Chủ Nhật, ngày 29 tháng 3 năm 2015

Vụn vặt đời thường (75)

@ Ông Lý Quang Diệu - người kiến lập nhà nước Singapore từ trần. Trên thế giới có nhiều quốc gia có được những nhà sáng lập như ông. Nhưng Ông còn có công lao “DỰNG NGƯỜI” để cho những người dân – như người dân của nhiều quốc gia ĐNA năm mươi năm trước - trở thành NGƯỜI SINGAPORE hiện nay: tự trọng, tử tế, tri thức, kỹ năng và hội nhập. Đó là suy nghĩ của mình sau nhiều lần đến quốc gia nhỏ bé mà có một tư thế rất đàng hoàng này.

@ Việc tịch thu tấm bảng “nội quy lạ” của quán Bún bò gân ở chung cư Tôn Thất Thuyết quận 4 TPHCM:
 Tôi ko nghĩ đây là “nội quy LẠ”, vì là nội quy tức là quy định chỉ trong “nội một phạm vi” nào đó, mà “phạm vi” nhỏ như cái quán, cái nhà thì vô thiên ở thành phố này, mà việc ra nội quy trong nhà trong quán thì ko ai cấm… như vậy chắc hẳn nếu có nội quy thì mỗi nhà mỗi quán ko nơi nào giống nhau vì nó phụ thuộc vào người ra nội quy muốn yêu cầu cái gì cho phù hợp với hoàn cảnh thậm chí sở thích của người ta. Như vậy chắc chắn nội quy mỗi nơi đều là LẠ so với nơi khác. Khi nhiều cái lạ như thế thì trở thành bình thường: đó là sự đa dạng , một thuộc tính của đời sống.

Riêng tôi cực kỳ thú vị với "Bảng nội quy" của ông chủ quán này. Đọc những nội quy này còn làm ngon miệng hơn nhiều kiểu vừa ăn vừa nghe chửi mắng của vài cái quán "nổi tiếng" khác.
Cho nên, coi đây là NỘI QUY LẠ là không đúng, mà lấy lý do LẠ để tịch thu lại càng sai. Vì cái “lạ” mà không gây hại cho bất cứ ai, còn hơn nhiều cái QUEN mà gây phiền hà cho bao nhiều người.

Đó là cái bảng quy định ngay cổng nhiều cơ quan công sở và tồn tại từ thời bao cấp đến nay: XUỐNG XE TẮT MÁY XUẤT TRÌNH GIẤY TỜ kèm theo bộ mặt hình sự tối tăm của nhiều ông bảo vệ thường trực. Xe máy xe đạp của người dân vào công sở thì rón rén rụt rè đi qua cái cổng bé tạo, còn xe hơi thì đường hoàng cổng chính lại được bảo vệ vội vã ra mở cổng nhất barie

Đề nghị hãy tịch thu và bỏ ngay những cái bảng quy định làm phiền và coi thường người dân như thế!

Và đề nghị thêm: mấy người đi tịch thu cái bảng nội quy ấy làm ơn có chút đầu óc hài hước. Ủa mà quên, người ta nói chỉ có người thông minh mới biết hài hước, đề nghị như vậy có cao quá không nhỉ?

Thứ Bảy, ngày 28 tháng 3 năm 2015

CHÚC MỪNG NGƯỜI "BẠN VỀ QUÊ Ở" :)



         Diễn từ nhân dịp nhận giải nghiên cứu của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh                                                                                                                                               Phạm Hoàng Quân

Kính thưa Bà Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh,
Kính thưa toàn thể quý vị.
    Tôi rất hân hạnh được dự buổi lễ trang trọng này, và cũng thật bối rối khi được quý vị trong Hội đồng xét tặng giải thưởng trao cho giải nghiên cứu Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Trước đây mấy hôm và cho đến giờ này tôi vẫn băn khoăn cảm thấy khó diễn đạt những suy nghĩ của mình thành lời lẽ sao cho phù hợp với khung cảnh này.
     Tôi có hơi bất ngờ khi những bài nghiên cứu lịch sử thuộc một chuyên đề rất khó đọc của một người có chuyên môn hẹp như tôi lại nhận được sự đánh giá tốt, được tiếp nhận rộng rãi thông qua giải thưởng này.
     Tôi được sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghiên cứu, bản thân lại không được may mắn học hành chính quy, chữ Hán và phương pháp nghiên cứu đều mài mò tự học. Ước nguyện của tôi lúc vào đời lại thiên về bộ môn mỹ thuật, một dịp tình cờ, tôi nhận viết một khảo cứu về lịch sử hội họa và thư pháp của Hoa kiều ở Sài Gòn- Chợ Lớn, những tưởng vì sự yêu thích nhất thời viết lách cho vui, không ngờ đó là điểm khởi đầu để tôi gắn với nghiệp nghiên cứu cho đến nay.
    Có lẽ một phần do cá tính, một phần do ảnh hưởng bởi đặc thù của bộ môn mỹ thuật, tôi đã chọn nghiên cứu độc lập làm hướng đi cho mình. Nhân đây tôi xin chia sẻ với quý vị đôi điều về những thuận lợi và trở ngại của một người nghiên cứu đơn độc.
    Có 3 điều rất hay. Đầu tiên là tôi không phải dự các buổi họp, không phải giao tiếp lễ lạt, có nghĩa là dành được hết thì giờ cho việc đọc sách, giữ được mạch suy nghĩ không bị gián đoạn. Kế đến là luôn được làm việc trong trạng thái không bị áp lực, không bị khống chế bởi thời gian, tôi được chủ động điều độ thời gian trong việc làm của mình. Điều hay thứ ba là tôi được chọn lĩnh vực hoặc đề tài mà mình thích nhất, và trong đề tài ấy tôi lại được tự xác định việc nào cần phải làm trước. Ba điều đơn giản vậy thôi nhưng tôi cảm thấy thật là hạnh phúc khi giữ được chúng.
    Cũng có nhiều trở ngại. Nghiên cứu độc lập phải đương đầu với không ít khó khăn, thứ nhất là chuyện giải quyết nhu cầu cuộc sống cơ bản, giải quyết được vấn đề này thì kế đến là tài liệu sách vở, tư liệu không phong phú dồi dào thì kiến thức hạn hẹp, làm sao nghiên cứu sâu. Mua sách thì tốn kém vô biên, hoàn cảnh của tôi nhiều lúc khát sách tợ như doanh nghiệp khát vốn, tuy nhiên lần hồi tích góp, bè bạn yểm trợ và cộng thêm sự hào phóng của nhiều thư viện điện tử quốc tế, vụ này cũng tạm ổn. Trở ngại vừa lớn vừa khó là việc tìm tài liệu ở thư viện công, nước ta trước giờ nói chung là khắt khe đối với những người không thuộc cơ quan nghiên cứu công, nên đã một thời gian dài tôi không được tham khảo nguồn này, gần đây tuy có được vài ngoại lệ, nhưng tiếc là những ngoại lệ này đến chậm. Những trở ngại ấy tuy không thể làm nản lòng, nhưng có điều đáng tiếc là một số công trình phải chịu mất nhiều thời gian hơn dự tính.
     Từ hoàn cảnh của mình, tôi thấy rằng dù cá nhân hay tập thể, muốn có thành tựu nghiên cứu tốt phải hội đủ 3 yếu tố là: sách, khả năng, và tinh thần khoa học, hay nói cách khác, sách cùng với tài liệu là vốn liếng cơ bản, khả năng là tay nghề là trình độ và tinh thần khách quan khoa học là không thiên về cảm tính hoặc bị chi phối bởi tinh thần dân tộc.  
     Trong lúc nghiên cứu về lịch sử biển Đông, tôi chỉ đơn thuần vì mục đích muốn biết rõ sự thật, vì tò mò, tôi tìm hiểu, kê cứu, hệ thống và đối chiếu so sánh nguồn sử liệu Trung Hoa chỉ để thỏa mãn ham muốn riêng, muốn hiểu biết cặn kẽ và tường tận những ghi chép trong sử liệu thực. Lúc đọc hiểu tư liệu cũng như lúc phân tích chuỗi sự kiện, tôi không nghĩ mình là người dân của một quốc gia nào, lúc này chỉ có tính khách quan của khoa học dẫn dắt. 
    Điều băn khoăn khó nói mà tôi cũng muốn chia sẻ là khi nhìn kỹ lại hoạt động học thuật sử học trong bối cảnh hiện nay, trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước, mà trong đó đáng ngại đáng lo nhất là chưa theo kịp trình độ của người Trung Quốc.
    Mấy mươi năm qua, nền sử học nước ta đã để quá nhiều khoảng trống trong nghiên cứu cơ bản, riêng ở lĩnh vực nghiên cứu biển Đông, giới sử học trong nước hầu như chưa làm tròn trách nhiệm ở nhiều mặt, chỉ lướt qua công việc dịch thuật, mà sản phẩm của nó là nguồn căn cứ thiết yếu trong nghiên cứu đối sánh, đã thấy còn quá nhiều điểm đáng lo ngại.
    Chúng ta chưa có một tổng tập bản dịch và chú giải tư liệu lịch sử Trung Quốc, nhằm để nắm rõ thực hư ý nghĩa của sử liệu;
    Chưa dịch công trình nghiên cứu tiêu biểu nào của học giới Trung Quốc hiện nay, nhằm để coi họ sử dụng, dẫn dụng tư liệu sử có đúng hay không, tài năng khả năng của họ đã tới chừng mức nào, phương pháp nghiên cứu của họ mới hay cũ, họ tiếp thu nghiên cứu bên ngoài tới đâu, họ đánh giá và nhận định ra sao về nguồn sử liệu Việt Nam, cách thức và lập luận của họ trong phản biện các nghiên cứu mới ở Việt Nam; Lại cũng chưa dịch hoặc dịch quá ít ỏi các bài viết, các sách nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc với Việt Nam, Trung Quốc với Đông Nam Á và phương Tây của các tác giả bên ngoài, kể từ thời Học viện Viễn Đông bác cổ đến nay, trong khi các nghiên cứu này chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan đã được phân tích, v.v;
    Chưa dịch các sách công cụ cơ bản phục vụ cho nghiên cứu, cụ thể là các sách thư mục, từ điển địa danh, từ điển lịch sử, từ điển địa lý, v.v.. do người Trung Quốc soạn, và mặt khác, cũng chưa thấy dịch hoặc giới thiệu, phổ biến những sách công cụ đồng dạng nói trên bằng Anh ngữ do học giới phương Tây biên soạn.
    Sự thiếu hụt kiến thức bên ngoài đã dẫn đến tình trạng giới sử học cứ mãi nói chuyện trong nhà. Trong khi ở Trung Quốc hiện nay, học giới đã tiến đến hình thành nhóm chuyên gia “dịch bình”, quy tụ những người vừa có nghiệp vụ nghiên cứu vừa rất giỏi ngoại ngữ, chuyên lo chuyện đọc và phê bình các bản dịch sách nghiên cứu sau xuất bản, họ muốn những công trình nghiên cứu tầm cỡ bên ngoài phải đến tay học giới trong nước bằng một bản dịch thật chuẩn xác thật hoàn hảo. Trong khi ở Campuchia hiện nay, ở nhà sách ngoại văn số 1 đường Norodom tại Phnom Penh, sách nghiên cứu sử nổi bật trong nhiều loại sách nghiên cứu khác, nhẩm tính số lượng nhiều hơn ở Sài Gòn gấp 7 hoặc 8 lần.
     Lịch sử học thuật sử học Việt Nam thật sự đã để lại nhiều khiếm khuyết, đã để xảy ra tình trạng thiếu hụt kiến thức nền trầm trọng đến mức báo động như hiện nay, lỡ lầm này buộc những người nghiên cứu sử phải nhận trách nhiệm. Trách nhiệm này là trách nhiệm đối với học thuật. Chừng nào mỗi người tâm huyết cùng nỗ lực chung tay khắc phục khiếm khuyết của quá khứ, thì nền sử học mới có thể lấy lại thăng bằng, chừng nào người nghiên cứu sử - bất kể công hay tư- ngoài sự miệt mài dốc sức và thú vui trong nghiên cứu còn nghĩ thêm một điều lấy cạnh tranh học thuật với bên ngoài làm trách nhiệm với đời sau, thì lúc ấy học thuật sử học mới có đà phấn phát.
     Theo kịp mặt bằng học thuật trong khu vực và thế giới có lẽ là mục tiêu không ngoài lý tưởng và ý nguyện của bậc tiền bối mà giải thưởng này vinh dự mang tên. Nên tôi nghĩ rằng, giải thưởng này đối với riêng tôi và học giới nói chung, ngoài sự biểu hiện mối cảm thông và sẻ chia trong tinh thần trách nhiệm của một bộ phận xã hội, nó còn là động lực thúc đẩy mỗi người đã chọn nghề nghiên cứu phải dốc tâm tận lực, nương theo khoa học để gặt hái tri thức cho mình và cho cộng đồng, để mỗi công trình được viết ra càng về sau càng có giá trị học thuật cao hơn và càng có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn.  

Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe.

 Xem thêm:







Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 2015

SÁCH MỚI ĐÂY Ạ - CÁC BẠN ỦNG HỘ NHÉ :)

http://www.nxbtre.com.vn/cach-nhau-chi-mot-giac-mo-tap-but.13121.5351.-1.128.aspx

Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu là người rất quen thuộc với những ai yêu quý và quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn. Từ góc nhìn của nghề nghiệp và bằng một tình yêu Sài Gòn sâu đậm nhưng cũng rất lãng mạn, những tản văn, tạp bút của chị đã giúp chúng ta nhìn thấy và cảm nhận được vẻ đẹp của thành phố và con người Sài Gòn đằng sau cuộc mưu sinh vội vã hàng ngày. Cách nhau chỉ một giấc mơ chính là mơ ước của mỗi người Sài Gòn làm sao giữ gìn hồn phố thị, là ký ức nhớ quê của những người miền Tây xa xứ, là tự vấn của thế hệ đi trước đã để lại gia tài văn hóa gì cho thế hệ sau.
Bạn có thể cùng mơ ước một điều gì đó với nhiều người khác, nhưng một giấc mơ, ngay cả về điều đó, thì nó chỉ là của riêng bạn mà thôi. Ký ức và những giấc mơ là tài sản quý giá của ta không ai có thể lấy đi được. Miễn là đừng đánh mất giấc mơ.




Ảnh của Nguyễn kc Hậu.



Thứ Ba, ngày 24 tháng 3 năm 2015

THƯ CHO CON DƯỚI CHÂN GIÁO ĐƯỜNG

http://laodong.com.vn/thu-gui-mot-nguoi/thu-cho-con-duoi-chan-giao-duong-306776.bld


Sáng nay có việc đi ngang Nhà thờ Đức Bà, mẹ chợt nhớ ra đã lâu mấy mẹ con mình chưa lang thang cà phê bệt ở công viên này để ngồi lặng trong lòng Sài Gòn bình yên một màu xanh của trời của lá, để ngắm đôi tháp chuông nhà thờ in trên nền mây trắng lang thang, và để chia sẻ hạnh phúc những lứa đôi đang rạng rỡ bên nhau chụp hình đám cưới bên “ngôi nhà của Chúa”. 
Có lẽ không có góc nào nhìn ngôi nhà thờ đẹp như từ công viên nhỏ này vì nhìn từ phía khác nhà thờ đã trở nên bé nhỏ bởi sau nó là những tòa nhà cao tầng ốp kính màu xanh chói nắng!

Cũng sáng nay khi đi qua đây, bất giác mẹ nhìn thấy bức tường nhà thờ chi chit những dòng chữ, hình vẽ bằng bút xóa màu trắng, nhiều đến nỗi mẹ không cần phải ngừng xe lại vẫn có thể đọc được. Rồi những rào chắn ở chỗ khuất của tường nhà thờ để ngăn việc xả rác hay tiểu tiện… Một cảm giác khó chịu rồi bực tức và cuối cùng là nỗi xót xa trào lên: Trời ơi, một di tích ngay trung tâm thành phố, ngay giữa đường phố mà vẫn bị vô tư bôi bẩn như vậy sao? Từ lúc nào bức tường gạch mòn dấu thời gian lại bị những dòng chữ, hình vẽ như những vệt bùn vấy bẩn lên chiếc áo khoác một màu đỏ tươi đẹp đẽ của nhà thờ?

Ngôi nhà thờ là một trong những công trình được xây dựng sớm nhất, vào khoảng cuối thế kỷ 19, là một trong những di sản văn hóa – kiến trúc tôn giáo của đô thị Sài Gòn, là nơi quen thuộc của bất cứ ai từng ở, từng đến Sài Gòn. Văn hóa – lịch sử của một đất nước là gì khác ngoài những di tích của các thời còn lưu lại? Và một đất nước, một cộng đồng có văn minh hay không chính là ở thái độ đối với di sản văn hóa của đất nước, cộng đồng mình, và của nhân loại.

Việc viết bậy vẽ bậy ở những di tích đã trở thành phổ biến ở nước ta, đâu cũng bắt gặp hiện tượng này, từ những hang động ở Vịnh Hạ Long, ở Phong Nha – kẻ Bàng… đến những đình chùa miếu, thậm chí trên cây cầu Long Biên cũng chi chit những dòng chữ nghệch ngoạc, không hiếm từ ngữ hình vẽ bậy bạ… mà chỉ cần nhìn qua ta có thể biết ‘chủ nhân” của nó là các bạn trẻ. Từ vô ý thức đến  vô văn hóa chỉ một bước chân thôi nhưng họ không biết dừng lại.

Có thể con sẽ nói “các bạn chỉ vô tình thôi, mẹ đừng từ góc độ nghề nghiệp bảo tồn di sản mà đánh giá nặng nề”. Không con ạ, hiện tượng này không phải là mới, nhiều người đã lên tiếng nhưng vẫn ngày càng phổ biến. Về đạo đức nó phản ánh xã hội không còn sự “khiêm cung” tối thiểu khi con người cho phép mình tùy tiện để lại “dấu ấn” trên di tích của ông cha. Con có còn nhớ xưa kia bà Hồ Xuân Hương đã từng mắng bọn học trò hãnh tiến: “muốn sống đem vôi quét trả đền!”.

Mẹ tin rằng không ai muốn mình bị coi là phường hãnh tiến, không ai muốn thành phố mình, đất nước mình bị đánh giá là không văn minh chỉ vì những hành xử vô văn hóa với di sản của cha ông.
Việc bảo tồn di tích và mỹ quan của đô thị chỉ có thể làm được bắt đầu từ ý thức của mỗi người. 

Mong rằng những người trẻ thường ngồi chơi ở công viên, thường chụp hình ở khu vực nhà thờ hãy không cho phép mình và bạn bè bôi bẩn lên nhà thờ hay bất cứ di tích nào, hãy cùng nhau làm sạch tường nhà thờ như  một hành động thiết thực “vì thành phố văn minh hiện đại” chứ đừng chỉ hô khẩu hiệu theo kiểu phong trào.

Sài Gòn 18/3/2015
Nguyễn Thị Hậu


Thứ Bảy, ngày 21 tháng 3 năm 2015

CÂY XANH - MỘT PHẦN DI SẢN ĐÔ THỊ


Nguyễn Thị Hậu
Trong đô thị - một không gian có giới hạn nhưng tập hợp nhiều yếu tố tự nhiên như sông rạch, đồi gò, rừng cây… và nhân văn như các công trình kiến trúc, cảnh quan nhân tạo… Tất cả đều liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đời sống của cư dân đô thị. Mỗi đô thị có cảnh quan đặc thù do vị trí địa lý, địa hình, lịch sử hình thành khác nhau, nhưng đều có một điểm chung như sợi dây nối liền và tạo ra sự hài hòa giữa tự nhiên và những gì nhân tạo, đó là hệ thống cây xanh đô thị. Vì vậy từ rất lâu trên thế giới đã coi cây xanh như là một thành tố của di sản văn hóa đô thị, vừa là vật thể bởi sự hiện hữu lâu đời và lợi ích của chúng, vừa là phi vật thể bởi cây xanh tạo nên những ký ức cá nhân và ký ức của cộng đồng. Cây xanh góp phần tạo nên bản sắc riêng của từng đô thị, và có thể nói, một bản sắc khó thay đổi dù đô thị đó có biến đổi đến đâu.
Từ nhiều năm nay những cụm từ như “bảo tồn di sản”, “di sản văn hóa”, “di sản đô thị”… đã phổ biến trong xã hội. Ai cũng biết bảo tồn di sản chính là gìn giữ mối liên hệ giữa quá khứ và tương lai thông qua những “vật chứng” như các di tích, di vật, lễ hội… thông qua ký ức lịch sử mà thế hệ trước di truyền cho thế hệ sau. Những “vật chứng” nếu thiếu đi cảm xúc của ký ức con người thì chỉ là những kiến trúc những sự kiện vô hồn; nhưng ký ức con người cũng cần sự tồn tại của “vật chứng” để bám rễ vào đó tạo nên sức sống lan truyền giá trị và tình yêu đối với di sản văn hóa. Cây xanh trong đô thị cũng là một phần của di sản đô thị văn hóa bởi lợi ích mà nó mang lại cho con người tuy vô hình nhưng không hề vô giá trị.
Cây xanh đô thị gắn liền với các tuyến phố tạo mảng xanh giữa những gạch đá bê tông thép kính, được coi như “lá phổi xanh” điều hòa không khí, tạo sự trong lành và tươi mát cho không gian hạn hẹp của đô thị. Sự sinh động muôn màu sắc hình dáng của cây xanh tạo nên vẻ đẹp tự nhiên mà không bàn tay con người nào có thể làm được. Một thành phố đẹp có thể nào thiếu cây xanh, công viên, thiếu mùa lá đâm chồi nảy lộc, thiếu mùa lá rụng như níu bước chân người qua?
Những hàng cây luôn gắn bó với những con đường, những ngôi nhà, với những con người thành phố.  Cảnh quan đô thị không thể thiếu những hàng cây cao vút toả bóng mát tạo khoảng xanh bình yên… Mỗi thành phố, vô tình hay hữu ý, có loại cây đặc trưng riêng, như Hải Phòng “thành phố hoa phượng đỏ”, Hà Nội “mùa hoa sữa”, Sài Gòn “cánh hoa dầu xoay tít bay bay”… Trải qua thời gian, môi trường biến đổi, đô thị phát triển, cây xanh trong thành phố trở thành chứng nhân của sự thay đổi ấy.
          Việc thay thế cây xanh là việc làm bình thường, nếu như nó được thực hiện như một công việc hàng ngày của cơ quan có trách nhiệm: theo dõi chăm sóc các loại cây theo đặc điểm của từng loại, khi cây “bị bệnh” thì thuốc men chạy chữa ngay – giống như di tích kiến trúc xuống cấp hư hỏng thì phải sửa chữa, trùng tu. Ngay cả việc xây dựng một công trình mới nếu liên quan đến số phận của nhiều cây xanh thì cũng cần cân nhắc, một mức độ nào đó cũng cân nhắc như phải di dời một tòa nhà cổ nhường chỗ cho công trình mới. Đấy là ở thời điểm hiện nay khi cây xanh đô thị được coi là một loại “cổ tích”, còn ngày trước người ta ứng xử thế nào với cây xanh đô thị?
Theo vài công trình nghiên cứu gần đây, từ khoảng giữa thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch  các đô thị ở Việt Nam thì họ đã tiến hành trồng cây xanh trên vỉa hè, đầu tiên là ở những tuyến phố chính rồi dần dần trên những tuyến đường khác. Như ở Sài Gòn cây trồng lấy từ vườn ươm trong vườn Bách Thảo (như vậy vườn Bách thảo không chỉ có chức năng như một công viên và bảo tồn những giống cây quý hiếm mà còn có chức năng nghiên cứu ươm trồng cây xanh đô thị - một chức năng mà đến giờ hình như đã bị chuyển giao cho cơ quan khác?). Việc trồng cây, tưới cây và chăm sóc hàng ngày được chính quyền giao cho cấp làng (như phường hiện nay) đảm nhiệm. Sau một thời gian chính quyền đô thị đã “rút kinh nghiệm” là loại cây nào phù hợp nhất, mật độ bao nhiêu thì vừa đủ với khí hậu ẩm thấp mưa nhiều…
 Cho đến đầu thế kỷ 20 nhiều con đường ở Sài Gòn đã có “thương hiệu riêng” từ những hàng cây trồng ở đó: đường cây me, cây sao, cây dầu… Một điều rất thú vị là ngay trong quá trình “thử nghiệm” việc đốn hạ loại cây nào cũng phải được Hội đồng thành phố quyết định dựa vào những phân tích khoa học và bằng chứng thực tế (như rễ cây ăn ngang phá hủy vỉa hè, lá và trái rụng nhiều vào mùa mưa làm dơ bẩn đường phố, cây lá quá rậm rạp làm ẩm ướt sinh sôi côn trùng…) nhưng chỉ thay thế dần dần hàng năm. Ngay cả vài loại cây rễ chùm rậm rạp như những cây da cổ, chính quyền cũng ngần ngại “để nghiên cứu tiếp” vì thấy dân chúng còn “mê tín” và có nhiều gắn bó (*).

Khi Hà Nội triển khai việc đốn chặt hàng loạt cây xanh trên nhiều tuyến phố chính, trong đó có những con đường “phố cổ” với hàng cây cao được trồng từ thời Pháp thuộc đến nay đã hàng trăm năm tuổi, là “chứng nhân” cho bao cuộc đời người Hà Nội, chứng kiến bao đổi thay thăng trầm của Thủ đô… Nhiều người, trong đó có tôi, chứng kiến hình ảnh hàng cổ thụ nằm rạp dưới những lưỡi cưa máy, dòng nhựa tuôn như nước mắt… thật không thể cầm lòng! Nhìn thấy đường phố trơ ra dưới những khối bê tông tôi không hình dung được mùa hè sắp tới Hà Nội sẽ ra sao trong cái oi nồng nắng gắt?
Một đô thị phát triển không thể thiếu đường giao thông hiện đại, thiếu nhà cao tầng thiếu những công trình đồ sộ. Nhưng một đô thị hiện đại văn minh cũng không thể vắng thiên nhiên mà cây xanh là yếu tố quan trọng nhất! Nếu thực sự vì con người xin hãy bảo vệ thiên nhiên! Khi con người biết yêu thiên nhiên thì sẽ biết yêu đồng loại!
Sài Gòn 21.3.2015
(*) Xem: Trần Hữu Quang, Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM 2012.