sản văn hóa vật thể và phi vật thể).
Cảnh quan kiến trúc khu vực Đồng Khởi – Tôn Đức Thắng – Hàm Nghi – Lê Thánh Tôn hội tụ đầy đủ cả ba yếu tố trên: sông nước, cây xanh, đường lớn, nhà đẹp, và là khu vực lâu đời nhất của đô thị Sài Gòn thời Nguyễn (Thành Gia định 1790) và thời Pháp (từ giữa thế kỷ XIX). Đây là “tâm” của khu vực trung tâm thành phố (quận 1 và một phần quận 3).
Đường Tôn Đức Thắng là một trong những tuyến cảnh quan điển hình này. Đây là con đường với cảnh quan bờ sông “trên bến dưới thuyền” dọc bến Bạch Đằng, điểm bắt đầu của các con đường lớn từ bờ sông đến khu trung tâm (Hàm Nghi, Nguyễn Huệ, Đồng Khởi). Trên con đường này có di tích Cột cờ Thủ Ngữ, có bến đò Thủ Thiêm nổi tiếng một thời, có tòa nhà trụ sở Hải Quan, khách sạn Majestic, khách sạn Riverside, công trường Mê Linh và tượng danh tướng Trần Hưng Đạo, Doanh trại Hải quân, công xưởng Ba Son, Các công trình tôn giáo như Đại chủng viện Thánh Jyse, Dòng kín Cát Minh, Tu viện Thánh Phaolo… Đặc biệt những hàng cây xanh hơn trăm năm trên đoạn đường này cũng như ở các con đường nhỏ gần đấy như Nguyễn Du, Nguyễn Trung Ngạn, Đồn Đất… làm nên một khoảng xanh rất đặc trưng “Sài Gòn”. Nó hòa hợp tuyệt vời với những công trình tôn giáo còn khá nguyên vẹn ở đây, tạo nên không khí trầm mặc, bình yên, cổ kính giữa một đô thị sôi động đêm ngày.
Dưới lòng đất đường Tôn Đức Thắng còn ẩn chứa nhiều di tích khảo cổ học của cảng thị Bến Nghé. Những năm 1990 - 2000 khi một số công trình bắt đầu xây dựng trên đoạn đường này, Bảo tàng lịch sử TPHCM đã khảo sát tại đây và thu tập được những sưu tập gốm sứ độc đáo, có nguồn gốc từ nhiều nơi, nhiều loại hình kiểu dáng, từ lò quan đến lò bình dân…
Với lịch sử hình thành lâu đời và những di sản văn hóa trên mặt đất, dưới lòng đất như vậy, đường Tôn Đức Thắng mang đặc thù của cảnh quan trung tâm đô thị Sài Gòn, cần thiết phải được bảo tồn và hết sức cân nhắc khi “can thiệp” vào khu vực này. Việc xây cầu Thủ Thiêm từ con đường này chắc chắn sẽ phá hủy cảnh quan và ảnh hưởng lớn đến những công trình kiến trúc ở đây, cũng đồng nghĩa với việc xóa bỏ một phần lịch sử đô thị Sài Gòn!
Nói đến cảnh quan đô thị là nói đến văn hóa đô thị, không chỉ là những thiết chế văn hóa mà còn là lối sống thị dân, với nghĩa vật chất và ý nghĩa tinh thần của khái niệm “sống”. Chính vì vậy trong những tiêu chí đánh giá “đô thị đáng sống” thì cảnh quan đô thị luôn là một tiêu chí quan trọng. Các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều coi việc bảo vệ, bảo tồn cảnh quan đô thị như là một nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền đô thị.
Trình độ dân trí và “quan trí” ở một đô thị, có thể nhận biết một cách khá chính xác, bằng thái độ ứng xử và việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị. Bởi vì một đô thị văn minh không chỉ có phương tiện giao thông, công trình hiện đại mà còn có và cần phải có cả chiều sâu lịch sử văn hóa.
(Người Đô Thị tháng 9/2014)

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 9 năm 2014

Vụn vặt đời thường (53)

CHƯƠNG TRÌNH GIAI ĐIỆU TỰ HÀO
"20h05 ngày 26/9 (thứ 6 tuần này) chương trình sẽ lên sóng VTV1. Xin được gửi Cô những hình ảnh trên sân khấu. Rất mong Cô chia sẻ cho bạn bè thông tin để mọi người dành thời gian theo dõi.
Phát chính: 20h05 ngày 26/9 (HÔM NAY) trên kênh VTV1
 Phát lại lần 1: 14h05 Thứ 5 tuần tiếp theo ngày 2/10 trên kênh VTV1.
Phát sóng lại lần 2: 14h05 chủ nhật tuần tiếp theo ngày 5/10 trên kênh VTV1" .
Trailer chính thức của chương trình:
http://www.youtube.com/watch?v=c6JabF718r0



HỘI NGHỊ KHẢO CỔ HỌC , HN 25/9/2014, với các đồng nghiệp :)


Thành cổ HN 24/9/2014


Phú Mỹ Hưng, q7 TPHCM 23/9/2014



Cuốn sách sắp phát hành, cuộc chơi của những người ĐÀN BÀ LIÊU XIÊU LẠI TIẾP TỤC. CÁC BẠN ỦNG HỘ NHÉ :)

Thứ Ba, ngày 23 tháng 9 năm 2014

Vụn vặt đời thường (52)

Hy vọng những công trình này tương lai sẽ không trở thành mô hình trong bảo tàng, như tòa nhà Hội trường Ba Đình chỉ còn là mô hình trong bảo tàng Quốc hội ở HN








Chủ Nhật, ngày 21 tháng 9 năm 2014

Con chuồn chuồn không buồn

.
Tạp bút – Nguyễn thị Hậu

Chiều đi làm về, trời chuyển mưa ầm ì. Bỗng đâu một đám chuồn chuồn sà xuống giữa dòng xe cộ đang bị kẹt trên đường như dòng nước đen tù hãm. Lâu lắm mới nhìn thấy “chuồn chuồn bay thấp thì mưa” như thế này.

Hồi còn nhỏ ở nông thôn rất thích dang nắng đi bắt chuồn chuồn. Những con chuồn chuồn lượn lờ ở vệ cỏ đường đi, ven bờ ao, nào chuồn chuồn ngô to đùng, chuồn chuồn ớt đỏ rực, chuồn chuồn kim bé xíu, chuồn chuồn bướm sặc sỡ… những đôi cánh mỏng nhẹ cứ thấp thóang trong dàn mướp, trong đám cỏ, trên mặt ao lặng thinh thỏang tiếng cá đớp mồi… Rón rén, con bé 6 tuổi từ Hà Nội sơ tán về nhón chân đến gần con chuồn chuồn… đôi khi nó như nhìn thấy chính nó trong cặp mắt lộ to của chuồn chuồn. Nhưng nó không biết nó hiện ra ngơ ngác trong cặp mắt chuồn chuồn tinh khôn. Nó không biết chuồn chuồn nhìn thấy nó đến gần, làm ra vẻ vô tư lự đứng im, để rồi khi nó nhón tay tưởng như đã chạm vào đôi cánh mỏng thì… chuồn chuồn nhẹ nhàng bay lên vượt ngòai tầm với…cô bé ngẩn ngơ…

Cũng có khi đang bậm môi rón rén thì bỗng từ đâu, một chiếc cần câu nhỏ xíu bằng cành tre từ từ hạ xuống, đầu có nhựa dính vào cánh chuồn, và tiếng cười đắc thắng của cậu bé đầu tóc cháy nắng hoe vàng làm cô bé chực trào nước mắt… Chuồn chuồn ơi, nhón tay bắt được chuồn chuồn cánh mỏng, cô bé nâng niu, nhưng mà bị cần câu dính nhựa từ xa thì thôi rồi, chuồn chuồn chỉ còn là mồi cho cá…
Nhưng mà chuồn chuồn lại không biết như thế… Vẫn lượn lờ lúc đậu lúc bay, vô tư, và vô tâm… Đấy là hồi bé, nghĩ thế…

2. Nhân chuyện từ ngữ bây giờ hay nói kiểu: “buồn như con chuồn chuồn”, hay “chán như con dán”… mới nhớ ra rằng, trong tâm thức người Việt hình ảnh con chuồn chuồn rất hay được nhắc đến. Ngoài câu tục ngữ trên còn một số câu nữa cũng khá quen thuộc: Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão/ Chuồn chuồn có cánh thì bay/ kẻo anh cu tí bắt mày đi tu . Rồi: chuồn chuồn đạp nước (hời hợt, qua loa), hay: tay bắt chuồn chuồn (sắp chết), rồi: ai biết đâu cái tổ con chuồn chuồn? và ngược lại là: biết tỏng cái tổ con chuồn chuồn rồi nhé!

Thử tìm hiểu thì biết rằng: Chuồn chuồn là loài sâu bọ cánh mỏng, có gân. Vòng đời của chuồn chuồn không dài chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn nhộng, ba năm ở dưới nước, giai đoạn trưởng thành hai tháng kiếm ăn trên cạn. Cuộc sống ở trên cạn, chuồn chuồn cũng có những cá tính khác thường: không ở đâu lâu một chỗ, mà cứ nay đây, mai đó, ngày bay, đêm nghỉ. Lại có những ngày chuồn chuồn rủ nhau tụ họp, bay dăng đầy sân, đầy bãi gây một ấn tượng rộn rã, bỗng chốc lại tan đàn, bay đi mất hút cả một mùa. Tất cả những lối sinh hoạt “thoắt đến thoắt đi” vừa nhìn thấy đã biến mất, vừa đến đã đi, sáng bay ra, tối đi hết, gây ra cảm nghĩ “không biết đâu mà lường”, “khó mà tìm cho được”.

Trong cách nghĩ dân gian, các loài có cánh đều làm tổ, đẻ trứng và nuôi con ở tổ, thế thì chuồn chuồn cũng phải có tổ để trú ngụ, đẻ trứng, nuôi con chứ! Chỉ có điều là, tổ chim nhìn thấy được mà tổ chuồn chuồn thì ở đâu, mà chẳng bao giờ nhìn thấy cả, cùng với lối sinh hoạt “nay đây mai đó”, “thoắt đến thoắt đi” của chuồn chuồn đã đưa liên tưởng con người đến với ý nghĩ về sự “bí ẩn”, “chẳng thể nào biết được”, từ đó mà có câu thành ngữ “cái tổ con chuồn chuồn” nói về cái ý đó, giống như cách nói “ai biết ma ăn cỗ” hay “ai biết ma ăn cỗ ở đâu”. Cái tổ con chuồn chuồn biểu trưng cho sự “bí ẩn”, “không thể biết”. Để diễn đạt ý về sự đã biết rõ, biết tường tận điều bí ẩn nào đó, người ta lại nói “biết tỏng cái tổ con chuồn chuồn rồi.”

Trong cuộc sống gia đình người vợ nào mà chẳng có lần nói với chồng “ai biết đâu cái tổ con chuồn chuồn”, có khi là đùa trêu, có khi là cảnh báo, cũng có khi là bóng gió “tôi biết rồi đấy!”. Ông chồng mà có “tật” chắc sẽ “giật mình”. Gia đình thì không phải là ao hồ để chuồn chuồn vui đến buồn đi, thích thì đẻ trứng xong rồi chả quan tâm đến nữa. Nhưng cũng không phải ngẫu nhiên mà gia đình được gọi là “tổ ấm”, nếu khi độc thân có thể “lang bang đây đó” thì khi có gia đình “tổ ấm” luôn là nơi mỗi người muốn quay về, kể cả khi có phạm lỗi lầm. Nhưng để có tổ ấm thì cả hai phải cùng chung tay gìn giữ, cùng tạo ra “cái tổ chuồn chuồn” thật sự để “chuồn chuồn có cánh” nhưng chẳng thể rày đây mai đó...

GĐ & PL 9/2014
Hình ảnh: Con chuồn chuồn không buồn.
Tạp bút – Nguyễn thị Hậu

Chiều đi làm về, trời chuyển mưa ầm ì. Bỗng đâu một đám chuồn chuồn sà xuống giữa dòng xe cộ đang bị kẹt trên đường như dòng nước đen tù hãm. Lâu lắm mới nhìn thấy “chuồn chuồn bay thấp thì mưa” như thế này.

Hồi còn nhỏ ở nông thôn rất thích dang nắng đi bắt chuồn chuồn. Những con chuồn chuồn lượn lờ ở vệ cỏ đường đi, ven bờ ao, nào chuồn chuồn ngô to đùng, chuồn chuồn ớt đỏ rực, chuồn chuồn kim bé xíu, chuồn chuồn bướm sặc sỡ… những đôi cánh mỏng nhẹ cứ thấp thóang trong dàn mướp, trong đám cỏ, trên mặt ao lặng thinh thỏang tiếng cá đớp mồi… Rón rén, con bé 6 tuổi từ Hà Nội sơ tán về nhón chân đến gần con chuồn chuồn… đôi khi nó như nhìn thấy chính nó trong cặp mắt lộ to của chuồn chuồn. Nhưng nó không biết nó hiện ra ngơ ngác trong cặp mắt chuồn chuồn tinh khôn. Nó không biết chuồn chuồn nhìn thấy nó đến gần, làm ra vẻ vô tư lự đứng im, để rồi khi nó nhón tay tưởng như đã chạm vào đôi cánh mỏng thì… chuồn chuồn nhẹ nhàng bay lên vượt ngòai tầm với…cô bé ngẩn ngơ…

Cũng có khi đang bậm môi rón rén thì bỗng từ đâu, một chiếc cần câu nhỏ xíu bằng cành tre từ từ hạ xuống, đầu có nhựa dính vào cánh chuồn, và tiếng cười đắc thắng của cậu bé đầu tóc cháy nắng hoe vàng làm cô bé chực trào nước mắt… Chuồn chuồn ơi, nhón tay bắt được chuồn chuồn cánh mỏng, cô bé nâng niu, nhưng mà bị cần câu dính nhựa từ xa thì thôi rồi, chuồn chuồn chỉ còn là mồi cho cá…
Nhưng mà chuồn chuồn lại không biết như thế… Vẫn lượn lờ lúc đậu lúc bay, vô tư, và vô tâm… Đấy là hồi bé, nghĩ thế…

 2. Nhân chuyện từ ngữ bây giờ hay nói kiểu: “buồn như con chuồn chuồn”, hay “chán như con dán”… mới nhớ ra rằng, trong tâm thức người Việt hình ảnh con chuồn chuồn rất hay được nhắc đến. Ngoài câu tục ngữ trên còn một số câu nữa cũng khá quen thuộc: Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão/ Chuồn chuồn có cánh thì bay/ kẻo anh cu tí bắt mày đi tu . Rồi: chuồn chuồn đạp nước (hời hợt, qua loa), hay: tay bắt chuồn chuồn (sắp chết), rồi: ai biết đâu cái tổ con chuồn chuồn? và ngược lại là: biết tỏng cái tổ con chuồn chuồn rồi nhé!

Thử tìm hiểu thì biết rằng: Chuồn chuồn là loài sâu bọ cánh mỏng, có gân. Vòng đời của chuồn chuồn không dài chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn nhộng, ba năm ở dưới nước, giai đoạn trưởng thành hai tháng kiếm ăn trên cạn. Cuộc sống ở trên cạn, chuồn chuồn cũng có những cá tính khác thường: không ở đâu lâu một chỗ, mà cứ nay đây, mai đó, ngày bay, đêm nghỉ. Lại có những ngày chuồn chuồn rủ nhau tụ họp, bay dăng đầy sân, đầy bãi gây một ấn tượng rộn rã, bỗng chốc lại tan đàn, bay đi mất hút cả một mùa. Tất cả những lối sinh hoạt “thoắt đến thoắt đi” vừa nhìn thấy đã biến mất, vừa đến đã đi, sáng bay ra, tối đi hết, gây ra cảm nghĩ “không biết đâu mà lường”, “khó mà tìm cho được”. 

Trong cách nghĩ dân gian, các loài có cánh đều làm tổ, đẻ trứng và nuôi con ở tổ, thế thì chuồn chuồn cũng phải có tổ để trú ngụ, đẻ trứng, nuôi con chứ! Chỉ có điều là, tổ chim nhìn thấy được mà tổ chuồn chuồn thì ở đâu, mà chẳng bao giờ nhìn thấy cả, cùng với lối sinh hoạt “nay đây mai đó”, “thoắt đến thoắt đi” của chuồn chuồn đã đưa liên tưởng con người đến với ý nghĩ về sự “bí ẩn”, “chẳng thể nào biết được”, từ đó mà có câu thành ngữ “cái tổ con chuồn chuồn” nói về cái ý đó, giống như cách nói “ai biết ma ăn cỗ” hay “ai biết ma ăn cỗ ở đâu”. Cái tổ con chuồn chuồn biểu trưng cho sự “bí ẩn”, “không thể biết”. Để diễn đạt ý về sự đã biết rõ, biết tường tận điều bí ẩn nào đó, người ta lại nói “biết tỏng cái tổ con chuồn chuồn rồi.”

Trong cuộc sống gia đình người vợ nào mà chẳng có lần nói với chồng “ai biết đâu cái tổ con chuồn chuồn”, có khi là đùa trêu, có khi là cảnh báo, cũng có khi là bóng gió “tôi biết rồi đấy!”. Ông chồng mà có “tật” chắc sẽ “giật mình”. Gia đình thì không phải là ao hồ để chuồn chuồn vui đến buồn đi, thích thì đẻ trứng xong rồi chả quan tâm đến nữa. Nhưng cũng không phải ngẫu nhiên mà gia đình được gọi là “tổ ấm”, nếu khi độc thân có thể “lang bang đây đó” thì khi có gia đình “tổ ấm” luôn là nơi mỗi người muốn quay về, kể cả khi có phạm lỗi lầm. Nhưng để có tổ ấm thì cả hai phải cùng chung tay gìn giữ, cùng tạo ra “cái tổ chuồn chuồn” thật sự để “chuồn chuồn có cánh” nhưng chẳng thể rày đây mai đó... 
 
GĐ & PL 9/2014

Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

Những cánh đồng vắng bóng nông dân


Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Cuối tháng Bảy. Trải dài những con đường tôi đi qua nước Pháp là cánh đồng mênh mông lúa mì đang vào mùa thu hoạch. Một màu vàng nâu ấm áp của ruộng lúa chín, của rơm được bó ép thành những cuộn tròn khối vuông rải rác trên đồng vắng lặng. Thi thoảng nhìn thấy một hai chiếc máy gặt liên hợp thong thả làm việc, vậy thôi, không thấy bóng dáng người nông dân nào dù những ngôi làng nhỏ liền kề cánh đồng vẫn đông người qua lại…

Mùa này cũng là mùa hướng dương nở rộ. Vẫn những cánh đồng vàng rực rỡ sáng chiều ngả theo ánh mặt trời. Vẫn thi thoảng có vài chiếc máy chạy giữa cánh đồng hoa bạt ngàn, và không thấy ai ngoại trừ người lái máy.
Cánh đồng khô ráo với những sắc vàng in trên nền trời xanh đắm đuối của mùa hè nước Pháp, khắp nơi là màu xanh của lá và sắc màu rực rỡ của hoa, từ thành phố đến nông thôn, từ dọc đường quốc lộ đến đường làng, từ ban công vỉa hè phố cổ đến khung cửa sổ ngôi nhà làng quê bình yên. Thiên nhiên khắp nơi, con người như lọt thỏm vào màu sắc và không khí trong lành tự nhiên, mặc dù đây đó vẫn những khối bê tông kính ốp cao lớn đồ sộ.

Có thể dễ dàng nhận ra một làng quê nước Pháp như ốc đảo xanh giữa cánh đồng vàng. Ở đó từ xa đã thấy nhô lên cao vút tháp chuông nhà thờ cổ, xây bằng đá xám xù xì hay bằng loại gạch đỏ son đều nhuộm màu thời gian trầm lắng, ở đó có tháp nước cao vượt trên những nóc nhà. Bây giờ nhiều nơi còn có vài chiếc quạt điện gió cao ngất ngưởng thong thả quay từng vòng… Nông thôn có lẽ chỉ khác thành phố là nhà trải dọc đường làng như xương cá, những ngôi nhà gạch nhà gỗ, rèm trắng nhẹ nhàng lay trên khóm hoa nhiều màu sắc. Tầng áp mái như những con mắt dõi theo khách qua đường. Đi qua những làng quê như vậy tôi nghĩ, chẳng cần gì hơn, kể cả internet, để có được một khoảng không gian yên ả tránh xa những bề bộn nơi thị thành.

Mùa hè, khách du lịch đông như kiến, ở Paris, ở Toulouse, ở bất cứ làng cổ hay lâu đài nào tôi đến. Không chỉ là khách du lịch nước ngoài, người Pháp cũng đi thăm quan chính nước mình, và cả nông dân cũng nghỉ hè đúng vào mùa thu hoạch lúa. Tại sao không, khi mà chỉ cần một chiếc máy đã thay thế cho hàng chục hàng trăm người nông dân?

Không chỉ nước Pháp, nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp từ lâu rồi, máy móc thay thế sức lao động của người, của trâu ngựa từ hàng chục năm nay. Nông dân, kể cả trồng lúa, trồng cây công nghiệp hay chăn nuôi, cũng từ lâu rồi làm việc như những người công nhân điều khiển máy móc chứ không còn phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Con đường hiện đại hóa ở nhiều nước có thể khác nhau ở ngành mũi nhọn, nhưng không nước nào không công nghiệp hóa từ nông nghiệp, bởi vì, có khi nào có nơi nào trên thế giới này loài người không cần lương thực và những nông sản khác?

Xe cứ chạy vút qua những cánh đồng nước Pháp vắng bóng nông dân. Nhớ thương quá chừng những cánh đồng mênh mông miền Tây Nam bộ cũng thưa thớt bóng nông dân… Thanh niên đổ lên thành phố và các khu công nghiệp-khu chế xuất hay đi làm thuê ở nước ngoài. Lúa cứ chín rục nhưng còn ai về gặt? Hạt lúa nuôi dân ta hơn bốn ngàn năm vẫn oằn lưng gánh bao trách nhiệm: xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, dự trữ lương thực… nhưng được trồng trên nhiều cánh đồng vẫn “con trâu đi trước cái cày đi sau”… Khu công nghiệp càng nhiều thì càng vắng bóng nông dân nhưng người đổ đến làm ở đó thì chưa hẳn là công nhân bởi rời đất ra họ đã có nghề nghiệp gì đâu.

Tỉnh nào cũng hiện đại hóa bằng khu công nghiệp nhiều ngành nghề dịch vụ nhưng hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực chế tạo sản xuất máy móc nông nghiệp. Chế tạo ra máy này máy kia là do những người nông dân ít học tự mày mò vì công việc làm ăn của chính họ thôi thúc, sản xuất thành công rồi đăng ký bản quyền sáng chế cũng còn lắm thủ tục nhiêu khê…

Thời kỳ văn minh Đông Sơn ở đồng bằng sông Hồng, nông nghiệp trồng lúa nước với kỹ thuật dùng cày và sức kéo của trâu, bò là kỹ thuật tiên tiến. Hơn bốn ngàn năm đã qua, hiện nay và nhiều thế kỷ nữa nước ta vẫn là một quốc gia Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn, đó là một “hằng số” kinh tế và văn hóa. Nếu không lấy NÔNG làm đầu và làm trọng tâm thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ không bao giờ đủ sức làm “đòn bẩy” cho sự phát triển của đất nước.

Mỗi chúng ta ai không có một nhà quê, ai không có gốc gác nông dân, ai không ước mơ một ngày nào đó trên những cánh đồng lưu vực sông Cửu Long, sông Hồng cũng sẽ vắng bóng nông dân, nhưng làng quê lúc đó sẽ trù phú khang trang hơn gấp nhiều lần, thế hệ nông dân mới sẽ có học thức không thua kém ai, và có thể họ cũng sẽ “rời xa mảnh đất của mình” nhưng không phải vì không còn đất mà vì họ đã có nghề nghiệp đủ sống đàng hoàng, nếu ở lại quê hương chí ít cũng trở thành công nhân nông nghiệp làm việc trên những chiếc máy cày máy cấy máy gặt liên hợp.
Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam xứng đáng và cần phải được như thế!

TBKTSG hôm nay 18/9/2014. Photo Hue Duong 

Hình ảnh: Những cánh đồng vắng bóng nông dân
Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Cuối tháng Bảy. Trải dài những con đường tôi đi qua nước Pháp là cánh đồng mênh mông lúa mì đang vào mùa thu hoạch. Một màu vàng nâu ấm áp của ruộng lúa chín, của rơm được bó ép thành những cuộn tròn khối vuông rải rác trên đồng vắng lặng. Thi thoảng nhìn thấy một hai chiếc máy gặt liên hợp thong thả làm việc, vậy thôi, không thấy bóng dáng người nông dân nào dù những ngôi làng nhỏ liền kề cánh đồng vẫn đông người qua lại…
 
Mùa này cũng là mùa hướng dương nở rộ. Vẫn những cánh đồng vàng rực rỡ sáng chiều ngả theo ánh mặt trời. Vẫn thi thoảng có vài chiếc máy chạy giữa cánh đồng hoa bạt ngàn, và không thấy ai ngoại trừ người lái máy.
Cánh đồng khô ráo với những sắc vàng in trên nền trời xanh đắm đuối của mùa hè nước Pháp, khắp nơi là màu xanh của lá và sắc màu rực rỡ của hoa, từ thành phố đến nông thôn, từ dọc đường quốc lộ đến đường làng, từ ban công vỉa hè phố cổ đến khung cửa sổ ngôi nhà làng quê bình yên. Thiên nhiên khắp nơi, con người như lọt thỏm vào màu sắc và không khí trong lành tự nhiên, mặc dù đây đó vẫn những khối bê tông kính ốp cao lớn đồ sộ.

Có thể dễ dàng nhận ra một làng quê nước Pháp như ốc đảo xanh giữa cánh đồng vàng. Ở đó từ xa đã thấy nhô lên cao vút tháp chuông nhà thờ cổ, xây bằng đá xám xù xì hay bằng loại gạch đỏ son đều nhuộm màu thời gian trầm lắng, ở đó có tháp nước cao vượt trên những nóc nhà. Bây giờ nhiều nơi còn có vài chiếc quạt điện gió cao ngất ngưởng thong thả quay từng vòng… Nông thôn có lẽ chỉ khác thành phố là nhà trải dọc đường làng như xương cá, những ngôi nhà gạch nhà gỗ, rèm trắng nhẹ nhàng lay trên khóm hoa nhiều màu sắc. Tầng áp mái như những con mắt dõi theo khách qua đường. Đi qua những làng quê như vậy tôi nghĩ, chẳng cần gì hơn, kể cả internet, để có được một khoảng không gian yên ả tránh xa những bề bộn nơi thị thành.

Mùa hè, khách du lịch đông như kiến, ở Paris, ở Toulouse, ở bất cứ làng cổ hay lâu đài nào tôi đến. Không chỉ là khách du lịch nước ngoài, người Pháp cũng đi thăm quan chính nước mình, và cả nông dân cũng nghỉ hè đúng vào mùa thu hoạch lúa. Tại sao không, khi mà chỉ cần một chiếc máy đã thay thế cho hàng chục hàng trăm người nông dân? 

Không chỉ nước Pháp, nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp từ lâu rồi, máy móc thay thế sức lao động của người, của trâu ngựa từ hàng chục năm nay. Nông dân, kể cả trồng lúa, trồng cây công nghiệp hay chăn nuôi, cũng từ lâu rồi làm việc như những người công nhân điều khiển máy móc chứ không còn phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Con đường hiện đại hóa ở nhiều nước có thể khác nhau ở ngành mũi nhọn, nhưng không nước nào không công nghiệp hóa từ nông nghiệp, bởi vì, có khi nào có nơi nào trên thế giới này loài người không cần lương thực và những nông sản khác?

Xe cứ chạy vút qua những cánh đồng nước Pháp vắng bóng nông dân. Nhớ thương quá chừng những cánh đồng mênh mông miền Tây Nam bộ cũng thưa thớt bóng nông dân… Thanh niên đổ lên thành phố và các khu công nghiệp-khu chế xuất hay đi làm thuê ở nước ngoài. Lúa cứ chín rục nhưng còn ai về gặt?  Hạt lúa nuôi dân ta hơn bốn ngàn năm vẫn oằn lưng gánh bao trách nhiệm: xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, dự trữ lương thực… nhưng được trồng trên nhiều cánh đồng vẫn “con trâu đi trước cái cày đi sau”… Khu công nghiệp càng nhiều thì càng vắng bóng nông dân nhưng người đổ đến làm ở đó thì chưa hẳn là công nhân bởi rời đất ra họ đã có nghề nghiệp gì đâu. 

Tỉnh nào cũng hiện đại hóa bằng khu công nghiệp nhiều ngành nghề dịch vụ nhưng hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực  chế tạo sản xuất máy móc nông nghiệp. Chế tạo ra máy này máy kia là do những người nông dân ít học tự mày mò vì công việc làm ăn của chính họ thôi thúc, sản xuất thành công rồi đăng ký bản quyền sáng chế cũng còn lắm thủ tục nhiêu khê… 

Thời kỳ văn minh Đông Sơn ở đồng bằng sông Hồng, nông nghiệp trồng lúa nước với kỹ thuật dùng cày và sức kéo của trâu, bò là kỹ thuật tiên tiến. Hơn bốn ngàn năm đã qua, hiện nay và nhiều thế kỷ nữa nước ta vẫn là một quốc gia Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn, đó là một “hằng số” kinh tế và văn hóa. Nếu không lấy NÔNG làm đầu và làm trọng tâm thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ không bao giờ đủ sức làm “đòn bẩy” cho sự phát triển của đất nước.

Mỗi chúng ta ai không có một nhà quê, ai không có gốc gác nông dân, ai không ước mơ một ngày nào đó trên những cánh đồng lưu vực sông Cửu Long, sông Hồng cũng sẽ vắng bóng nông dân, nhưng làng quê lúc đó sẽ trù phú khang trang hơn gấp nhiều lần, thế hệ nông dân mới sẽ có học thức không thua kém ai, và có thể họ cũng sẽ “rời xa mảnh đất của mình” nhưng không phải vì không còn đất mà vì họ đã có nghề nghiệp đủ sống đàng hoàng, nếu ở lại quê hương chí ít cũng trở thành công nhân nông nghiệp làm việc trên những chiếc máy cày máy cấy máy gặt liên hợp.
Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam xứng đáng và cần phải được như thế!

TBKTSG hôm nay 18/9/2014. Photo Hue Duong :)