Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Vụn vặt đời thường (61)

@ Đối thoại Lục Thủy
Một đôi khoảng U60 đến ngồi bàn bên cạnh.
- Anh uống gi đi
- Ko ANH chả uống gì
-Ko anh uống gì đi chứ? A có Kem đấy ANH ăn kem nhé?
- Ko, tiểu đường ko ăn kem!
- Anh uống cà phê nhé.
- Giờ này uống cà phê ngang bụng. Em uống gì thì gọi đi
- em uống chè, ko phải nỉp tông mà Chè mạn. Bao tiền một ấm hả cháu?
- chúng cháu bán cốc chứ không có ấm ạ.
- ừ thế cho cô 2 cốc, anh uống chè nhé?
- ừ nói chuyện thì uống chè mới đúng...
Lúc ấy một đoàn xích lô lọng đỏ vàng đi qua.
Anh: - hí hí, chân ông kia đầy gân kìa, đạp thế thì khỏe phải biết. hí hí
Chị: - uh, hí hí

Chiều Lục Thủy vui hẳn :D

@ VTV 24 nên đi tìm giấy tờ cuả những ông bà khai giảm tuổi để tại chức lên chức "tiếp tục cống hiến" (cho cấp trên), nhá!






Thứ Sáu, ngày 14 tháng 11 năm 2014

TRUYỀN VÀ THÔNG


Nguyễn Thị Hậu

 Xét từ góc độ lịch sử, trong bất cứ thời đại nào cũng có 4 yếu tố cần và đủ để con người tạo nên sản phẩm vật chất, đó là: chất liệu, kỹ thuật, năng lượng và thông tin. Thông tin giữa vai trò liên kết và xuyên suốt 3 yếu tố kia, vì vậy thông tin luôn là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội. Nhu cầu rất cơ bản của con người và xã hội là quyền được thông tin và biết thông tin, Truyền thông không chỉ là “thông tin”, mà còn là sự giao lưu, giao tiếp, còn là sự bày tỏ, thể hiện con người cá nhân trong sự tương tác với cộng đồng và xã hội.

 Các kiểu truyền thông trong lịch sử: bằng bản thân con người có âm hiệu – ngôn ngữ; chỉ hiệu – hành động, hành vi; Có thêm công cụ phương tiện: bộ gõ, bộ hơi thay thế cho âm hiệu, các dấu hiệu, ký hiệu, hình vẽ rồi chữ viết ra đời, rồi hệ thống các biểu tượng, biểu trưng văn hóa… Phương tiện truyền thông và phương thức truyền thông thể hiện tốc độ phát triển của xã hội, ngày càng phong phú và hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, nhanh chóng, chính xác của xã hội lòai người.

Xã hội Việt Nam cổ truyền có 2 kiểu thông tin: Một là kiểu “kinh nghiệm chủ nghĩa”, phần lớn thông tin này là kinh nghiệm dân gian về thời tiết, về kỹ thuật lao động sản xuất, kinh nghiệm ứng xử trong cộng đồng… Lọai này được tích lũy dần theo thời gian, có sự trải nghiệm thực tế và “chuyển giao trực tiếp” từ thế hệ này sang thế hệ khác nên thông tin lọai này có giá trị lâu bền.

Kiểu thứ hai là thông tin “chính thống” liên quan đến việc quản lý nhà nước từ phía chính quyền. Lọai này được thông tin theo kiểu “mõ làng”. Đó là cơ chế chỉ có 1 lọai thông tin từ trên xuống, 1 chiều thông tin về nội dung, người tiếp nhận thông tin “bị động” vì chỉ có nghe chứ không có/ không được phản hồi, không được đối thọai để hiểu và chủ động tiếp nhận thông tin. Cách thông tin này không tạo điều kiện cho người ta giao tiếp, giao lưu để hiểu đúng, hiểu rõ thông tin mình đang tiếp nhận, càng không khuyến khích người ta bộc lộ chính kiến, ý kiến, quan điểm đối với những thông tin ấy.
Dễ hiểu, thông tin như vậy nên xã hội cổ truyền VN chậm thay đổi, chậm phát triển, ngay từ nền tảng quan trọng nhất là kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, ngàn đời vẫn là “con trâu đi trước cái cày theo sau” (và con người theo sau rốt!), và trên đó là cấu trúc nhà nước phong kiến theo khuôn mẫu có sẵn.
Cả hai lọai thông tin cổ truyền có cùng một phương thức chủ yếu: truyền miệng. Cơ chế thông tin truyền miệng có đặc điểm: trực tiếp mặt đối mặt, nói và nghe trực tiếp (câu thành ngữ “trăm nghe không bằng một thấy” cũng có hàm nghĩa này), dẫn đến việc tin người nói, chú ý đến người truyền đạt thông tin hơn là chính nội dung thông tin! Điều này có hai mặt: tiếp nhận thông tin ít khi suy xét, nhưng cũng có khi không coi trọng thông tin, nhất là khi không còn tin vào người truyền đạt thông tin, hệ quả của nó là xuất hiện thông tin không “chính thống”, đó là dư luận. Trong lịch sử VN đã có trường hợp dư luận được tận dụng tạo nên “sấm truyền”, đồng dao của trẻ nhỏ, những chuyện đồn thổi… dẫn đến một sự kiện lịch sử làm thay đổi xã hội.

Vì sao cơ chế thông tin truyền miệng, dư luận tồn tại lâu dài trong xã hội Việt Nam cổ truyền? Không thể không nói đến nguyên nhân là do chữ viết – phương tiện thông tin chủ yếu - không phổ biến do trước đây phần lớn dân chúng mù chữ hoặc ít chữ. Điều này làm cho dân chúng hầu như không quan tâm đến thông tin “đọc” mà thường chú ý đến thông tin “nghe”, vì thông tin “nghe” được diễn giải, diễn dịch dễ hiểu hơn (chưa nói đến mức độ chính xác) cùng với vai trò của “người truyền đạt” nên càng làm cho cách thông tin này được duy trì lâu dài. Nếu chú ý đến đặc điểm này những phương tiện truyền thông nghe nhìn sẽ phát huy tối đa hiệu quả thông tin (ngày nay chính là những tờ báo đã tạo dựng được uy tín trong đông đảo độc giả).

Hiện nay sự thay đổi trong ứng xử truyền thông khi chuyển từ truyền miệng sang thông tin đại chúng có liên quan chặt chẽ với những thay đổi khác về ứng xử trong xã hội. Trong xã hội hiện đại "một hệ thống truyền thông chính là một dấu chỉ đồng thời là một tác nhân của sự thay đổi trong toàn bộ một hệ thống xã hội". Nói khác đi, truyền thông đại chúng đã trở thành một trong những động lực của sự phát triển bởi nó thúc đẩy và nó cũng là biểu hiện của quá trình dân chủ trong xã hội. Những phương thức, phương tiện truyền thông mới  mang lại cho con người thông tin đa dạng, nhiều chiều, phong phú… tạo điều kiện cho con người bộc lộ ý kiến, quan điểm cá nhân, thể hiện quyền và trách nhiệm của mình với xã hội khi bộc lộ ý kiến, quan điểm của mình. Qua trao đổi, tranh luận con người cũng nâng cao hiểu biết và tri thức cho bản thân.

Truyền thông có vai trò quan trọng bởi thông tin mà nó mang lại chứ không phải bản thân thiết chế báo chí, truyền hình hay đài phát thanh…. Quyền lực của cơ quan truyền thông là ở quyền có thông tin và đưa thông tin nhanh chóng, chính xác và khách quan ra xã hội. Trong xã hội cần có nhiều phương tiện thông tin chia sẻ quyền lực này, tức là chia sẻ nguồn thông tin mang đến cho xã hội. Có như vậy truyền thông mới thực sự phát huy tốt vai trò của mình.


TBKTSG 13/11/2014

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 11 năm 2014

LINH TINH LANG TANG (95)


Đối với tôi, Đại Nam hay Bái Đính chỉ là khu vui chơi giải trí, mặc dù người ta gán cho nó nhiều/ vài ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng. Và những người dân đến đây cũng để giải trí là chính, bên cạnh đó cũng có một chút gọi là “tâm linh”. Vậy được rồi, ai thích thì đến không thích thì thôi, chẳng cần đòi hỏi “văn hóa Phật giáo” với lại “văn hóa truyền thống” làm gì, bởi ngay hai cái Công viên văn hóa dân tộc ở Đồng Mô (HN) và quận 9 (TPHCM) hàng bao nhiêu năm nay tốn bao nhiêu tiền của nhà nước – tức là tiền thuế của dân – cũng đã nên cơm cháo gì đâu! Tốn tiền nhưng dân không vào chơi thì có “văn hóa” đến mấy cũng vô ích!

Khu du lịch Đại Nam văn hiến tuyên bố đóng cứa. Tôi chắc nhiều người hiểu lý do thật sự của sự việc này cũng như sự thiệt thòi cho nhiều người dân không có nơi vui chơi hợp với sở thích, trình độ, nhất là rất nhiều em nhỏ sẽ không còn được mổ tim từ lợi nhuận của khu du lịch. Nhưng trên FB tôi đọc được nhiều stt, comts cho rằng “đóng cửa là đúng” với lý do chung là “lòe loẹt, không phải văn hóa truyền thống, thập cẩm, ko ra gì…” hoặc “Dũng lò vôi làm ăn kiểu của thiên trả địa…”. Chưa nói đến việc báo chí và nhiều người bất lịch sự đã gọi một cách xếch mé tên ông chủ khu du lịch Đại Nam thì tâm lý hả hê “cho mày chết” của số đông thật đáng sợ! Đúng là “Một con ngựa đau cả tàu đạp chết”!

Tôi  ko thích Đại Nam vì đơn giản là ko hợp "gu", nhưng ko vì thế mà muốn/đòi/ tước bỏ niềm vui của nhiều người dân. Cách tốt nhất là hãy xây nhiều khu giải trí mà tính chất văn hóa cao hơn, để dân có sự chọn lựa và nâng cao văn hóa.

Cũng trên FB tôi đọc được tin này: Một người Singapore bình thường , anh Gabriel, đã mở chiến dịch quyên góp trên mạng 1300 đola Sing để mua một Iphone 6 tặng một du khách người VN  đã bị cửa hàng của Mobile Air Pte.Ltd lừa. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 4/11 và dự định kéo dài 9 ngày nhưng chỉ mới MỘT ngày đã quyên được gần 5000 dola, gấp 3 lần số tiền cần thiết!

Mọi so sánh đều khập khiễng ít nhiều, nhưng không thể không liên tưởng hai cách hành xử này.
Phải chăng người ta LỚN MẠNH được từ những việc làm nhỏ bé, còn chúng ta mãi không thể lớn được vì những suy nghĩ nhỏ mọn như vậy?!

Xin được “nhại” lời nhà thơ Tản Đà “Dân chín mươi triệu ai người lớn/Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con” L



Thứ Tư, ngày 05 tháng 11 năm 2014

Vụn vặt đời thường (60)



@ Ông nghị Hoàng Hữu Phước lại một lần nữa, viết blog xúc phạm ĐBQH Trương Trọng Nghĩa. Tưởng sau lần xúc phạm ĐBQH Dương Trung Quốc, bị dư luận lên án, Phước đã phải xin lỗi thì ông ta cũng phải rút kinh nghiệm, ít nhất về ngôn từ khi phê phán người khác. Nhưng không, ông ta với "bản tính khó dời", có lẽ lần này chưa phải là lần cuối!

Phê phán thậm chí chỉ trích người khác quan điểm với mình là điều bình thường, rất nên làm nhất là trên nghị trường trong tiến trình xây dựng dân chủ. Nhưng không dám nói thẳng trước mặt mà nói "sau lưng" (viết blog cá nhân mà người bị / được phê phán chưa chắc biết cũng là một kiểu nói xấu sau lưng), dùng những từ ngữ cách nói không như một "người có học", quả thật ông nghị này "hết thuốc chữa"!

Đao to búa lớn không làm cho người ta trở nên "vĩ đại" nhưng sự hỗn hào nhỏ mọn thì làm lộ ngay ra nhân cách tầm thường, thậm chí là không còn nhân cách!

@ Sáng nay gặp lại một bạn học từ hồi lớp 12 ở Marie - Curie (75-76), nhận ra nhau ngày. Mình nhận ra bạn nhờ đôi lông mày rậm, bạn nhận ra mình nhờ... giọng HN (vì lúc đó mình vẫn còn đeo kính che khẩu trang)  . Gọi điện cho 1 bạn khác, bạn cũng nói ngay, "Hậu phải không, bao nhiêu năm giọng Hậu vẫn thế".
Ngày ấy, mình là "cô bắc kỳ" trong lớp 12 A. Chỉ học với nhau một năm thôi nhưng đấy là thời gian nhiều kỷ niệm và nhiều... nỗi nhớ 
Đã hẹn nhau sẽ liên lạc với các bạn khác và gặp nhau, gần 40 năm rồi đấy 
Trên FB này có bạn nào học lớp 12A (văn - sử - địa) trường Marie-Curie năm 75-76 không nhỉ 


@ Đúng 6 tháng nghỉ hưu thì bắt tay vào Công việc mới 


KHI ĐÀN BÀ “CHƠI” TRONG THẾ GIỚI ẢO


  
LÊ MINH QUỐC

1.
Nếu đọc từ dòng chữ thứ nhất đến dấu chấm cuối cùng, chẳng có một lúc nào há miệng ra cười toe toét, cười khà khà, cười khanh khách, cười nôn ruột… tôi tha thiết đề nghị bạn nên tìm gặp bác sĩ để khám xem sợi dây thần kinh cười của mình “có vấn đề” gì không?
Nếu khép lại trang sách, trong lòng không dạt dào niềm cảm hứng những muốn tung chăn đạp gối, lao ào ra bàn phím, ngay lập tức phải post một cái notes, status gì đó lên mạng xã hội cho thiên hạ “biết mặt chơi”, tôi da diết khuyến cáo bạn nên tự hỏi chính mình: “Ủa? Ta có làm sao không?”

2.

Sở dĩ, tôi quả quyết như lúc Võ Đông Sơn thề non hẹn biển với Bạch Thu Hà vì rất đơn giản, tập sách này “đọc được”. Được quá đi chứ, cả ba điệu nhảy từ Rock, Valse đến Lambada đều ấn tượng và điệu nghệ lắm. Dù viết bất kỳ đề tài nào, cả Beo Hồng, DoNa Đỗ Ngọc, Hậu Khảo Cổ cũng có cách trình bày dí dỏm, thông minh và tự trào.
Nói như thế mà nghe được à? Chẳng lẽ, cánh đàn ông không có những tố chất ấy khi “chơi” facebook sao? Thì có. Nhưng ở đây là những trang viết đã nhìn và lý giải vấn đề bằng cảm thức đàn bà, rất đàn bà mà đôi khi các đấng mày râu e ngại nói đến. Họ chả ngại gì. Viết như chơi. Như đùa. Đây là cảnh tân hôn cực kỳ XXX: “Đêm tân hôn. Chàng tắm táp trước rồi lăn ra ngủ.
Cô, từ nhà tắm bước vào. Một cảnh tượng kinh khiếp đập thẳng vào thần kinh.
Chàng, tênh hênh, trần như nhộng”. Chuyện gì xẩy ra? Đọc tiếp, sẽ rõ. Lại có gã đàn ông si tình đến lạ lùng: “Dẫn  đi ăn chè vỉa hè Yên Đổ, gọi mỗi một  cho mình. Khách đông, bà chủ gánh có ý lấy lại  ghế. Hắn cười hiền lành lót dép ngồi, chăm chú nhìn mình ăn. Mình vô tâm vô tính, không hề biết tiền Hắn chỉ  đủ trả cho 1 chén chè”. Thú vị chưa? Đôi khi chỉ một vài chữ, lại tạo nên một niềm xao xuyến không nguôi: “Lần đầu tiên đi thang máy, Thím tuột dép bỏ ngoài. Mắt thím khô không còn một giọt nước”. Một chi tiết đắc giá. Miêu tả tính cách nhân vật đấy ư? Không, Beo Hồng chỉ quan sát. Mà nói thật, sự quan sát của cô táo tợn lắm, không người nào, không chuyện gì mà cô không biếm nhẽ, cười cợt một cách thông minh và… đanh đá. Do đó, cô ưõn ngực: “Mình là đứa trẻ con không bao giờ lớn, đã thế lại bướng, người lớn bảo đừng chọc tay vào ổ điện thì chắc chắn mình sẽ chọc vào,  còn chọc nhiều lần chọc tức nữa cơ”. Nghe mà tức ói máu (!?). Chọn cách viết “đá giò lái” thâm hậu nên dù ngắn nhưng Beo Hồng cũng tạo được sự lôi cuốn như xem phim trinh thám!

Kế đến, DoNa Đỗ Ngọc lại tạo nên phong cách viết “thẳng ruột ngựa”, chẳng hoa hòe hoa sói nhưng hấp dẫn, có duyên - nhất là khi cô bình luận chuyện đàn ông - đàn bà: “Không, đàn bà thường không tự tin như đàn ông. Họ cũng ngại. Khi biết vợ ngoại tình, đàn ông thường cao thượng, họ ít dám uýnh tình địch mà uýnh vợ. Đàn bà hèn hơn, không thèm uýnh chồng, họ uýnh "con kia". Nghĩ lại đi, có đúng không? Lại nữa, chỉ đàn bà mới có thể rơi vào cảnh ngộ dở khóc dở cười: “Vé buffet khách sạn 5 sao giá triệu trở lên. Mà mẹ ơi, nàng ta lụa là khăn quàng lướt thướt đi lại, nhìn ngó lơ đãng, cảnh vẻ dao dĩa, hết cả buổi chỉ ăn đúng một con hàu, hai con sò huyết và ba lá xà lách. Báo hại mình vì lịch sự ăn cầm chừng, tối về phải xơi bù mì tôm Hảo Hảo ba ngàn/ gói, tiếc đau tiếc đớn bọn hàu, ghẹ nhập từ Alaska…Đứa nữa, ăn uống mỹ thuật lắm, nói tiếng Anh kêu bằng ít ạc. Vào nhà hàng, nó gọi chỉ một cái bánh ngọt Tiramisu, một ly cốc teo hay cà phê lơ doa hay trai lơ gì đó. Là bữa trưa của nó. Nó khiến mình mặc cảm phàm phu tục tử. Mỗi lần nó nhắn tin rủ đi ăn, mình thường nhắn lại “đang…họp”. Đọc mà tủm tỉm cười, bởi người đâu lại thật thà đến thế cơ chứ? Những chia sẻ, tâm sự này dù nhỏ nhưng tính cách nhân vật hiện lên rõ nét. Đọc chậm và nghĩ ngợi, đôi lúc bật cười khi nghe cô tâm sự: “Đàn bà nhẹ dạ lắm, chả thế mà có câu “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Chả thế mà giận nhau tưng bừng với chồng, nước mắt nước mũi ngập lụt, thậm chí bị các lão xáng cho bạt tai, đấm đá như võ sĩ Vovinam...thế mà nhẹ dạ khi các lão áp dụng nghệ thuật làm lành, dân số nước ta thế nào cũng thêm một trẻ”. Ai nhẹ dạ? Đàn ông hay đàn bà?

Vội gì phải đi tìm câu trả lời, cứ hỏi nhân vật kế tiếp là Hậu Khảo Cổ. Nói thế, bởi ở đây cũng là phong cách giàu tính hài hước, tự trào mà Hậu Khảo Cổ gọi “Vỉa hè tạp lục” - một cách nhễu nhại Phủ biên tạp lục của cụ Lê Quý Đôn đó chăng?
Có thể lắm chứ. “Thầy là người thông suốt quá khứ tương lai nên khi nhìn Lo, thầy phán rằng: nếu Lo chết lúc này kiếp sau sẽ cơ cấu thành hoa hậu, được quy họach làm phu nhơn một quan chức Bộ quản lý mạng miếc blog facebook… thường xuyên bị chặn bị kiểm soát bị tường lửa… Nghe vậy, Lo chợt tỉnh, thều thào: làm cách nào để không có cái Bộ quản không có lý ấy?”.  Đọc xong, bạn chọn kiểu cười gì? Lại nữa, ngày nọ hai mẹ con dạo quanh Hồ Gươm, “con gái nói một cách hết sức nghiêm túc: Mẹ, sau này mẹ già thì đừng ra đây mà tập thể dục nhé, làm xấu cả Hồ Gươm!”. Hậu Khảo Cổ à, trẻ con… thông minh quá đấy chứ! Rồi lại những chuyện khác như lúc cô lên miền Tây Bắc, mẩu đối  thoại giữa tài xế và hành khách nhộn nhạo, sinh động không thể tả. Cứ như xem một màn tấu hài giữa nghệ sĩ Hoài Linh với Thúy Nga trong đời thường.Và cũng không khác hai bồ tèo Hồng Beo, DoNa Đỗ Ngọc, có lúc Hậu Khảo Cổ cũng cao hứng bàn luận chuyện “thắc mắc biết hỏi ai” thật rôm rả: “Túm lại: Đàn ông hay nói/ kể tiếu lâm về… tình dục; đàn bà hay “tám” về (thói xấu) đàn bà khác. Nhưng mức độ “ác liệt”, nói nhiều nói to thì cả đàn ông và đàn bà như nhau. Hehe…”.
Túm lại, tôi cũng mạnh miệng, mồm mép tép nhảy mà rằng: “Một người một vẻ mười phân vẹn mười”.

3.
Trong thời buổi này, sách in ấn, phát hành ào ào như lá mùa thu. Tìm đọc một quyển sách ưng ý thật khó. Nếu là bạn, tôi chọn tập sách này đặng đọc rỉ rả, đọc kỹ, đọc nhiều lần, mỗi lần đọc vài trang và cười hé hé cho đỡ buồn.
Tôi thích ba tác giả này lúc đứng chung trong một tập sách, bởi họ không không cố ý phải làm văn, phải so so, phải cân nhắc, phải lựa chọn từng chữ mà họ chỉ viết theo mạch cảm xúc đang có. Nghĩ đến đâu, viết đến đó. Cảm xúc thế nào, viết ra thế ấy. Nghĩ cho cùng, đây cũng là một dạng viết của các tín đồ “chơi” facebook toàn cầu. Nhờ thế, các bài viết dù ngắn, dài vẫn có những chi tiết thật và đời. Không bịa thêm, không hư cấu mà tự nó đã hấp dẫn, có sức sống riêng. Ngay cả câu cú, ngôn từ, sử dụng chữ cũng khác với cách viết trên văn bản truyền thống. Sức mấy văn bản truyền thống chấp nhận kiểu bông lơn mà họ đã thể hiện trong thế giới ảo: “kệ mịa”, “xang chọng”, “like còm”, “hồi xoan”, “đẹp chai”, “nhíp da”, “nhà zăn nước goài”, “ziết zăn”, “đi học đàng goàng”, “zồng khoai”, “dek thèm” v.v…
Điều này không phải làm rối rắm tiếng Việt, bởi trong ngữ cảnh hài hước một cách thầm trầm, bông đùa một cách thân mật thì Beo Hồng, DoNa Đỗ Ngọc, Hậu Khảo Cổ đã cố tình sử dụng như một thủ pháp gây cười. Mà người ta chấp nhận được, không phải phàn nàn gì. Vui thôi mà. Đời sống thế giói mạng, dù muốn dù không, tự nó đã có những quy ước riêng trong phong cách thể hiện. Đố có văn bản hành chính nào có thể quy định, bắt buộc nổi rằng phải viết thế này, phải viết thế kia. Thì, cứ để xem “chữ nghĩa” ấy có tồn tại lâu dài hay không là chuyện khác. Trước mắt, ta bắt gặp vô số những cách nói ngộ nghĩnh như “phận giọng mỏng mông dày”; “biến cho nước dùng nó trong”, “món dở hơi biết bơi” (Beo Hồng); “người Kinh ta… kinh lắm”, “nhíp da là một em camera”, “quấy rối tình phi cơ”, “khi yêu ai chả ngu, nhưng ngu vì yêu cũng đáng” (DoNa Đỗ Ngọc); “đailim đập đít lên thành đờrim”, “một con ngựa đau cả tàu tiệt không con nào thèm bỏ cỏ”, “Đời chúng ta đâu có họp là ta cứ đi” (Hậu Khảo Cổ) v.v… Quái, đọc mà “phê như con tê tê” để rồi có lúc “cứng đơ như cây cơ”, phải không?
Thì đã nói rồi mà, ở đây, họ tiếu táo, tự trào và chẳng thèm dối lòng lúc bông đùa, ngẫm nghĩ và chia sẻ trong thế giới ảo.
Nhờ thế, trang viết có sức hấp dẫn riêng. Đôi lần, có những lúc cứ như cắn phải trái ớt cay xè mà vẫn bật lên tiếng cười thích thú.

Sài Gòn ngày 8 tháng 3 năm 2014
L.M.Q